- Udāna 6.1
Āyusaṅkhārossajjanasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Āyusaṅkhārossajjanasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Vesālī, Mahāvana (Đại Lâm), nơi giảng đường Kūṭāgāra. Khi ấy, vào buổi sáng đức Thế Tôn đã quấn y (nội), rồi cầm lấy bình bát và y đi vào thành Vesālī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở thành Vesālī, sau bữa ăn trong khi đi khất thực trở về, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng: “Này Ānanda, hãy lấy tấm lót ngồi. Chúng ta sẽ đi đến bảo điện Cāpāla để nghỉ trưa.” “Bạch Ngài, xin vâng.” Đại đức Ānanda nghe theo đức Thê Tôn đã cầm lấy tấm lót ngồi rồi nối tiếp theo sau đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã đi đến bảo điện Cāpāla, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được xếp đặt. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng: “Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu! Bảo điện Udena thật đáng yêu! Bảo điện Gotamaka thật đáng yêu! Bảo điện Sattamba thật đáng yêu! Bảo điện Bahuputta thật đáng yêu! Bảo điện Sārandada thật đáng yêu! Bảo điện Cāpāla thật đáng yêu! Này Ānanda, đối với người nào, bốn nền tảng của thần thông đã được tu tập, được thực hành thường xuyên, được tạo thành phương tiện, được tạo thành nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khởi đầu tốt đẹp, thì người ấy trong khi mong muốn có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp. Này Ānanda, đối với Như Lai, bốn nền tảng của thần thông đã được tu tập, được thực hành thường xuyên, được tạo thành phương tiện, được tạo thành nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khởi đầu tốt đẹp, này Ānanda, trong khi mong muốn Như Lai có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp.” Tuy nhiên, đại đức Ānanda trong khi được ra dấu hiệu rõ ràng, trong khi được làm biểu hiện rõ rệt bởi đức Thế Tôn như thế, đã không thể thấu hiểu, đã không cầu khẩn đức Thế Tôn rằng: “Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy tồn tại trọn kiếp, xin đấng Thiện Thệ hãy tồn tại trọn kiếp vì sự lợi ích cho nhiều người, vì sự an lạc cho nhiều người, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tấn hoá, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của chư Thiên và nhân loại,” như là có tâm đã bị Ma Vương xâm nhập.
Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng: “Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu! —như trên— Như Lai có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp.” Tuy nhiên, đại đức Ānanda —như trên— như là có tâm đã bị Ma Vương xâm nhập. Đến lần thứ ba, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng: “Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu! —như trên— Như Lai có thể tồn tại một kiếp hoặc hơn một kiếp.” Tuy nhiên, đại đức Ānanda —như trên— như là có tâm đã bị Ma Vương xâm nhập.
2. Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo đại đức Ānanda rằng: “Này Ānanda, ngươi hãy đi, ngươi hãy biết giờ này là thời điểm của việc nào.” “Bạch Ngài, xin vâng.” Đại đức Ānanda nghe theo đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi đã ngồi xuống ở gốc cây nọ ở nơi không xa.
3. Sau đó, khi đại đức Ānanda ra đi không bao lâu, Ma Vương ác độc đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, Ma Vương ác độc đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy viên tịch Niết Bàn, xin đấng Thiện Thệ hãy viên tịch Niết Bàn. Bạch Ngài, giờ đây là thời điểm viên tịch Niết Bàn của đức Thế Tôn. Bạch Ngài, hơn nữa lời nói này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này kẻ ác độc, Ta sẽ không viên tịch Niết Bàn khi nào các tỳ khưu của Ta còn chưa trở thành các Thinh Văn có kinh nghiệm, được huấn luyện, có tự tin, có sự an toàn đối với các trói buộc, nghe nhiều, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, đã thực hành đúng pháp và thuận pháp, đã thực hành đúng đắn, có sự hành xử theo pháp, sau khi học pháp từ thầy của mình sẽ thuật lại, sẽ thuyết giảng, sẽ quy định, sẽ thiết lập, sẽ khai mở, sẽ phân tích, sẽ làm rõ ràng, khi học thuyết của những kẻ khác đã được khởi lên thì sẽ khuất phục một cách khéo léo đúng theo Pháp và sẽ thuyết giảng Giáo Pháp có cả thần thông.’
Bạch Ngài, vả lại hiện nay các vị tỳ khưu Thinh Văn của đức Thế Tôn là có kinh nghiệm, được huấn luyện, có tự tin, có sự an toàn đối với các trói buộc, nghe nhiều, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, đã thực hành đúng pháp và thuận pháp, đã thực hành đúng đắn, có sự hành xử theo pháp, sau khi học pháp từ thầy của mình rồi thuật lại, thuyết giảng, quy định, thiết lập, khai mở, phân tích, làm rõ ràng, khi học thuyết của những kẻ khác đã được khởi lên thì khuất phục một cách khéo léo đúng theo Pháp và thuyết giảng Giáo Pháp có cả thần thông. Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy viên tịch Niết Bàn, xin đấng Thiện Thệ hãy viên tịch Niết Bàn. Bạch Ngài, giờ đây là thời điểm viên tịch Niết Bàn của đức Thế Tôn.
4. Bạch Ngài, hơn nữa lời nói này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này kẻ ác độc, Ta sẽ không viên tịch Niết Bàn khi nào các tỳ khưu ni của Ta còn chưa trở thành các Thinh Văn có kinh nghiệm, —như trên— có sự hành xử theo pháp, —như trên— sẽ thuyết giảng Giáo Pháp có cả thần thông.’ Bạch Ngài, vả lại hiện nay các vị tỳ khưu ni Thinh Văn của đức Thế Tôn là có kinh nghiệm, —như trên— thuyết giảng Giáo Pháp có cả thần thông. Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy viên tịch Niết Bàn, —như trên—.
Bạch Ngài, hơn nữa lời nói này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này kẻ ác độc, Ta sẽ không viên tịch Niết Bàn khi nào các nam cư sĩ của Ta còn chưa trở thành các Thinh Văn có kinh nghiệm, —như trên— có sự hành xử theo pháp, —như trên— sẽ thuyết giảng Giáo Pháp có cả thần thông.’ Bạch Ngài, vả lại hiện nay các vị tỳ khưu ni Thinh Văn của đức Thế Tôn là có kinh nghiệm, —như trên— thuyết giảng Giáo Pháp có cả thần thông. Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy viên tịch Niết Bàn, —như trên—.
5. Bạch Ngài, hơn nữa lời nói này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này kẻ ác độc, Ta sẽ không viên tịch Niết Bàn khi nào các nữ cư sĩ của Ta còn chưa trở thành các Thinh Văn có kinh nghiệm, —như trên— có sự hành xử theo pháp, —như trên— sẽ thuyết giảng Giáo Pháp có cả thần thông.’ Bạch Ngài, vả lại hiện nay các vị tỳ khưu ni Thinh Văn của đức Thế Tôn là có kinh nghiệm, —như trên— thuyết giảng Giáo Pháp có cả thần thông. Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy viên tịch Niết Bàn, —như trên—.
6. Bạch Ngài, hơn nữa lời nói này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này kẻ ác độc, Ta sẽ không viên tịch Niết Bàn khi nào Phạm hạnh này của Ta vẫn còn chưa được thành tựu, phát triển, phổ biến, phổ thông, trở nên phổ cập, và vẫn còn chưa được khéo giảng giải bởi loài người.’ Bạch Ngài, vả lại hiện nay Phạm hạnh của đức Thế Tôn không những được thành tựu, phát triển, phổ biến, phổ thông, trở nên phổ cập, mà còn được khéo giảng giải bởi loài người. Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn hãy viên tịch Niết Bàn, xin đấng Thiện Thệ hãy viên tịch Niết Bàn. Bạch Ngài, giờ đây là thời điểm viên tịch Niết Bàn của đức Thế Tôn.”
Khi được nói như vậy, đức Thế Tôn đã nói với Ma Vương ác độc điều này: “Này kẻ ác độc, ngươi hãy bình tĩnh. Không lâu nữa sẽ là sự viên tịch Niết Bàn của Như Lai. Từ nay cho đến hết ba tháng, Như Lai sẽ viên tịch Niết Bàn.” Khi ấy, ở tại bảo điện Cāpāla, đức Thế Tôn có niệm, có sự nhận biết rõ, đã buông bỏ thọ hành. Và khi đức Thế Tôn buông bỏ thọ hành, đã có sự lay động của đại địa cầu, làm kinh sợ, khiến dựng đứng lông; và các tiếng sấm trời đã bùng nổ.
7. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Trong khi cân nhắc Niết Bàn và nguồn sanh khởi (của hữu), bậc hiền trí đã buông bỏ sự tạo tác dẫn đến hữu. Thích thú ở nội tâm, được định tĩnh, người đã phá tan nguồn sanh khởi của tự ngã, tựa như phá tan tấm áo giáp.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Āyusaṅkhārossajjana
51. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Vesālī, tại Mahāvana, trong Kūṭāgārasālā. Lúc bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đã đắp y, mang bát, đi vào thành Vesālī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Vesālī, sau bữa ăn, trên đường từ nơi khất thực trở về, Ngài gọi Tôn giả Ānanda: ‘Này Ānanda, hãy lấy tọa cụ. Chúng ta sẽ đi đến Cāpāla cetiya để nghỉ ban ngày.’
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā nisīdanaṁ ādāya bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi. Atha kho bhagavā yena cāpālaṁ cetiyaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“Yes, sir,” replied Ānanda. Taking his sitting cloth he followed behind the Buddha. Then the Buddha went up to the Cāpāla Shrine, where he sat down on the seat spread out. When he was seated he said to Venerable Ānanda:
“Vâng, bạch Thế Tôn.” Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, lấy tọa cụ và đi theo sau lưng Thế Tôn. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đi đến Cāpāla cetiya; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda:
“Ramaṇīyā, ānanda, vesālī; ramaṇīyaṁ udenaṁ cetiyaṁ; ramaṇīyaṁ gotamakaṁ cetiyaṁ; ramaṇīyaṁ sattambaṁ cetiyaṁ; ramaṇīyaṁ bahuputtaṁ cetiyaṁ; ramaṇīyaṁ sārandadaṁ cetiyaṁ; ramaṇīyaṁ cāpālaṁ cetiyaṁ. Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno (…) kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā. Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. Ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā”ti.
“Ānanda, Vesālī is lovely. And the Udena, Gotamaka, Seven Maidens, Many Sons, Sārandada, and Cāpāla Shrines are all lovely. Whoever has developed and cultivated the four bases of psychic power—made them a vehicle and a basis, kept them up, consolidated them, and properly implemented them—may, if they wish, live for the proper lifespan or what’s left of it. The Realized One has developed and cultivated the four bases of psychic power, made them a vehicle and a basis, kept them up, consolidated them, and properly implemented them. If he wished, the Realized One could live for the proper lifespan or what’s left of it.”
“Này Ānanda, Vesālī thật khả ái; Udena cetiya thật khả ái; Gotamaka cetiya thật khả ái; Sattamba cetiya thật khả ái; Bahuputta cetiya thật khả ái; Sārandada cetiya thật khả ái; Cāpāla cetiya thật khả ái. Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập, thực hành nhiều lần bốn thần túc, làm cho chúng như cỗ xe, làm cho chúng như nền tảng, thiết lập, tích lũy, và khéo khởi sự, người ấy nếu muốn, có thể sống đến hết kiếp hoặc hơn một kiếp. Này Ānanda, Như Lai đã tu tập, thực hành nhiều lần bốn thần túc, làm cho chúng như cỗ xe, làm cho chúng như nền tảng, thiết lập, tích lũy, và khéo khởi sự. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến hết kiếp hoặc hơn một kiếp.”
Evampi kho āyasmā ānando bhagavatā oḷārike nimitte kayiramāne, oḷārike obhāse kayiramāne, nāsakkhi paṭivijjhituṁ; na bhagavantaṁ yāci: “tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ; tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti, yathā taṁ mārena pariyuṭṭhitacitto. Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
But Ānanda didn’t get it, even though the Buddha dropped such an obvious hint, such a clear sign. He didn’t beg the Buddha, “Sir, may the Blessed One please remain for the proper lifespan! May the Holy One please remain for the proper lifespan! That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.” For his mind was as if possessed by Māra. For a second time … For a third time, the Buddha said to Ānanda:
Dù Thế Tôn đã đưa ra một dấu hiệu rõ ràng, một gợi ý rõ ràng như vậy, Tôn giả Ānanda vẫn không thể thấu hiểu; ngài đã không thỉnh cầu Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy trụ thế đến hết kiếp; xin Thiện Thệ hãy trụ thế đến hết kiếp, vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích, hạnh phúc cho chư thiên và loài người,’ vì tâm trí ngài đã bị Ma vương ám ảnh. Lần thứ hai... Lần thứ ba, Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda:
“Ramaṇīyā, ānanda, vesālī; ramaṇīyaṁ udenaṁ cetiyaṁ; ramaṇīyaṁ gotamakaṁ cetiyaṁ; ramaṇīyaṁ sattambaṁ cetiyaṁ; ramaṇīyaṁ bahuputtaṁ cetiyaṁ; ramaṇīyaṁ sārandadaṁ cetiyaṁ; ramaṇīyaṁ cāpālaṁ cetiyaṁ. Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā. Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. Ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā”ti.
“Ānanda, Vesālī is lovely. And the Udena, Gotamaka, Seven Maidens, Many Sons, Sārandada, and Cāpāla Shrines are all lovely. Whoever has developed and cultivated the four bases of psychic power—made them a vehicle and a basis, kept them up, consolidated them, and properly implemented them—may, if they wish, live for the proper lifespan or what’s left of it. The Realized One has developed and cultivated the four bases of psychic power, made them a vehicle and a basis, kept them up, consolidated them, and properly implemented them. If he wished, the Realized One could live for the proper lifespan or what’s left of it.”
“Này Ānanda, Vesālī thật khả ái; Udena cetiya thật khả ái; Gotamaka cetiya thật khả ái; Sattamba cetiya thật khả ái; Bahuputta cetiya thật khả ái; Sārandada cetiya thật khả ái; Cāpāla cetiya thật khả ái. Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập, thực hành nhiều lần bốn thần túc, làm cho chúng như cỗ xe, làm cho chúng như nền tảng, thiết lập, tích lũy, và khéo khởi sự, người ấy nếu muốn, có thể sống đến hết kiếp hoặc hơn một kiếp. Này Ānanda, Như Lai đã tu tập, thực hành nhiều lần bốn thần túc, làm cho chúng như cỗ xe, làm cho chúng như nền tảng, thiết lập, tích lũy, và khéo khởi sự. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến hết kiếp hoặc hơn một kiếp.”
Evampi kho āyasmā ānando bhagavatā oḷārike nimitte kayiramāne, oḷārike obhāse kayiramāne, nāsakkhi paṭivijjhituṁ; na bhagavantaṁ yāci: “tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ; tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti, yathā taṁ mārena pariyuṭṭhitacitto.
But Ānanda didn’t get it, even though the Buddha dropped such an obvious hint, such a clear sign. He didn’t beg the Buddha, “Sir, may the Blessed One please remain for the proper lifespan! May the Holy One please remain for the proper lifespan! That would be for the welfare and happiness of the people, out of sympathy for the world, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.” For his mind was as if possessed by Māra.
Dù cho đức Thế Tôn đã tạo ra tướng mạo thô thiển, đã tạo ra ánh sáng thô thiển như vậy, nhưng Tôn giả Ānanda đã không thể thấu hiểu; đã không thỉnh cầu đức Thế Tôn rằng: ‘Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy trụ thế một kiếp; xin đức Thiện Thệ hãy trụ thế một kiếp vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và nhân loại,’ do tâm trí bị Ác ma ám ảnh.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi: “gaccha tvaṁ, ānanda, yassadāni kālaṁ maññasī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā avidūre aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi.
Then the Buddha said to Venerable Ānanda, “Go now, Ānanda, at your convenience.” “Yes, sir,” replied Ānanda. He rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before sitting at the root of a tree close by.
Rồi đức Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: ‘Này Ānanda, ngươi hãy đi, nay ngươi hãy xem là đã đến lúc.’ ‘Xin vâng, bạch ngài.’ Tôn giả Ānanda đã vâng lời đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh phía bên phải, rồi ngồi xuống dưới một gốc cây không xa.
Atha kho māro pāpimā, acirapakkante āyasmante ānande, yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho māro pāpimā bhagavantaṁ etadavoca:
And then, not long after Ānanda had left, Māra the Wicked went up to the Buddha, stood to one side, and said to him:
Rồi, không lâu sau khi Tôn giả Ānanda đã đi, Ác ma Māra đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, nó đứng một bên. Đứng một bên, Ác ma Māra đã nói với đức Thế Tôn điều này:
“Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā; parinibbātu sugato; parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato. Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā: ‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi yāva me bhikkhū na sāvakā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessantī’ti. Etarahi kho pana, bhante, bhikkhū bhagavato sāvakā viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhanti desenti paññapenti paṭṭhapenti vivaranti vibhajanti uttānīkaronti uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desenti. Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā; parinibbātu sugato; parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā:
“May the Blessed One now be fully extinguished! May the Holy One now be fully extinguished! Now is the time for the full extinguishment of the Buddha. Sir, you once made this statement: ‘Wicked One, I shall not be fully extinguished until I have monk disciples who are competent, educated, assured, learned, have memorized the teachings, and practice in line with the principle of the teaching. Not until they practice properly, living in line with the teaching. Not until they’ve learned their own denomination, and explain, teach, assert, establish, disclose, analyze, and make it clear. Not until they can legitimately and completely refute the doctrines of others that come up, and teach with a demonstrable basis.’ Today you do have such monk disciples. May the Blessed One now be fully extinguished! May the Holy One now be fully extinguished! Now is the time for the full extinguishment of the Buddha.
Sir, you once made this statement:
‘Bạch ngài, nay xin đức Thế Tôn hãy nhập Vô dư Niết bàn; xin đức Thiện Thệ hãy nhập Vô dư Niết bàn; bạch ngài, nay là thời điểm để đức Thế Tôn nhập Vô dư Niết bàn. Bạch ngài, lời này đã được đức Thế Tôn nói ra: ‘Này Ác ma, Ta sẽ chưa nhập Vô dư Niết bàn cho đến khi các vị tỳ khưu đệ tử của Ta chưa trở thành những người thuần thục, khéo huấn luyện, dạn dĩ, đa văn, trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp; sau khi đã học thuộc giáo lý của bậc thầy mình, họ chưa có thể giải thích, thuyết giảng, trình bày, thiết lập, khai mở, phân tích, làm cho sáng tỏ; sau khi đã dùng chánh pháp để khéo léo nhiếp phục tà thuyết của người khác đã khởi lên, họ chưa có thể thuyết giảng giáo pháp có kèm theo sự kỳ diệu.’ Bạch ngài, nhưng hiện nay các vị tỳ khưu đệ tử của đức Thế Tôn đã là những người thuần thục, khéo huấn luyện, dạn dĩ, đa văn, trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp; sau khi đã học thuộc giáo lý của bậc thầy mình, họ có thể giải thích, thuyết giảng, trình bày, thiết lập, khai mở, phân tích, làm cho sáng tỏ; sau khi đã dùng chánh pháp để khéo léo nhiếp phục tà thuyết của người khác đã khởi lên, họ có thể thuyết giảng giáo pháp có kèm theo sự kỳ diệu. Bạch ngài, nay xin đức Thế Tôn hãy nhập Vô dư Niết bàn; xin đức Thiện Thệ hãy nhập Vô dư Niết bàn; bạch ngài, nay là thời điểm để đức Thế Tôn nhập Vô dư Niết bàn.
‘Bạch ngài, lời này đã được đức Thế Tôn nói ra: ‘Này Ác ma, Ta sẽ chưa nhập Vô dư Niết bàn cho đến khi các vị tỳ khưu ni đệ tử của Ta chưa trở thành những người thuần thục, khéo huấn luyện, dạn dĩ, đa văn, trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp; sau khi đã học thuộc giáo lý của bậc thầy mình, họ chưa có thể giải thích, thuyết giảng, trình bày, thiết lập, khai mở, phân tích, làm cho sáng tỏ; sau khi đã dùng chánh pháp để khéo léo nhiếp phục tà thuyết của người khác đã khởi lên, họ chưa có thể thuyết giảng giáo pháp có kèm theo sự kỳ diệu.’ Bạch ngài, nhưng hiện nay các vị tỳ khưu ni đệ tử của đức Thế Tôn đã là những người thuần thục, khéo huấn luyện, dạn dĩ, đa văn, trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp; sau khi đã học thuộc giáo lý của bậc thầy mình, họ có thể giải thích, thuyết giảng, trình bày, thiết lập, khai mở, phân tích, làm cho sáng tỏ; sau khi đã dùng chánh pháp để khéo léo nhiếp phục tà thuyết của người khác đã khởi lên, họ có thể thuyết giảng giáo pháp có kèm theo sự kỳ diệu. Bạch ngài, nay xin đức Thế Tôn hãy nhập Vô dư Niết bàn; xin đức Thiện Thệ hãy nhập Vô dư Niết bàn; bạch ngài, nay là thời điểm để đức Thế Tôn nhập Vô dư Niết bàn.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā: ‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi yāva me upāsakā na sāvakā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessantī’ti. Etarahi kho pana, bhante, upāsakā bhagavato sāvakā viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhanti desenti paññapenti paṭṭhapenti vivaranti vibhajanti uttānīkaronti uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desenti. Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā; parinibbātu sugato; parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
‘Wicked One, I shall not be fully extinguished until I have layman disciples who are competent, educated, self-assured, learned …’ Today you do have such layman disciples.
‘Bạch ngài, lời này đã được đức Thế Tôn nói ra: ‘Này Ác ma, Ta sẽ chưa nhập Vô dư Niết bàn cho đến khi các vị nam cư sĩ đệ tử của Ta chưa trở thành những người thuần thục, khéo huấn luyện, dạn dĩ, đa văn, trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp; sau khi đã học thuộc giáo lý của bậc thầy mình, họ chưa có thể giải thích, thuyết giảng, trình bày, thiết lập, khai mở, phân tích, làm cho sáng tỏ; sau khi đã dùng chánh pháp để khéo léo nhiếp phục tà thuyết của người khác đã khởi lên, họ chưa có thể thuyết giảng giáo pháp có kèm theo sự kỳ diệu.’ Bạch ngài, nhưng hiện nay các vị nam cư sĩ đệ tử của đức Thế Tôn đã là những người thuần thục, khéo huấn luyện, dạn dĩ, đa văn, trì pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp; sau khi đã học thuộc giáo lý của bậc thầy mình, họ có thể giải thích, thuyết giảng, trình bày, thiết lập, khai mở, phân tích, làm cho sáng tỏ; sau khi đã dùng chánh pháp để khéo léo nhiếp phục tà thuyết của người khác đã khởi lên, họ có thể thuyết giảng giáo pháp có kèm theo sự kỳ diệu. Bạch ngài, nay xin đức Thế Tôn hãy nhập Vô dư Niết bàn; xin đức Thiện Thệ hãy nhập Vô dư Niết bàn; bạch ngài, nay là thời điểm để đức Thế Tôn nhập Vô dư Niết bàn.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā: ‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi yāva me upāsikā na sāvikā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessantī’ti. Etarahi kho pana, bhante, upāsikā bhagavato sāvikā viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhanti desenti paññapenti paṭṭhapenti vivaranti vibhajanti uttānīkaronti uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desenti. Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā; parinibbātu sugato; parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
‘Wicked One, I shall not be fully extinguished until I have laywoman disciples who are competent, educated, self-assured, learned …’ Today you do have such laywoman disciples. May the Blessed One now be fully extinguished! May the Holy One now be fully extinguished! Now is the time for the full extinguishment of the Buddha.
“Bạch Thế Tôn, lời này đã được Thế Tôn nói ra: ‘Này Pāpima, Ta sẽ chưa nhập Vô Dư Niết-bàn chừng nào các nữ cận sự của Ta chưa trở thành những đệ tử thuần thục, khéo huấn luyện, tự tin, đa văn, hộ trì Chánh pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp; sau khi học được giáo lý của bậc Đạo sư, có thể tuyên bố, giảng dạy, trình bày, thiết lập, khai thị, phân tích, làm cho sáng tỏ; và sau khi dùng Chánh pháp để khéo léo nhiếp phục các tà thuyết đã khởi lên, có thể thuyết giảng pháp mầu nhiệm.’ Bạch Thế Tôn, nay các nữ cận sự của Thế Tôn đã là những đệ tử thuần thục, khéo huấn luyện, tự tin, đa văn, hộ trì Chánh pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thực hành đúng đắn, sống thuận theo pháp; sau khi học được giáo lý của bậc Đạo sư, họ tuyên bố, giảng dạy, trình bày, thiết lập, khai thị, phân tích, làm cho sáng tỏ; và sau khi dùng Chánh pháp để khéo léo nhiếp phục các tà thuyết đã khởi lên, họ thuyết giảng pháp mầu nhiệm. Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy nhập Vô Dư Niết-bàn; xin Thiện Thệ hãy nhập Vô Dư Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn nhập Vô Dư Niết-bàn.”
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā: ‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi yāva me idaṁ brahmacariyaṁ na iddhañceva bhavissati phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitan’ti. Etarahi kho pana, bhante, bhagavato brahmacariyaṁ iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitaṁ. Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā; parinibbātu sugato; parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato”ti.
Sir, you once made this statement: ‘I shall not be fully extinguished until my spiritual path is successful and prosperous, extensive, popular, widespread, and fully revealed among gods and humans.’ Today your spiritual path is successful and prosperous, extensive, popular, widespread, and fully revealed among gods and humans. May the Blessed One now be fully extinguished! May the Holy One now be fully extinguished! Now is the time for the full extinguishment of the Buddha.”
“Bạch Thế Tôn, lời này đã được Thế Tôn nói ra: ‘Này Pāpima, Ta sẽ chưa nhập Vô Dư Niết-bàn chừng nào phạm hạnh này của Ta chưa được thịnh vượng, phát triển, quảng bá, phổ biến, rộng lớn, cho đến khi được chư thiên và loài người khéo tuyên thuyết.’ Bạch Thế Tôn, nay phạm hạnh của Thế Tôn đã được thịnh vượng, phát triển, quảng bá, phổ biến, rộng lớn, cho đến khi được chư thiên và loài người khéo tuyên thuyết. Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy nhập Vô Dư Niết-bàn; xin Thiện Thệ hãy nhập Vô Dư Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn nhập Vô Dư Niết-bàn.”
Evaṁ vutte, bhagavā māraṁ pāpimantaṁ etadavoca: “appossukko tvaṁ, pāpima, hohi. Na ciraṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati. Ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī”ti.
When this was said, the Buddha said to Māra, “Relax, Wicked One. The full extinguishment of the Realized One will be soon. Three months from now the Realized One will be fully extinguished.”
Khi được nói vậy, Thế Tôn bảo Ác ma Pāpima lời này: “Này Pāpima, ngươi hãy yên tâm. Chẳng bao lâu nữa Như Lai sẽ nhập Vô Dư Niết-bàn. Kể từ nay, sau ba tháng nữa, Như Lai sẽ nhập Vô Dư Niết-bàn.”
Atha kho bhagavā cāpāle cetiye sato sampajāno āyusaṅkhāraṁ ossaji. Ossaṭṭhe ca bhagavatā āyusaṅkhāre mahābhūmicālo ahosi bhiṁsanako lomahaṁso, devadundubhiyo ca phaliṁsu.
So at the Cāpāla Shrine the Buddha, mindful and aware, surrendered the life force. When he did so there was a great earthquake, awe-inspiring and hair-raising, and thunder cracked the sky.
Bấy giờ, tại điện thờ Cāpāla, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, xả bỏ thọ hành. Và khi thọ hành được Thế Tôn xả bỏ, một trận động đất lớn đã xảy ra, thật kinh khiếp, rợn tóc gáy, và trống trời vang rền.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Bấy giờ, Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Tulamatulañca sambhavaṁ, Bhavasaṅkhāramavassaji muni; Ajjhattarato samāhito, Abhindi kavacamivattasambhavan”ti.
Paṭhamaṁ.
“Comparing the incomparable <j>with the creation of prolonged life, the sage surrendered the life force. Happy inside, serene, he shattered self-creation like a suit of armor.”
“Bậc Mâu-ni đã từ bỏ hành nghiệp tạo nên sự hiện hữu, Cả tương đối và tuyệt đối, cùng với nguồn gốc của nó. An vui nội tâm, tâm định tĩnh, Ngài đã phá tan lớp vỏ tự thân, như phá áo giáp.” Thứ nhất.