- Udāna 4.2
Uddhatasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Uddhatasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Kusinārā, ở Upavattana, khu rừng cây sālā của xứ Malla. Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu trú ngụ trong các chòi nhỏ trong rừng ở nơi không xa đức Thế Tôn, náo động, khoác lác, lao chao, lắm mồm, có lời nói linh tinh, thất niệm, không có sự tỉnh giác, không được định tĩnh, có tâm bị tán loạn, có các giác quan buông thả.
2. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy nhiều vị tỳ khưu ấy đang trú ngụ trong các chòi nhỏ trong rừng ở nơi không xa, náo động, khoác lác, lao chao, lắm mồm, có lời nói linh tinh, thất niệm, không có sự tỉnh giác, không được định tĩnh, có tâm bị tán loạn, có các giác quan buông thả.
3. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Do thân không được phòng hộ, và do đã đi theo tà kiến, do bị ngự trị bởi dã dượi và buồn ngủ, người sa vào quyền lực của Ma Vương.
Vì thế, nên là người có tâm đã được phòng hộ, có chánh tư duy là hành xứ, là người ngự trị dã dượi và buồn ngủ, vị tỳ khưu từ bỏ mọi cảnh giới tái sanh xấu xa.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Uddhata (Phóng Dật)
32. Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn trú ở Kusinārā, tại Upavattana, trong rừng Sāla của dòng họ Malla. Lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu trú trong một am thất trong rừng không xa Thế Tôn, tâm bị phóng dật, kiêu mạn, dao động, lắm lời, nói lời tạp loạn, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm trí hoang mang, các căn không được phòng hộ.
Addasā kho bhagavā te sambahule bhikkhū avidūre araññakuṭikāyaṁ viharante uddhate unnaḷe capale mukhare vikiṇṇavāce muṭṭhassatino asampajāne asamāhite vibbhantacitte pākatindriye.
The Buddha saw those mendicants staying nearby.
Thế Tôn đã thấy các vị tỳ khưu ấy đang trú trong am thất trong rừng không xa, với tâm bị phóng dật, kiêu mạn, dao động, lắm lời, nói lời tạp loạn, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm trí hoang mang, các căn không được phòng hộ.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa ấy, vào lúc ấy, đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Arakkhitena kāyena, micchādiṭṭhihatena ca; Thinamiddhābhibhūtena,
“Unguarded in body, ruined by wrong view, overcome with dullness and drowsiness,
Với thân không được phòng hộ, bị tà kiến chi phối, và bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, người ấy rơi vào quyền lực của Ma vương.
Tasmā rakkhitacittassa, sammāsaṅkappagocaro; Sammādiṭṭhipurekkhāro, ñatvāna udayabbayaṁ; Thinamiddhābhibhū bhikkhu, sabbā duggatiyo jahe”ti.
Dutiyaṁ.
That’s why you should guard the mind, with right thoughts your habitat, and right view at the fore. Having understood rise and fall, a mendicant who has overcome <j>dullness and drowsiness would abandon all bad destinies.”
Do đó, hãy có tâm được phòng hộ, với chánh tư duy làm đối tượng, với chánh kiến đi trước. Vị tỳ khưu, sau khi biết rõ sự sanh diệt, chế ngự được hôn trầm thụy miên, sẽ từ bỏ tất cả các ác thú.