- Udāna 4.3
Gopālakasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Gopālakasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn đi du hành ở xứ sở của những người Kosala cùng với đại chúng tỳ khưu. Khi ấy, đức Thế Tôn đã rời con đường lộ rồi đi đến gần gốc cây nọ, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được sắp đặt sẵn. Sau đó, có người chăn bò nọ đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi người chăn bò đã ngồi xuống ở một bên, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người chăn bò ấy bằng bài Pháp thoại.
2. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, người chăn bò ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, xin đức Thế Tôn cùng với hội chúng tỳ khưu nhận lời bữa trai phạn của con vào ngày mai.” Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, người chăn bò ấy hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, khi trải qua đêm ấy, người chăn bò ấy đã cho chuẩn bị dồi dào cơm sữa ráo nước và bơ lỏng mới tại tư gia, rồi cho thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: “Bạch Ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.”
3. Khi ấy vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã quấn y (nội), rồi cầm bình bát và y cùng với hội chúng tỳ khưu đi đến tư gia của người chăn bò ấy, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được sắp đặt. Sau đó, người chăn bò ấy đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với cơm sữa ráo nước và bơ lỏng mới. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong, bàn tay đã rời khỏi bình bát, người chăn bò ấy đã cầm lấy một chiếc ghế thấp nào đó và đã ngồi xuống ở một bên. Khi người chăn bò đã ngồi xuống ở một bên, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người chăn bò ấy bằng bài Pháp thoại, rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, trong khi đức Thế Tôn ra đi không bao lâu, một người đàn ông nọ đã đoạt lấy mạng sống của người chăn bò ấy tại khu vực giáp ranh.
4. Sau đó, nhiều vị tỳ khưu đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, các vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, người chăn bò hôm nay đã tự tay làm hài lòng và toại ý hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với cơm sữa ráo nước và bơ lỏng mới, bạch Ngài, nghe nói người chăn bò ấy đã bị một người đàn ông nọ đoạt lấy mạng sống tại khu vực giáp ranh.”
5. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Việc nào mà kẻ địch có thể làm đối với kẻ địch, hoặc kẻ thù (có thể làm) đối với kẻ thù, thì tâm thiên về sự sai tráī có thể làm điều ác xấu đến người ấy còn hơn việc ấy (hai việc trên) nữa.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Gopālaka (Người Chăn Bò)
33. Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng tỳ khưu. Rồi Thế Tôn rời khỏi con đường, đi đến một gốc cây, và sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên một chỗ ngồi đã được soạn sẵn.
Atha kho aññataro gopālako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ gopālakaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Then a certain cowherd went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired him with a Dhamma talk.
Lúc bấy giờ, có một người chăn bò đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, người ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ người chăn bò đang ngồi một bên ấy bằng một bài pháp thoại.
Atha kho so gopālako bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito bhagavantaṁ etadavoca: “adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti. Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena. Atha kho so gopālako bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Then the cowherd said to the Buddha, “Sir, would the Buddha, together with the mendicant Saṅgha, please accept tomorrow’s meal from me?” The Buddha consented with silence. Then, knowing that the Buddha had consented, the cowherd rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Rồi người chăn bò ấy, sau khi được Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ bằng bài pháp thoại, đã bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời dùng bữa của con vào ngày mai, cùng với Tăng chúng tỳ khưu.’ Thế Tôn đã nhận lời bằng cách im lặng. Rồi người chăn bò ấy, sau khi biết được sự chấp thuận của Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài theo chiều bên phải, rồi ra đi.
Atha kho so gopālako tassā rattiyā accayena sake nivesane pahūtaṁ appodakapāyāsaṁ paṭiyādāpetvā navañca sappiṁ bhagavato kālaṁ ārocesi: “kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena tassa gopālakassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho so gopālako buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ appodakapāyāsena navena ca sappinā sahatthā santappesi sampavāresi. Atha kho so gopālako bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ gopālakaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi. Atha kho acirapakkantassa bhagavato taṁ gopālakaṁ aññataro puriso sīmantarikāya jīvitā voropesi.
And when the night had passed the cowherd had plenty of thick milk-rice prepared in his own home, with fresh ghee. Then he had the Buddha informed of the time, saying, “Sir, it’s time. The meal is ready.”
The Buddha robed up, took his bowl and robe and, together with the Saṅgha of monks, went to the house of that cowherd, where he sat down on the prepared seat in the dining hall. Then the cowherd served and satisfied the mendicant Saṅgha headed by the Buddha with his own hands with a thick milk-rice and fresh ghee. When the Buddha had eaten and washed his hand and bowl, the cowherd took a low seat and sat to one side. The Buddha then educated, encouraged, fired up, and inspired him with a teaching, after which he got up and left. But soon after the Buddha had left, the cowherd was killed by a certain man in the gap between village perimeters.
Rồi người chăn bò ấy, sau khi đêm ấy đã qua, tại nhà của mình, đã cho chuẩn bị nhiều cháo sữa đặc và bơ tươi, rồi báo cho Thế Tôn biết thời gian: ‘Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.’ Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang y bát, cùng với Tăng chúng tỳ khưu đi đến nhà của người chăn bò ấy; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Rồi người chăn bò ấy, với chính tay mình, đã dâng cúng và làm cho Tăng chúng tỳ khưu với Đức Phật dẫn đầu được thỏa mãn với cháo sữa đặc và bơ tươi. Rồi người chăn bò ấy, khi Thế Tôn đã dùng xong, tay đã rời khỏi bát, đã lấy một chỗ ngồi thấp hơn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn, sau khi chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ người chăn bò đang ngồi một bên ấy bằng một bài pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi, không lâu sau khi Thế Tôn ra đi, một người đàn ông nào đó đã đoạt mạng sống của người chăn bò ấy ở khu vực giữa các làng.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “yena, bhante, gopālakena ajja buddhappamukho bhikkhusaṅgho appodakapāyāsena navena ca sappinā sahatthā santappito sampavārito so kira, bhante, gopālako aññatarena purisena sīmantarikāya jīvitā voropito”ti.
Then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Rồi nhiều vị tỳ khưu đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, các vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các vị tỳ khưu ấy bạch với Thế Tôn rằng: ‘Bạch Thế Tôn, người chăn bò mà hôm nay đã dâng cúng và làm cho Tăng chúng tỳ khưu với Đức Phật dẫn đầu được thỏa mãn với cháo sữa đặc và bơ tươi bằng chính tay mình, nghe nói người chăn bò ấy, bạch Thế Tôn, đã bị một người đàn ông nào đó đoạt mạng sống ở khu vực giữa các làng.’
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa ấy, vào lúc ấy, đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Diso disaṁ yaṁ taṁ kayirā, verī vā pana verinaṁ; Micchāpaṇihitaṁ cittaṁ, pāpiyo naṁ tato kare”ti.
Tatiyaṁ.
“A wrongly directed mind would do you more harm than a hater to the hated, or an enemy to their foe.”
Điều gì kẻ thù làm cho kẻ thù, hay kẻ oán địch làm cho kẻ oán địch; tâm hướng sai lầm có thể làm cho người ấy điều tồi tệ hơn thế nữa.