- Udāna 4.1
Meghiyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Meghiyasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Cālikā, ở núi Cālika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Meghiya là thị giả của đức Thế Tôn. Khi ấy, đại đức Meghiya đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, đại đức Meghiya đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, con muốn đi vào làng Jantu để khất thực.” “Này Meghiya, ngươi hãy biết giờ này là thời điểm của việc nào.”
2. Sau đó, vào buổi sáng đại đức Meghiya đã quấn y (nội), rồi cầm lấy bình bát và y đi vào làng Jantu để khất thực. Sau khi đi khất thực ở làng Jantu, sau bữa ăn trong khi đi khất thực trở về, đại đức Meghiya đã đi đến bờ sông Kimikālā. Sau khi đi đến và trong khi đi kinh hành, trong khi đi lang thang để thư giãn ống chân ở bờ sông Kimikālā, đại đức Meghiya đã nhìn thấy khu rừng xoài đáng mến, đáng yêu, sau khi nhìn thấy đã khởi ý điều này: “Khu rừng xoài này quả thật đáng mến, đáng yêu! Nơi này quả thật thích hợp cho việc nỗ lực của người con trai gia đình cao quý, là người mong muốn sự nỗ lực. Nếu đức Thế Tôn cho phép ta, thì ta có thể đi đến khu rừng xoài này cho việc nỗ lực.”
3. Sau đó, đại đức Meghiya đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, đại đức Meghiya đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, ở đây vào buổi sáng, con đã quấn y (nội), rồi cầm lấy bình bát và y đi vào làng Jantu để khất thực. Sau khi đi khất thực ở làng Jantu, sau bữa ăn trong khi đi khất thực trở về, con đã đi đến bờ sông Kimikālā. Sau khi đi đến và trong khi đi kinh hành, trong khi đi lang thang để thư giãn ống chân ở bờ sông Kimikālā, con đã nhìn thấy khu rừng xoài đáng mến, đáng yêu, sau khi nhìn thấy con đã khởi ý điều này: ‘Khu rừng xoài này quả thật đáng mến, đáng yêu! Nơi này quả thật thích hợp cho việc nỗ lực của người con trai gia đình cao quý, là người mong muốn sự nỗ lực. Nếu đức Thế Tôn cho phép ta, thì ta có thể đi đến khu rừng xoài này cho việc nỗ lực.’ Bạch Ngài, nếu đức Thế Tôn cho phép con, thì con có thể đi đến khu rừng xoài này cho việc nỗ lực.”
4. Khi được nghe nói vậy, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Meghiya điều này: “Này Meghiya, chúng ta là đơn độc. Ngươi hãy chờ cho đến lúc có vị tỳ khưu nào khác đi đến.” Đến lần thứ nhì, đại đức Meghiya đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, đối với đức Thế Tôn thì không có bất cứ việc cần phải làm thêm nữa, hoặc không có sự tích lũy thêm đối với việc đã làm. Bạch Ngài, trái lại đối với con thì có việc cần phải làm thêm nữa, hoặc có sự tích lũy thêm đối với việc đã làm. Bạch Ngài, nếu đức Thế Tôn cho phép con, thì con có thể đi đến khu rừng xoài này cho việc nỗ lực.” Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Meghiya điều này: “Này Meghiya, chúng ta là đơn độc. Ngươi hãy chờ cho đến lúc có vị tỳ khưu nào khác đi đến.” Đến lần thứ ba, đại đức Meghiya đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, đối với đức Thế Tôn thì không có bất cứ việc gì thêm nữa cần phải làm, hoặc không có sự tích lũy thêm đối với việc đã làm. Bạch Ngài, trái lại đối với con thì có việc thêm nữa cần phải làm, hoặc có sự tích lũy thêm đối với việc đã làm. Bạch Ngài, nếu đức Thế Tôn cho phép con, thì con có thể đi đến khu rừng xoài này cho việc nỗ lực.”
5. “Này Meghiya, trong khi ngươi nói về ‘sự nỗ lực’ thì chúng ta có thể nói gì? Này Meghiya, ngươi hãy biết giờ này là thời điểm của việc nào.” Khi ấy, đại đức Meghiya đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi đã đi đến khu rừng xoài ấy, sau khi đến đã đi sâu vào khu rừng xoài rồi đã ngồi xuống nghỉ trưa ở gốc cây nọ. Sau đó, trong khi đại đức Meghiya đang trú ở khu rừng xoài ấy, ba ác bất thiện tầm, tức là: ‘dục tầm, sân tầm, hại tầm,’ thường xuyên khởi lên cho vị ấy. Khi ấy, đại đức Meghiya đã khởi ý điều này: “Thật là kỳ lạ! Thật là bất thường! Quả thật ta đã vì niềm tin rời nhà xuất gia sống không nhà, vậy mà ta lại bị ám ảnh bởi ba ác bất thiện tầm này, tức là: ‘bởi dục tầm, bởi sân tầm, bởi hại tầm.’”
6. Sau đó vào buổi chiều, đại đức Meghiya, xuất khỏi thiền tịnh, đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, đại đức Meghiya đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, ở đây trong khi con đang trú ở khu rừng xoài ấy, ba ác bất thiện tầm, tức là: ‘dục tầm, sân tầm, hại tầm,’ thường xuyên xảy đến với con. Khi ấy, con đây đã khởi ý điều này: ‘Thật là kỳ lạ! Thật là bất thường! Quả thật ta đã vì niềm tin rời nhà xuất gia sống không nhà, vậy mà ta lại bị ám ảnh bởi ba ác bất thiện tầm này, tức là: bởi dục tầm, bởi sân tầm, bởi hại tầm.’”
7. “Này Meghiya, khi sự giải thoát của tâm chưa được chín muồi, có năm pháp đưa đến sự chín muồi. Năm pháp nào? Này Meghiya, ở đây vị tỳ khưu có bạn hữu tốt lành, có bạn đồng hành tốt lành, có bạn thâm niên tốt lành. Này Meghiya, khi sự giải thoát của tâm chưa được chín muồi, đây là pháp thứ nhất đưa đến sự chín muồi.
Và này Meghiya, còn có pháp khác nữa, vị tỳ khưu là người có giới, sống thu thúc với sự thu thúc trong giới bổn Pātimokkha, được thành tựu về hạnh kiểm và hành xứ, thấy sự sợ hãi trong các tội nhỏ nhặt, thọ trì và thực hành trong các điều học. Này Meghiya, khi sự giải thoát của tâm chưa được chín muồi, đây là pháp thứ nhì đưa đến sự chín muồi.
Và này Meghiya, còn có pháp khác nữa, lời nói nào liên quan đến việc giảm thiểu, thuận lợi cho việc khơi mở tâm, đưa đến sự hoàn toàn nhàm chán, đến việc xa lìa luyến ái, đến sự tịch diệt, đến sự tịch tịnh, đến thắng trí, đến sự giác ngộ, đến Niết-bàn, tức là lời nói về ít ham muốn, lời nói về sự tự biết đủ, lời nói về sự tách ly, lời nói về sự không kết giao, lời nói về việc khởi sự tinh tấn, lời nói về giới, lời nói về định, lời nói về tuệ, lời nói về giải thoát, lời nói về trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát; với lời nói có hình thức như thế thì vị tỳ khưu có sự đạt được theo như ước muốn, có sự đạt được không mệt nhọc, có sự đạt được không khó khăn. Này Meghiya, khi sự giải thoát của tâm chưa được chín muồi, đây là pháp thứ ba đưa đến sự chín muồi.
Và này Meghiya, còn có pháp khác nữa, vị tỳ khưu sống có sự ra sức tinh tấn nhằm dứt bỏ các bất thiện pháp, nhằm thành tựu các thiện pháp, có sự kiên định, có sự ra sức vững chãi, không buông bỏ nhiệm vụ đối với các thiện pháp. Này Meghiya, khi sự giải thoát của tâm chưa được chín muồi, đây là pháp thứ tư đưa đến sự chín muồi.
Và này Meghiya, còn có pháp khác nữa, vị tỳ khưu có tuệ hướng đến sự sanh diệt, đầy đủ tuệ cho việc thấu triệt thánh thiện hướng đến sự diệt tận khổ đau một cách đúng đắn. Này Meghiya, khi sự giải thoát của tâm chưa được chín muồi, đây là pháp thứ năm đưa đến sự chín muồi.
Này Meghiya, khi sự giải thoát của tâm chưa được chín muồi, năm pháp này đưa đến sự chín muồi.
8. Này Meghiya, điều này là được trông đợi đối với vị tỳ khưu có bạn hữu tốt lành, có bạn đồng hành tốt lành, có bạn thâm niên tốt lành là việc sẽ là người có giới, sẽ sống thu thúc với sự thu thúc trong giới bổn Pātimokkha, được thành tựu về hạnh kiểm và hành xứ, thấy sự sợ hãi trong các tội nhỏ nhặt, sẽ thọ trì và thực hành trong các điều học.
Này Meghiya, điều này là được trông đợi đối với vị tỳ khưu có bạn hữu tốt lành, có bạn đồng hành tốt lành, có bạn thâm niên tốt lành là lời nói nào liên quan đến việc giảm thiểu, thuận lợi cho việc khơi mở tâm, đưa đến sự hoàn toàn nhàm chán, đến việc xa lìa luyến ái, đến sự tịch diệt, đến sự tịch tịnh, đến thắng trí, đến sự giác ngộ, đến Niết-bàn, tức là lời nói về ít ham muốn, lời nói về sự tự biết đủ, lời nói về sự tách ly, lời nói về sự không kết giao, lời nói về việc khởi sự tinh tấn, lời nói về giới, lời nói về định, lời nói về tuệ, lời nói về giải thoát, lời nói về trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát; với lời nói có hình thức như thế thì vị tỳ khưu sẽ có sự đạt được theo như ước muốn, có sự đạt được không mệt nhọc, có sự đạt được không khó khăn.
Này Meghiya, điều này là được trông đợi đối với vị tỳ khưu có bạn hữu tốt lành, có bạn đồng hành tốt lành, có bạn thâm niên tốt lành là sẽ có sự ra sức tinh tấn nhằm dứt bỏ các bất thiện pháp, nhằm thành tựu các thiện pháp, có sự kiên định, có sự ra sức vững chãi, không buông bỏ nhiệm vụ đối với các thiện pháp.
Này Meghiya, điều này là được trông đợi đối với vị tỳ khưu có bạn hữu tốt lành, có bạn đồng hành tốt lành, có bạn thâm niên tốt lành là việc sẽ có tuệ hướng đến sự sanh diệt, được đầy đủ tuệ hướng đến sự diệt tận khổ đau một cách đúng đắn đối với việc thấu triệt của bậc Thánh.
Và này Meghiya, hơn nữa vị tỳ khưu ấy sau khi thiết lập ở năm pháp này, nên tu tập bốn pháp thêm nữa, nên tu tập về bất tịnh nhằm dứt bỏ luyến ái, nên tu tập từ ái nhằm dứt bỏ sân hận, nên tu tập niệm hơi thở vào hơi thở ra nhằm cắt đứt tầm, nên tu tập tưởng vô thường nhằm thủ tiêu ngã mạn ‘tôi là.’ Này Meghiya, đối với vị có tưởng vô thưởng thì tưởng vô ngã được vững trú, vị có tưởng vô ngã thì đạt được việc thủ tiêu ngã mạn ‘tôi là,’ (đạt được) Niết Bàn ngay trong đời hiện tại.”
9. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Các suy tư nhỏ nhoi, các suy tư vi tế được đeo đuổi là các sự trỗi dậy của tâm. Người không biết được các suy tư này của tâm, chạy từ nơi này đến nơi khác, có tâm rối loạn.
Và sau khi biết được các suy tư này của tâm, người có nhiệt tâm, có niệm, thu thúc các suy tư đã được đeo đuổi, các sự trỗi dậy của tâm; bậc giác ngộ đã dứt bỏ chúng không còn dư sót.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Meghiya
31. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Cālikā, trên núi Cālika. Bấy giờ, Tôn giả Meghiya là thị giả của Thế Tôn. Rồi Tôn giả Meghiya đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, Tôn giả Meghiya bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, con muốn vào làng Jantu để khất thực.” (Thế Tôn phán): “Này Meghiya, nay ông hãy làm những gì ông nghĩ là hợp thời.”
Atha kho āyasmā meghiyo pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya jantugāmaṁ piṇḍāya pāvisi. Jantugāme piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena kimikāḷāya nadiyā tīraṁ tenupasaṅkami. Addasā kho āyasmā meghiyo kimikāḷāya nadiyā tīre jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamamāno anuvicaramāno ambavanaṁ pāsādikaṁ manuññaṁ ramaṇīyaṁ. Disvānassa etadahosi: “pāsādikaṁ vatidaṁ ambavanaṁ manuññaṁ ramaṇīyaṁ. Alaṁ vatidaṁ kulaputtassa padhānatthikassa padhānāya. Sace maṁ bhagavā anujāneyya, āgaccheyyāhaṁ imaṁ ambavanaṁ padhānāyā”ti.
Atha kho āyasmā meghiyo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Then Meghiya robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Jantu village for alms. After the meal, on his return from almsround in Jantu village, he went to the shore of Kimikālā River. As he was going for a walk along the shore of the river he saw a lovely and delightful mango grove. Seeing this, it occurred to him, “Oh, this mango grove is lovely and delightful! This is good enough for striving for a gentleman wanting to strive. If the Buddha allows me, I’ll come back to this mango grove to meditate.”
Then Venerable Meghiya went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened, adding,
Rồi Tôn giả Meghiya, vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, vào làng Jantu để khất thực. Sau khi đi khất thực ở làng Jantu, dùng bữa xong, trên đường từ nơi khất thực trở về, ngài đi đến bờ sông Kimikāḷā. Khi đang đi kinh hành để thư giãn bên bờ sông Kimikāḷā, Tôn giả Meghiya thấy một khu vườn xoài khả ái, đẹp đẽ, và đáng say mê. Thấy vậy, ngài suy nghĩ: “Khu vườn xoài này thật khả ái, đẹp đẽ, và đáng say mê. Thật thích hợp cho một thiện nam tử muốn tinh tấn, để nỗ lực tu tập. Nếu Thế Tôn cho phép, ta sẽ đến khu vườn xoài này để nỗ lực tu tập.”
Rồi Tôn giả Meghiya đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Meghiya bạch với Thế Tôn:
“Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya jantugāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ. Jantugāme piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena kimikāḷāya nadiyā tīraṁ tenupasaṅkamiṁ. Addasaṁ kho ahaṁ, bhante, kimikāḷāya nadiyā tīre jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamamāno anuvicaramāno ambavanaṁ pāsādikaṁ manuññaṁ ramaṇīyaṁ. Disvāna me etadahosi: ‘pāsādikaṁ vatidaṁ ambavanaṁ manuññaṁ ramaṇīyaṁ. Alaṁ vatidaṁ kulaputtassa padhānatthikassa padhānāya. Sace maṁ bhagavā anujāneyya, āgaccheyyāhaṁ imaṁ ambavanaṁ padhānāyā’ti. Sace maṁ, bhante, bhagavā anujānāti, gaccheyyāhaṁ taṁ ambavanaṁ padhānāyā”ti.
“If the Buddha allows me, I’ll go back to that mango grove to meditate.”
“Bạch Thế Tôn, hôm nay, vào buổi sáng, con đã đắp y, mang bát và y, vào làng Jantu để khất thực. Sau khi đi khất thực ở làng Jantu, dùng bữa xong, trên đường từ nơi khất thực trở về, con đã đi đến bờ sông Kimikāḷā. Bạch Thế Tôn, khi đang đi kinh hành để thư giãn bên bờ sông Kimikāḷā, con đã thấy một khu vườn xoài khả ái, đẹp đẽ, và đáng say mê. Thấy vậy, con đã suy nghĩ: ‘Khu vườn xoài này thật khả ái, đẹp đẽ, và đáng say mê. Thật thích hợp cho một thiện nam tử muốn tinh tấn, để nỗ lực tu tập. Nếu Thế Tôn cho phép, ta sẽ đến khu vườn xoài này để nỗ lực tu tập.’ Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn cho phép con, con sẽ đi đến khu vườn xoài ấy để nỗ lực tu tập.”
Evaṁ vutte, bhagavā āyasmantaṁ meghiyaṁ etadavoca: “āgamehi tāva, meghiya, ekakamhi tāva, yāva aññopi koci bhikkhu āgacchatī”ti.
Dutiyampi kho āyasmā meghiyo bhagavantaṁ etadavoca: “bhagavato, bhante, natthi kiñci uttari karaṇīyaṁ, natthi katassa vā paticayo. Mayhaṁ kho pana, bhante, atthi uttari karaṇīyaṁ, atthi katassa paticayo. Sace maṁ bhagavā anujānāti, gaccheyyāhaṁ taṁ ambavanaṁ padhānāyā”ti.
When he had spoken, the Buddha said to him, “We’re alone, Meghiya. Wait until another mendicant comes.”
For a second time Meghiya said to the Buddha, “Sir, the Buddha has nothing more to do, and nothing that needs improvement. But I have. If you allow me, I’ll go back to that mango grove to meditate.”
Khi được nói vậy, Thế Tôn bảo Tôn giả Meghiya: “Này Meghiya, hãy đợi một chút, vì Ta đang một mình, cho đến khi có một Tỷ-kheo khác đến.”
Lần thứ hai, Tôn giả Meghiya lại bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, đối với Thế Tôn, không còn việc gì phải làm thêm, cũng không cần tích lũy thêm những gì đã làm. Nhưng bạch Thế Tôn, đối với con, vẫn còn việc phải làm thêm, vẫn cần tích lũy thêm những gì đã làm. Nếu Thế Tôn cho phép con, con sẽ đi đến khu vườn xoài ấy để nỗ lực tu tập.” Lần thứ hai, Thế Tôn lại bảo Tôn giả Meghiya: “Này Meghiya, hãy đợi một chút, vì Ta đang một mình, cho đến khi có một Tỷ-kheo khác đến.”
Tatiyampi kho āyasmā meghiyo bhagavantaṁ etadavoca: “bhagavato, bhante, natthi kiñci uttari karaṇīyaṁ, natthi katassa vā paticayo. Mayhaṁ kho pana, bhante, atthi uttari karaṇīyaṁ, atthi katassa paticayo. Sace maṁ bhagavā anujānāti, gaccheyyāhaṁ taṁ ambavanaṁ padhānāyā”ti. “Padhānanti kho, meghiya, vadamānaṁ kinti vadeyyāma? Yassadāni tvaṁ, meghiya, kālaṁ maññasī”ti.
For a third time Meghiya said to the Buddha, “Sir, the Buddha has nothing more to do, and nothing that needs improvement. But I have. If you allow me, I’ll go back to that mango grove to meditate.” “Meghiya, since you speak of striving in meditation, what can I say? Please, Meghiya, go at your convenience.”
Lần thứ ba, Tôn giả Meghiya lại bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, đối với Thế Tôn, không còn việc gì phải làm thêm, cũng không cần tích lũy thêm những gì đã làm. Nhưng bạch Thế Tôn, đối với con, vẫn còn việc phải làm thêm, vẫn cần tích lũy thêm những gì đã làm. Nếu Thế Tôn cho phép con, con sẽ đi đến khu vườn xoài ấy để nỗ lực tu tập.” (Thế Tôn phán): “Này Meghiya, khi ông nói ‘nỗ lực tu tập’, chúng ta có thể nói gì được? Này Meghiya, nay ông hãy làm những gì ông nghĩ là hợp thời.”
Atha kho āyasmā meghiyo uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena taṁ ambavanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ ambavanaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi. Atha kho āyasmato meghiyassa tasmiṁ ambavane viharantassa yebhuyyena tayo pāpakā akusalā vitakkā samudācaranti, seyyathidaṁ—kāmavitakko, byāpādavitakko, vihiṁsāvitakko.
Then Meghiya got up from his seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right. Then he went to that mango grove, and, having plunged deep into it, sat at the root of a certain tree for the day’s meditation. But while Meghiya was meditating in that mango grove he was beset mostly by three kinds of bad, unskillful thoughts, namely, sensual, malicious, and cruel thoughts.
Rồi Tôn giả Meghiya từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh ngài theo chiều bên phải, rồi đi đến khu vườn xoài ấy. Sau khi đến, ngài đi vào khu vườn xoài và ngồi xuống dưới một gốc cây để an trú ban ngày. Bấy giờ, trong khi Tôn giả Meghiya đang an trú trong khu vườn xoài ấy, phần lớn có ba loại tư duy xấu xa, bất thiện khởi lên, đó là: dục tầm, sân tầm, và hại tầm.
Atha kho āyasmato meghiyassa etadahosi: “acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Saddhāya ca vatamhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā. Atha ca panimehi tīhi pāpakehi akusalehi vitakkehi anvāsattā, seyyathidaṁ—kāmavitakkena, byāpādavitakkena, vihiṁsāvitakkena”.
Then he thought, “Oh lord, how incredible, how amazing! I’ve gone forth out of faith from the lay life to homelessness, but I’m still harassed by these three kinds of bad, unskillful thoughts: sensual, malicious, and cruel thoughts.”
Rồi Tôn giả Meghiya khởi lên ý nghĩ này: ‘Thật kỳ diệu thay, chư hiền! Thật hy hữu thay, chư hiền! Ta quả thật đã do lòng tin mà từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đã xuất gia. Thế nhưng lại bị ba loại tư duy xấu xa, bất thiện này đeo đẳng, tức là: dục tầm, sân tầm, và hại tầm.’
Atha kho āyasmā meghiyo sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā meghiyo bhagavantaṁ etadavoca: “idha mayhaṁ, bhante, tasmiṁ ambavane viharantassa yebhuyyena tayo pāpakā akusalā vitakkā samudācaranti, seyyathidaṁ—kāmavitakko, byāpādavitakko, vihiṁsāvitakko. Tassa mayhaṁ, bhante, etadahosi: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Saddhāya ca vatamhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā. Atha ca panimehi tīhi pāpakehi akusalehi vitakkehi anvāsattā, seyyathidaṁ—kāmavitakkena, byāpādavitakkena, vihiṁsāvitakkena’”.
Then in the late afternoon, Venerable Meghiya came out of retreat and went to the Buddha. He bowed, sat down to one side, and told the Buddha what had happened.
Rồi Tôn giả Meghiya, vào buổi chiều, sau khi rời khỏi nơi độc cư, đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Meghiya đã bạch với Thế Tôn điều này: ‘Bạch Thế Tôn, ở đây, trong khi con đang trú tại khu rừng xoài kia, phần lớn có ba loại tư duy xấu xa, bất thiện khởi lên, tức là: dục tầm, sân tầm, và hại tầm. Bạch Thế Tôn, con đã khởi lên ý nghĩ này: “Thật kỳ diệu thay, chư hiền! Thật hy hữu thay, chư hiền! Ta quả thật đã do lòng tin mà từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đã xuất gia. Thế nhưng lại bị ba loại tư duy xấu xa, bất thiện này đeo đẳng, tức là: dục tầm, sân tầm, và hại tầm.”’
“Aparipakkāya, meghiya, cetovimuttiyā pañca dhammā paripākāya saṁvattanti. Katame pañca?
“Meghiya, when the heart’s release is not ripe, five things help it ripen. What five?
‘Này Meghiya, đối với tâm giải thoát chưa thuần thục, có năm pháp đưa đến sự thuần thục. Năm pháp ấy là gì?’
Idha, meghiya, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko. Aparipakkāya, meghiya, cetovimuttiyā ayaṁ paṭhamo dhammo paripākāya saṁvattati.
Firstly, a mendicant has good friends, companions, and associates. This is the first thing …
‘Này Meghiya, ở đây, vị tỳ khưu có bạn lành, có bạn đồng hành tốt, có người thân thiện tốt. Này Meghiya, đối với tâm giải thoát chưa thuần thục, đây là pháp thứ nhất đưa đến sự thuần thục.’
Puna caparaṁ, meghiya, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Aparipakkāya, meghiya, cetovimuttiyā ayaṁ dutiyo dhammo paripākāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. This is the second thing …
‘Lại nữa, này Meghiya, vị tỳ khưu là người có giới, sống được phòng hộ bởi sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, có đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới. Này Meghiya, đối với tâm giải thoát chưa thuần thục, đây là pháp thứ hai đưa đến sự thuần thục.’
Puna caparaṁ, meghiya, bhikkhu yāyaṁ kathā abhisallekhikā cetovivaraṇasappāyā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati, seyyathidaṁ—appicchakathā, santuṭṭhikathā, pavivekakathā, asaṁsaggakathā, vīriyārambhakathā, sīlakathā, samādhikathā, paññākathā, vimuttikathā, vimuttiñāṇadassanakathā; evarūpāya kathāya nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī. Aparipākāya, meghiya, cetovimuttiyā ayaṁ tatiyo dhammo paripākāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant gets to take part in talk about self-effacement that helps open the heart and leads solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment when they want, without trouble or difficulty. That is, talk about fewness of wishes, contentment, seclusion, aloofness, arousing energy, ethics, immersion, wisdom, freedom, and the knowledge and vision of freedom. This is the third thing …
‘Lại nữa, này Meghiya, vị tỳ khưu được nghe những câu chuyện có tác dụng làm cho phiền não hao mòn, thích hợp cho việc mở mang tâm trí, hoàn toàn đưa đến sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn; tức là: câu chuyện về thiểu dục, tri túc, độc cư, không giao du, tinh cần tinh tấn, về giới, về định, về tuệ, về giải thoát, về giải thoát tri kiến. Vị ấy được nghe những câu chuyện như vậy một cách dễ dàng, không khó khăn, không mệt nhọc. Này Meghiya, đối với tâm giải thoát chưa thuần thục, đây là pháp thứ ba đưa đến sự thuần thục.’
Puna caparaṁ, meghiya, bhikkhu āraddhavīriyo viharati, akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. Aparipakkāya, meghiya, cetovimuttiyā ayaṁ catuttho dhammo paripākāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant lives with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They are strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities. This is the fourth thing …
‘Lại nữa, này Meghiya, vị tỳ khưu sống tinh cần tinh tấn để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện; là người có sức mạnh, có sự nỗ lực kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với các pháp thiện. Này Meghiya, đối với tâm giải thoát chưa thuần thục, đây là pháp thứ tư đưa đến sự thuần thục.’
Puna caparaṁ, meghiya, bhikkhu paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. Aparipakkāya, meghiya, cetovimuttiyā ayaṁ pañcamo dhammo paripākāya saṁvattati. Aparipakkāya, meghiya, cetovimuttiyā ime pañca dhammā paripākāya saṁvattanti.
Furthermore, a mendicant is wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. This is the fifth thing that, when the heart’s release is not ripe, helps it ripen. These are the five things that, when the heart’s release is not ripe, help it ripen.
‘Lại nữa, này Meghiya, vị tỳ khưu là người có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sự sinh diệt, là trí tuệ bậc thánh, có khả năng đâm thủng phiền não, đưa đến sự đoạn tận khổ đau một cách chân chánh. Này Meghiya, đối với tâm giải thoát chưa thuần thục, đây là pháp thứ năm đưa đến sự thuần thục. Này Meghiya, đối với tâm giải thoát chưa thuần thục, năm pháp này đưa đến sự thuần thục.’
Kalyāṇamittassetaṁ, meghiya, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa yaṁ sīlavā bhavissati, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharissati, ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhissati sikkhāpadesu.
Kalyāṇamittassetaṁ, meghiya, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa yaṁ yāyaṁ kathā abhisallekhikā cetovivaraṇasappāyā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati, seyyathidaṁ—appicchakathā, santuṭṭhikathā, pavivekakathā, asaṁsaggakathā, vīriyārambhakathā, sīlakathā, samādhikathā, paññākathā, vimuttikathā, vimuttiñāṇadassanakathā; evarūpāya kathāya nikāmalābhī bhavissati akicchalābhī akasiralābhī.
Kalyāṇamittassetaṁ, meghiya, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa yaṁ āraddhavīriyo viharissati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
Kalyāṇamittassetaṁ, meghiya, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa yaṁ paññavā bhavissati, udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā.
A mendicant with good friends, companions, and associates can expect to be ethical …
A mendicant with good friends, companions, and associates can expect to take part in talk about self-effacement that helps open the heart …
A mendicant with good friends, companions, and associates can expect to be energetic …
A mendicant with good friends, companions, and associates can expect to be wise …
‘Này Meghiya, đối với vị tỳ khưu có bạn lành, có bạn đồng hành tốt, có người thân thiện tốt, điều này có thể được mong đợi: rằng vị ấy sẽ là người có giới, sẽ sống được phòng hộ bởi sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, có đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, sẽ chấp nhận và thực hành các học giới.’
Tena ca pana, meghiya, bhikkhunā imesu pañcasu dhammesu patiṭṭhāya cattāro dhammā uttari bhāvetabbā—asubhā bhāvetabbā rāgassa pahānāya, mettā bhāvetabbā byāpādassa pahānāya, ānāpānassati bhāvetabbā vitakkupacchedāya, aniccasaññā bhāvetabbā asmimānasamugghātāya. Aniccasaññino hi, meghiya, anattasaññā saṇṭhāti, anattasaññī asmimānasamugghātaṁ pāpuṇāti diṭṭheva dhamme nibbānan”ti.
But then, a mendicant grounded on these five things should develop four further things. They should develop the perception of ugliness to give up greed, love to give up hate, mindfulness of breathing to cut off thinking, and perception of impermanence to uproot the conceit ‘I am’. When you perceive impermanence, the perception of not-self becomes stabilized. Perceiving not-self, you uproot the conceit ‘I am’ and attain extinguishment in this very life.”
‘Lại nữa, này Meghiya, vị tỳ khưu ấy sau khi đã an trú trong năm pháp này, nên tu tập thêm bốn pháp nữa: Nên tu tập pháp bất tịnh để đoạn trừ tham ái, nên tu tập tâm từ để đoạn trừ sân hận, nên tu tập niệm hơi thở vào ra để cắt đứt các tầm, nên tu tập tưởng vô thường để nhổ bật ngã mạn. Này Meghiya, vì rằng đối với người có tưởng vô thường, tưởng vô ngã được thiết lập. Người có tưởng vô ngã đạt đến sự nhổ bật ngã mạn, tức là Niết-bàn ngay trong hiện tại.’
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa ấy, vào lúc ấy, đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Khuddā vitakkā sukhumā vitakkā, Anugatā manaso uppilāvā; Ete avidvā manaso vitakke, Hurā huraṁ dhāvati bhantacitto.
“Lesser thoughts and subtle thoughts arise, springing up in the mind. Not understanding these thoughts, one with mind astray runs from one thing to the next.
Các tầm nhỏ nhặt, các tầm vi tế, đi theo tâm, làm tâm trôi nổi. Kẻ không biết các tầm của tâm này, với tâm trí hoang mang, chạy nhảy đây đó.
Ete ca vidvā manaso vitakke, Ātāpiyo saṁvaratī satīmā; Anugate manaso uppilāve, Asesamete pajahāsi buddho”ti.
Paṭhamaṁ.
Having understood these thoughts that arise, springing up in the mind, an awakened one—keen, restrained, and mindful—has given them up without remainder.”
Và người biết rõ các tầm của tâm này, nhiệt tâm, chánh niệm, chế ngự chúng. Bậc giác ngộ đã từ bỏ hoàn toàn những thứ đi theo tâm, làm tâm trôi nổi này.