- Udāna 3.7
Sakkudānasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sakkudānasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, ở Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, đại đức Mahākassapa ngụ ở hang động Pipphali, đã thể nhập vào một loại định nọ rồi ngồi với một tư thế kiết già suốt bảy ngày.
2. Sau đó, trải qua bảy ngày ấy, đại đức Mahākassapa đã ra khỏi định ấy. Rồi khi ra khỏi định ấy, đại đức Mahākassapa đã khởi ý rằng: “Có lẽ ta nên đi vào thành Rājagaha để khất thực?” Vào lúc bấy giờ, các Thiên nhân với số lượng năm trăm vị đang có sự sốt sắng về việc thọ nhận đồ ăn khất thực của đại đức Mahākassapa. Khi ấy, sau khi từ chối các Thiên nhân với số lượng năm trăm vị, đại đức Mahākassapa vào buổi sáng đã quấn y (nội), rồi cầm lấy bình bát và y đi vào thành Rājagaha để khất thực.
3. Vào lúc bấy giờ, Thiên Chủ Sakka có ý muốn dâng đồ ăn khất thực đến đại đức Mahākassapa, nên đã biến thành hình dạng người thợ dệt đang dệt chỉ, và Sujā con gái của Chúa Atula đang cuốn đầy thoi chỉ.
4. Khi ấy, đại đức Mahākassapa trong khi đi khất thực tuần tự theo từng nhà ở thành Rājagaha đã đi đến gần chỗ ngụ của Thiên Chủ Sakka. Thiên Chủ Sakka đã nhìn thấy đại đức Mahākassapa từ đằng xa đang đi lại. Sau khi nhìn thấy đã đi ra khỏi nhà, tiếp rước, nhận lấy bình bát tận tay rồi đi vào nhà xới cơm từ nồi để đầy bình bát và dâng đến đại đức Mahākassapa. Phần cơm ấy đã trở thành đồ ăn khất thực có nhiều nước xúp, có nhiều món ăn, có nhiều món ăn có nước xúp và hương vị.
5. Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã khởi ý điều này: “Người này là ai mà lại có năng lực thần thông này?” Rồi đại đức Mahākassapa đã khởi ý điều này: “Đây là Thiên Chủ Sakka,” sau khi biết được thế ấy, đã nói với Thiên Chủ Sakka điều này: “Này Kosiya, có phải việc này đã do ông làm? Ông chớ có làm như thế này nữa.”
6. “Thưa ngài Kassapa, chúng tôi cũng cần phước báu; chúng tôi cũng nên làm phước báu.” Sau đó, Thiên Chủ Sakka đã đảnh lễ đại đức Mahākassapa, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi bay lên không trung, và ở bầu trời giữa hư không đã ba lần thốt lên lời cảm hứng rằng: “Ôi sự dâng cúng! Sự dâng cúng tối thượng đã khéo được thiết lập ở Kassapa! Ôi sự dâng cúng! Sự dâng cúng tối thượng đã khéo được thiết lập ở Kassapa!”
7. Đức Thế Tôn với Thiên nhĩ giới thanh tịnh vượt trội loài người đã nghe được Thiên Chủ Sakka đang bay lên không trung, và ở bầu trời giữa hư không đang thốt lên ba lần lời cảm hứng rằng: “Ôi sự dâng cúng! Sự dâng cúng tối thượng đã khéo được thiết lập ở Kassapa! Ôi sự dâng cúng! Sự dâng cúng tối thượng đã khéo được thiết lập ở Kassapa!”
8. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Đối với vị tỳ khưu hành pháp khất thực, tự chu cấp bản thân, không nuôi dưỡng kẻ khác, chư Thiên mong cầu vị như thế ấy, vị an tịnh, luôn có niệm.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Sakkudāna (Lời Cảm Hứng của Sakka)
27. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, trưởng lão Mahākassapa đang trú ở hang Pipphali, ngài đã ngồi kiết-già trong bảy ngày, nhập vào một loại định nào đó. Rồi, sau bảy ngày, trưởng lão Mahākassapa xuất khỏi định ấy. Sau khi xuất khỏi định ấy, trưởng lão Mahākassapa khởi lên ý nghĩ: “Ta hãy vào thành Rājagaha để khất thực.”
Tena kho pana samayena pañcamattāni devatāsatāni ussukkaṁ āpannāni honti āyasmato mahākassapassa piṇḍapātapaṭilābhāya. Atha kho āyasmā mahākassapo tāni pañcamattāni devatāsatāni paṭikkhipitvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi.
Now at that time five hundred deities were ready and eager for the chance to offer alms to Mahākassapa. But Mahākasspa turned down those deities. In the morning, he robed up, took his bowl and robe, and entered Rājagaha for alms.
Bấy giờ, có khoảng năm trăm vị thiên nữ đang nóng lòng muốn cúng dường vật thực đến trưởng lão Mahākassapa. Nhưng trưởng lão Mahākassapa đã từ chối năm trăm vị thiên nữ ấy, rồi vào buổi sáng, ngài đắp y, mang bát, và đi vào thành Rājagaha để khất thực.
Tena kho pana samayena sakko devānamindo āyasmato mahākassapassa piṇḍapātaṁ dātukāmo hoti. Pesakāravaṇṇaṁ abhinimminitvā tantaṁ vināti. Sujā asurakaññā tasaraṁ pūreti. Atha kho āyasmā mahākassapo rājagahe sapadānaṁ piṇḍāya caramāno yena sakkassa devānamindassa nivesanaṁ tenupasaṅkami. Addasā kho sakko devānamindo āyasmantaṁ mahākassapaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna gharā nikkhamitvā paccuggantvā hatthato pattaṁ gahetvā gharaṁ pavisitvā ghaṭiyā odanaṁ uddharitvā pattaṁ pūretvā āyasmato mahākassapassa adāsi. So ahosi piṇḍapāto anekasūpo anekabyañjano anekarasabyañjano. Atha kho āyasmato mahākassapassa etadahosi: “ko nu kho ayaṁ satto yassāyaṁ evarūpo iddhānubhāvo”ti? Atha kho āyasmato mahākassapassa etadahosi: “sakko kho ayaṁ devānamindo”ti. Iti viditvā sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca: “kataṁ kho te idaṁ, kosiya; mā punapi evarūpamakāsī”ti. “Amhākampi, bhante kassapa, puññena attho; amhākampi puññena karaṇīyan”ti.
Now at that time Sakka, lord of gods, wished to give alms to Mahākassapa. Having manifested in the appearance of an embroiderer, he wove the thread. The titan maiden Sujā spun it onto the spindle. Then, as Mahākassapa wandered indiscriminately for almsfood in Rājagaha, he approached Sakka’s house. Seeing Mahākassapa coming off in the distance, Sakka came out of his house, greeted him, and took the bowl from his hand. He re-entered the house and filled the bowl with rice from the pot. That almsfood had many tasty soups and sauces. Then it occurred to Mahākassapa, “Now, what being is this who has such psychic power?” It occurred to him, “This is Sakka, lord of gods.” Knowing this, he said to Sakka, “This is your doing, Kosiya; don’t do such a thing again.” “But Honorable Kassapa, we too need merit! We too ought to make merit.”
Vào lúc bấy giờ, Sakka, vua của chư thiên, có ý muốn dâng vật thực đến trưởng lão Mahākassapa. (Vị ấy) hóa thân thành người thợ dệt và đang dệt vải. Sujā, con gái của vị asura, đang làm đầy con thoi. Khi ấy, trưởng lão Mahākassapa trong lúc đang đi khất thực theo thứ tự từng nhà ở thành Rājagaha đã đi đến trú xá của Sakka, vua của chư thiên. Sakka, vua của chư thiên, đã nhìn thấy trưởng lão Mahākassapa đang đi đến từ xa. Sau khi nhìn thấy, (vị ấy) đi ra khỏi nhà, đi đến đón rước, cầm lấy bình bát từ tay (của trưởng lão), đi vào nhà, lấy cơm từ trong nồi, đặt đầy vào bình bát, rồi dâng lên cho trưởng lão Mahākassapa. Vật thực ấy có nhiều món canh, nhiều món đồ ăn, và nhiều món ăn có hương vị. Khi ấy, trưởng lão Mahākassapa đã suy nghĩ như vầy: ‘Chúng sanh này là ai mà có được thần lực như thế này?’ Rồi trưởng lão Mahākassapa đã suy nghĩ như vầy: ‘Vị này chính là Sakka, vua của chư thiên.’ Sau khi biết được như vậy, ngài đã nói với Sakka, vua của chư thiên, điều này: ‘Này Kosiya, việc này đã được ông thực hiện. Xin đừng làm việc tương tự như vậy một lần nữa.’ (Sakka đáp:) ‘Bạch ngài Kassapa, chúng tôi cũng cần đến phước báu; chúng tôi cũng cần phải tạo phước báu.’
Atha kho sakko devānamindo āyasmantaṁ mahākassapaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā vehāsaṁ abbhuggantvā ākāse antalikkhe tikkhattuṁ udānaṁ udānesi: “aho dānaṁ paramadānaṁ kassape suppatiṭṭhitaṁ. Aho dānaṁ paramadānaṁ kassape suppatiṭṭhitaṁ. Aho dānaṁ paramadānaṁ kassape suppatiṭṭhitan”ti. Assosi kho bhagavā dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya sakkassa devānamindassa vehāsaṁ abbhuggantvā ākāse antalikkhe tikkhattuṁ udānaṁ udānentassa: “aho dānaṁ paramadānaṁ kassape suppatiṭṭhitaṁ. Aho dānaṁ paramadānaṁ kassape suppatiṭṭhitaṁ. Aho dānaṁ paramadānaṁ kassape suppatiṭṭhitan”ti.
Then Sakka bowed and respectfully circled Mahākassapa, keeping him on his right. Then he rose into the air and, sitting cross-legged in midair, expressed this heartfelt sentiment three times: “Oh the gift, the best gift is well established in Kassapa! Oh the gift, the best gift is well established in Kassapa! Oh the gift, the best gift is well established in Kassapa!” With clairaudience that is purified and superhuman, the Buddha heard Sakka express this heartfelt sentiment while sitting in the sky.
Khi ấy, Sakka, vua của chư thiên, sau khi đảnh lễ trưởng lão Mahākassapa và đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, đã bay lên không trung và ở giữa hư không đã thốt lên lời cảm hứng ba lần: ‘Ôi, sự bố thí, sự bố thí tối thượng, đã được khéo đặt vững chắc nơi ngài Kassapa! Ôi, sự bố thí, sự bố thí tối thượng, đã được khéo đặt vững chắc nơi ngài Kassapa!! Ôi, sự bố thí, sự bố thí tối thượng, đã được khéo đặt vững chắc nơi ngài Kassapa!!!’ Đức Thế Tôn, với thiên nhĩ thông thanh tịnh, vượt ngoài khả năng của con người, đã nghe được lời của Sakka, vua của chư thiên, trong lúc vị ấy bay lên không trung và ở giữa hư không đang thốt lên lời cảm hứng ba lần: ‘Ôi, sự bố thí, sự bố thí tối thượng, đã được khéo đặt vững chắc nơi ngài Kassapa! Ôi, sự bố thí, sự bố thí tối thượng, đã được khéo đặt vững chắc nơi ngài Kassapa!! Ôi, sự bố thí, sự bố thí tối thượng, đã được khéo đặt vững chắc nơi ngài Kassapa!!!’
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Khi ấy, đức Thế Tôn, sau khi biết được ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Piṇḍapātikassa bhikkhuno, Attabharassa anaññaposino; Devā pihayanti tādino, Upasantassa sadā satīmato”ti.
Sattamaṁ.
“A mendicant who relies on alms, self-supported, providing for no other; the unaffected one is envied by even the gods, calm and ever mindful.”
‘Vị tỳ khưu đi khất thực, tự nuôi sống bản thân, không được người khác nuôi dưỡng; chư thiên ái mộ vị ấy, người như thế, người đã được an tịnh, người luôn luôn chánh niệm.’