- Udāna 3.6
Pilindavacchasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Pilindavacchasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, ở Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, đại đức Pilindivaccha đối xử với các vị tỳ khưu bằng tiếng xưng hô kẻ hạ tiện. Sau đó, nhiều vị tỳ khưu đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, các vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, đại đức Pilindivaccha đối xử với các vị tỳ khưu bằng tiếng xưng hô kẻ hạ tiện.”
2. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo một vị tỳ khưu khác rằng: “Này tỳ khưu, hãy lại đây. Ngươi hãy bảo tỳ khưu Pilindivaccha với lời nói của Ta rằng: ‘Này đại đức Pilindivaccha, bậc Đạo Sư gọi đại đức.’” “Bạch Ngài, xin vâng.” Vị tỳ khưu ấy nghe theo đức Thế Tôn đã đi đến gặp đại đức Pilindivaccha, sau khi đến đã nói với đại đức Pilindivaccha điều này: “Này đại đức, bậc Đạo Sư gọi đại đức.” “Này đại đức, xin vâng.” Đại đức Pilindivaccha nghe theo vị tỳ khưu ấy đã đi đến gặp đức Thế tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi vị ấy đã ngồi xuống ở một bên, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Pilindivaccha điều này: “Này Pilindivaccha, nghe nói ngươi đối xử với các vị tỳ khưu bằng tiếng xưng hô kẻ hạ tiện, có đúng không vậy?” “Bạch Ngài, đúng vậy.”
3. Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi tác ý đến đời sống trước đây của đại đức Pilindivaccha rồi đã bảo các vị tỳ khưu rằng: “Này các vị tỳ khưu, các ngươi chớ có phàn nàn tỳ khưu Vaccha. Này các tỳ khưu, không phải Vaccha có nội tâm sân hận mà đối xử với các vị tỳ khưu bằng tiếng xưng hô kẻ hạ tiện. Này các tỳ khưu, tỳ khưu Vaccha có năm trăm kiếp sống không gián đoạn đã được tái sanh ở gia tộc Bà-la-môn. Đối với vị ấy, tiếng xưng hô kẻ hạ tiện ấy đã bị tập nhiễm lâu dài. Vì thế, Vaccha này đối xử với các vị tỳ khưu bằng tiếng xưng hô kẻ hạ tiện.”
4. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Ở người nào không có xảo quyệt trú ngụ, không có ngã mạn, người nào có tham đã lìa, không sở hữu, không mong mỏi, có sự giận dữ đã được xua đi, có bản thân đã được tịch tịnh, người ấy là Bà-la-môn, người ấy là Sa-môn, người ấy là tỳ khưu.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Pilindavaccha
26. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, trưởng lão Pilindavaccha thường xưng hô với các tỳ khưu bằng cách gọi là ‘người hạ tiện’. Rồi, một số đông các tỳ khưu đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các tỳ khưu ấy bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, trưởng lão Pilindavaccha thường xưng hô với các tỳ khưu bằng cách gọi là ‘người hạ tiện’.”
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena pilindavacchaṁ bhikkhuṁ āmantehi: ‘satthā taṁ, āvuso pilindavaccha, āmantetī’”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yenāyasmā pilindavaccho tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ pilindavacchaṁ etadavoca: “satthā taṁ, āvuso pilindavaccha, āmantetī”ti.
So the Buddha addressed one of the monks, “Please, monk, in my name tell the mendicant Pilindavaccha that the Teacher summons him.” “Yes, sir,” that monk replied. He went to Pilindavaccha and said to him, “Reverend Pilindavaccha, the Teacher summons you.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn gọi một tỳ khưu đến và bảo: “Này tỳ khưu, hãy đi, nhân danh ta, hãy gọi tỳ khưu Pilindavaccha lại đây và nói: ‘Thưa hiền giả Pilindavaccha, bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả.’” Vị tỳ khưu ấy vâng lời đức Thế Tôn: “Xin vâng, bạch Thế Tôn,” rồi đi đến chỗ trưởng lão Pilindavaccha; sau khi đến, vị ấy nói với trưởng lão Pilindavaccha: “Thưa hiền giả Pilindavaccha, bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả.”
“Evamāvuso”ti kho āyasmā pilindavaccho tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ pilindavacchaṁ bhagavā etadavoca: “saccaṁ kira tvaṁ, vaccha, bhikkhū vasalavādena samudācarasī”ti? “Evaṁ, bhante”ti.
“Yes, reverend,” Pilindavaccha replied. He went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him: “Is it really true, Vaccha, that you addressed the mendicants as ‘lowlifes’?” “Yes, sir,” he replied.
Trưởng lão Pilindavaccha vâng lời vị tỳ khưu ấy: “Vâng, thưa hiền giả,” rồi đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, ông đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi trưởng lão Pilindavaccha đang ngồi một bên, đức Thế Tôn đã nói với ông như sau: “Này Vaccha, có thật là ông thường xưng hô với các tỳ khưu bằng cách gọi là ‘người hạ tiện’ không?” “Dạ vâng, bạch Thế Tôn.”
Atha kho bhagavā āyasmato pilindavacchassa pubbenivāsaṁ manasi karitvā bhikkhū āmantesi: “mā kho tumhe, bhikkhave, vacchassa bhikkhuno ujjhāyittha. Na, bhikkhave, vaccho dosantaro bhikkhū vasalavādena samudācarati. Vacchassa, bhikkhave, bhikkhuno pañca jātisatāni abbokiṇṇāni brāhmaṇakule paccājātāni. So tassa vasalavādo dīgharattaṁ samudāciṇṇo. Tenāyaṁ vaccho bhikkhū vasalavādena samudācaratī”ti.
Then, having applied his mind to Pilindavaccha’s past lives, the Buddha said to the mendicants, “Mendicants, don’t complain about the mendicant Vaccha. He doesn’t address the mendicants as ‘lowlifes’ out of hate. For five hundred lives without interruption he was reborn in a brahmin family. For a long time, he has addressed people as ‘lowlife’. That’s why he addresses the mendicants as ‘lowlifes’.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi tác ý đến tiền kiếp của trưởng lão Pilindavaccha, đã bảo các tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, các ông chớ nên phàn nàn về tỳ khưu Vaccha. Này các tỳ khưu, không phải do sân hận mà Vaccha xưng hô với các tỳ khưu bằng cách gọi là ‘người hạ tiện’. Này các tỳ khưu, tỳ khưu Vaccha đã tái sanh liên tục năm trăm kiếp trong dòng dõi bà-la-môn. Cách gọi ‘người hạ tiện’ ấy đã được ông ta quen dùng từ lâu. Vì thế nên Vaccha này mới xưng hô với các tỳ khưu bằng cách gọi là ‘người hạ tiện’.”
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi đã hiểu rõ ý nghĩa ấy, vào lúc ấy, đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Yamhi na māyā vasatī na māno, Yo vītalobho amamo nirāso; Paṇunnakodho abhinibbutatto, So brāhmaṇo so samaṇo sa bhikkhū”ti.
Chaṭṭhaṁ.
“In whom dwells no deceit or conceit, rid of greed, unselfish, <j>with no need for hope, with anger cast aside, quenched: they are a brahmin, an ascetic, a mendicant.”
“Vị nào không có lừa dối, không có kiêu mạn, vị nào đã thoát khỏi tham ái, không còn sở hữu, không còn hy vọng, đã loại trừ sân hận, tự thân đã được tịch tịnh; vị ấy là bà-la-môn, vị ấy là sa-môn, vị ấy là tỳ khưu.” (Thứ sáu).