- Therīgāthā 6.7
- Chakkanipāta
Guttātherīgāthā
“Gutte yadatthaṁ pabbajjā, hitvā puttaṁ vasuṁ piyaṁ; Tameva anubrūhehi, mā cittassa vasaṁ gami.
Bản dịch
Guttātherīgāthā
BJT 163“Này Guttā, sau khi lìa bỏ con trai và gia súc yêu quý, (cô có) sự xuất gia với mục đích nào thì cô hãy đeo đuổi chính mục đích ấy, chớ rơi vào sự tác động của tâm.
BJT 164Bị tâm lường gạt, được thích thú ở lãnh địa của Ma Vương, chúng sanh trải qua sự luân hồi trong nhiều kiếp sống, không hiểu biết.
BJT 165Sự ham muốn về các dục, ác tâm, và luôn cả sự nhận thức sai trái về thân, sự bám víu vào giới và nghi thức, và hoài nghi là thứ năm.
BJT 166Này tỳ khưu ni, sau khi từ bỏ những sự ràng buộc có khả năng đưa đến (các cảnh giới) hạng thấp ấy, cô sẽ không trở lại nơi này nữa.
BJT 167Sau khi bỏ đi luyến ái, ngã mạn, vô minh, và loạn động, sau khi cắt đứt những sự ràng buộc, cô sẽ thực hiện việc chấm dứt khổ đau.
BJT 168Sau khi tiêu trừ việc luân hồi tái sanh, sau khi biết toàn diện về việc hiện hữu lần nữa, ngay trong thời hiện tại, không còn cơn đói, cô sẽ sống được an tịnh.”
Trưởng lão ni Guttā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Guttā.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Gutte yadatthaṁ pabbajjā, hitvā puttaṁ vasuṁ piyaṁ; Tameva anubrūhehi, mā cittassa vasaṁ gami.
Guttā, you have given up your child, your wealth, and all that you love. Foster the goal for which you went forth; do not fall under the mind’s control.
“Này Guttā, vì mục đích nào mà nàng đã xuất gia, từ bỏ con trai và tài sản thân yêu, chỉ hãy làm cho tăng trưởng mục đích ấy. Chớ có đi vào quyền lực của tâm.”
Cittena vañcitā sattā, mārassa visaye ratā; Anekajātisaṁsāraṁ, sandhāvanti aviddasū.
Beings deceived by the mind, playing in Māra’s domain, ignorant, they journey on, transmigrating through countless rebirths.
“Các chúng sanh bị tâm lừa dối, những người không hiểu biết, thích thú trong đối tượng của Māra, chạy lang thang trong vòng luân hồi nhiều kiếp sanh.”
Kāmacchandañca byāpādaṁ, sakkāyadiṭṭhimeva ca; Sīlabbataparāmāsaṁ, vicikicchañca pañcamaṁ.
Sensual desire and ill will, and substantialist view; misapprehension of precepts and observances, and doubt as the fifth.
“Dục tham, và sân, và cả thân kiến, giới cấm thủ, và thứ năm là hoài nghi.”
Saṁyojanāni etāni, pajahitvāna bhikkhunī; Orambhāgamanīyāni, nayidaṁ punarehisi.
O nun, when you have given up these lower fetters, you won’t come back to this world again.
“Này tỳ-khưu-ni, sau khi đã từ bỏ những kiết sử dẫn đến hạ giới này, cô sẽ không còn trở lại đây nữa.”
Rāgaṁ mānaṁ avijjañca, uddhaccañca vivajjiya; Saṁyojanāni chetvāna, dukkhassantaṁ karissasi.
And when you’re rid of desire, conceit, ignorance, and restlessness, having cut the fetters, you’ll make an end to suffering.
“Sau khi đã tránh xa tham ái, mạn, và vô minh, và cả trạo cử, sau khi đã cắt đứt các kiết sử, nàng sẽ thực hiện sự chấm dứt khổ đau.”
Khepetvā jātisaṁsāraṁ, pariññāya punabbhavaṁ; Diṭṭheva dhamme nicchātā, upasantā carissatī”ti.
… Guttā therī ….
Having wiped out transmigration, and fully understood rebirth, hungerless in this very life, you will live at peace.
“Sau khi đã làm cho cạn kiệt vòng luân hồi sanh tử, sau khi đã liễu tri sự tái sanh, ngay trong hiện tại, không còn khao khát, được an tịnh, nàng sẽ an trú.”