- Therīgāthā 6.4
- Chakkanipāta
Sujātātherīgāthā
“Alaṅkatā suvasanā, mālinī candanokkhitā; Sabbābharaṇasañchannā, dāsīgaṇapurakkhatā.
Annaṁ pānañca ādāya, khajjaṁ bhojjaṁ anappakaṁ; Gehato nikkhamitvāna, uyyānamabhihārayiṁ.
Bản dịch
Sujātātherīgāthā
BJT 145“Được trang điểm, có y phục đẹp, có tràng hoa, được bôi trầm hương, được che phủ với tất cả các đồ trang sức, (tôi) dẫn đầu đám nữ tỳ.
BJT 146Sau khi cầm lấy cơm và nước, vật thực cứng mềm không phải là ít, sau khi rời khỏi nhà, tôi đã cho mang đến vườn hoa.
BJT 147Sau khi đã vui thú và đùa giỡn ở nơi ấy, trong khi đi về lại nhà của mình, tôi đã nhìn thấy tu viện và tôi đã đi vào khu rừng Añjana ở Sāketa.
BJT 148Sau khi nhìn thấy đấng Quang Đăng của thế gian, tôi đã đảnh lễ và đã ngồi xuống. Bậc Hữu Nhãn ấy, vì lòng bi mẫn, đã thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi.
BJT 149Và sau khi lắng nghe, quả nhiên tôi đã thấu triệt Chân Lý của bậc Đại Ẩn Sĩ. Ngay tại nơi ấy, tôi đã chạm đến Giáo Pháp vô nhiễm, vị thế Bất Tử.
BJT 150Sau đó, nhận thức được Chánh Pháp, tôi đã xuất gia sống đời không nhà. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật là không vô ích.”
Trưởng lão ni Sujātā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Sujātā.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Alaṅkatā suvasanā, mālinī candanokkhitā; Sabbābharaṇasañchannā, dāsīgaṇapurakkhatā.
Annaṁ pānañca ādāya, khajjaṁ bhojjaṁ anappakaṁ; Gehato nikkhamitvāna, uyyānamabhihārayiṁ.
I was adorned with jewelry and all dressed up, with garlands, and sandalwood makeup piled on, all covered over with decorations, and surrounded by my maids.
Taking food and drink, staples and dainties in no small amount, I left my house and took myself to the park.
“Mang theo cơm nước và nhiều món ăn cứng, món ăn mềm, sau khi rời khỏi nhà, tôi đã mang đến khu vườn.”
Tattha ramitvā kīḷitvā, āgacchantī sakaṁ gharaṁ; Vihāraṁ daṭṭhuṁ pāvisiṁ, sākete añjanaṁ vanaṁ.
I enjoyed myself there and played about, and then, returning to my own house, I saw a monastic dwelling, and so I entered the Añjana wood at Sāketa.
“Ở đó, sau khi vui chơi nô đùa, trên đường trở về nhà, tôi đã vào xem tịnh xá trong rừng Añjana ở Sāketa.”
Disvāna lokapajjotaṁ, vanditvāna upāvisiṁ; So me dhammamadesesi, anukampāya cakkhumā.
Seeing the light of the world, I paid homage and sat down. Out of compassion the Clear-eyed One taught me the Dhamma.
“Thấy ngọn đèn của thế gian, tôi đảnh lễ và đến gần. Bậc có năm loại mắt ấy, với lòng bi mẫn, đã thuyết Pháp cho tôi.”
Sutvā ca kho mahesissa, saccaṁ sampaṭivijjhahaṁ; Tattheva virajaṁ dhammaṁ, phusayiṁ amataṁ padaṁ.
When I heard the great seer, I penetrated the truth. Right there I found the stainless Dhamma, the state free of death.
“Nghe Pháp của bậc Đại Sĩ, tôi đã thấu triệt chân lý. Ngay tại đó, tôi đã chứng ngộ Pháp không còn trần cấu, cảnh giới bất tử.”
Tato viññātasaddhammā, pabbajiṁ anagāriyaṁ; Tisso vijjā anuppattā, amoghaṁ buddhasāsanan”ti.
… Sujātā therī ….
Then, having understood the true teaching, I went forth to homelessness. I’ve attained the three knowledges; the Buddha’s bidding was not in vain.
“Sau khi biết được Chánh pháp, tôi đã xuất gia, sống đời không gia đình. Ba minh đã được chứng đắc, giáo pháp của Đức Phật không hề uổng phí.”