Bản dịch
THI -ap6 — Ký Sự về Ekapiṇḍapātadāyikā
Ekapiṇḍapātadāyikātherīapadāna
BJT 46Ở thành phố Bandhumatī, có vị Sát-đế-lỵ tên là Bandhumā. Tôi đã là người vợ của vị vua ấy. Có một lần tôi đã khiến (người) đưa tôi đi (du ngoạn).
BJT 47Khi ấy, tôi đã đi đến nơi thanh vắng và ngồi xuống, tôi đã suy nghĩ như vầy: “Dầu đã đạt được vị thế xứng đáng, nhưng không điều lành nào đã được ta thực hiện!
BJT 48Có lẽ ta sẽ đi đến địa ngục là nơi vô cùng nóng bức, khổ sở, có dáng vẻ rùng rợn, vô cùng khiếp đảm; điều này đối với ta là không có sự hoài nghi (nữa).”
BJT 49Tôi đã đi đến gặp đức vua và đã nói lời nói này: “Tâu vị Sát-đế-lỵ, xin hãy ban cho thiếp một vị sa-môn. Thiếp sẽ chăm lo về vật thực.”
BJT 50Vị đại vương đã ban cho tôi (một) vị sa-môn có (các) giác quan đã được tu tập. Sau khi nhận lấy bình bát của vị ấy, tôi đã đặt đầy (bình bát) với vật thực thượng hạng.
BJT 51Sau khi đã đặt đầy (bình bát) với vật thực thượng hạng, tôi đã thoa dầu thơm. rồi đã che đậy lại bằng xấp vải đôi có giá trị đến một ngàn.
BJT 52Đối với tôi, tôi (sẽ) ghi nhớ cảnh tượng này đến hết cuộc đời. Sau khi làm cho tâm được tịnh tín vào điều ấy, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 53Tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của ba mươi vị Thiên Vương. Điều ước nguyện trong tâm của tôi là được tái sanh theo như ước muốn.
BJT 54Tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của hai mươi đấng Chuyển Luân Vương. Sau khi thành tựu kết quả, tôi luân hồi ở nhiều cõi.
BJT 55Tôi đã được giải thoát khỏi tất cả các điều trói buộc. Đối với tôi, các sự liên quan đến tái sanh đã xa lìa, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 56Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của món vật thực.
BJT 57Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 58Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 59Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Ký sự về trưởng lão ni Ekapiṇḍapātadāyikā là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Ekapiṇḍapātadāyikātherīapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Nun Ekapiṇḍapātadāyikā
6. Thánh tích Trưởng lão ni Ekapiṇḍapātadāyikā
46.
46.
46.
‘‘Nagare bandhumatiyā, bandhumā nāma khattiyo;
Tassa rañño ahuṃ bhariyā, ekajjhaṃ cārayāmahaṃ †.
In the city of Bandhumatī, there was a khattiya named Bandhumā. I was the wife of that king; we conducted ourselves together.
Tại thành Bandhumatī, có vị quốc vương tên là Bandhumā. Ta đã là hoàng hậu của vị vua ấy, ta đã cùng nhau thực hành (pháp).
47.
47.
47.
‘‘Rahogatā nisīditvā, evaṃ cintesahaṃ tadā;
‘Ādāya gamanīyañhi, kusalaṃ natthi me kataṃ.
Having gone to a secluded place and sat down, I then reflected thus: ‘There is no wholesome kamma done by me to be taken along on my journey.’
Vào lúc ấy, sau khi đi đến nơi vắng vẻ và ngồi xuống, ta đã suy nghĩ như vầy: ‘Thiện nghiệp đã được ta thực hiện để có thể mang theo (trong vòng luân hồi) quả là không có.’
48.
48.
48.
‘‘‘Mahābhitāpaṃ kaṭukaṃ, ghorarūpaṃ sudāruṇaṃ;
Nirayaṃ nūna gacchāmi, ettha me natthi saṃsayo’.
‘To a hell of great torment, bitter, frightful in form, and very terrible—surely I will go; in this, I have no doubt.’
‘Chắc chắn ta sẽ đi đến cảnh địa ngục, nơi vô cùng nóng bức, cay đắng, có hình tướng ghê rợn, và rất tàn khốc. Về điều này, ta không có sự hoài nghi.’
49.
49.
49.
‘‘Rājānaṃ upasaṅkamma, idaṃ vacanamabraviṃ;
‘Ekaṃ me samaṇaṃ dehi, bhojayissāmi khattiya’.
Having approached the king, I spoke this word: ‘O Khattiya, give me one ascetic; I will provide him with food.’
Sau khi đến gần đức vua, ta đã nói lên lời này: ‘Tâu hoàng thượng thuộc dòng Sát-đế-lỵ, xin hãy ban cho tiện nữ một vị Sa-môn, tiện nữ sẽ cúng dường vị ấy.’
50.
50.
50.
‘‘Adāsi me mahārājā, samaṇaṃ bhāvitindriyaṃ;
Tassa pattaṃ gahetvāna, paramannena pūrayiṃ †.
The great king gave me an ascetic with developed faculties. Taking his bowl, I filled it with excellent food.
Đức vua vĩ đại đã ban cho ta vị Sa-môn có các căn được tu tập. Sau khi nhận lấy bình bát của vị ấy, ta đã đổ đầy vật thực thượng hạng.
51.
51.
51.
‘‘Pūrayitvā paramannaṃ, gandhālepaṃ akāsahaṃ;
Jālena pidahitvāna, vatthayugena † chādayiṃ.
Having filled it with excellent food, I applied fragrant ointment. Having covered it with a net, I covered it with a pair of cloths.
Sau khi đổ đầy vật thực thượng hạng, ta đã thoa các loại hương thơm. Sau khi đậy lại bằng tấm lưới, ta đã che phủ bằng cặp vải.
52.
52.
52.
‘‘Ārammaṇaṃ mamaṃ etaṃ, sarāmi yāvajīvihaṃ;
Tattha cittaṃ pasādetvā, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
This was my object of recollection, which I remembered for as long as I lived. Having made my mind confident in that, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Ta đã ghi nhớ đối tượng ấy của ta cho đến trọn đời. Sau khi đã làm cho tâm ý trong sạch ở nơi ấy, ta đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
53.
53.
53.
‘‘Tiṃsānaṃ devarājūnaṃ, mahesittamakārayiṃ;
Manasā patthitaṃ mayhaṃ, nibbattati yathicchitaṃ †.
I was the chief queen of thirty kings of the devas; whatever I wished for in my mind arose for me as desired.
Ta đã làm hoàng hậu của ba mươi vị thiên vương. Điều được tâm ta mong cầu đã được phát sanh theo như ý muốn.
54.
54.
54.
‘‘Vīsānaṃ cakkavattīnaṃ, mahesittamakārayiṃ;
Ocitattāva † hutvāna, saṃsarāmi bhavesvahaṃ.
I was the chief queen of twenty wheel-turning monarchs; having thus accumulated merit, I wandered through states of existence.
Ta đã làm hoàng hậu của hai mươi vị Chuyển Luân Vương. Sau khi đã có được tự thân tích lũy (phước báu), ta đã trôi lăn trong các kiếp sống.
55.
55.
55.
‘‘Sabbabandhanamuttāhaṃ, apetā me upādikā;
Sabbāsavaparikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
I am freed from all fetters, my substrates of existence are gone; all the taints have been destroyed, now there is no more renewed existence.
Ta đã được giải thoát khỏi tất cả sự trói buộc, các phiền não tiềm ẩn của ta đã được loại bỏ. Tất cả các lậu hoặc đã được đoạn trừ, giờ đây không còn tái sanh.
56.
56.
56.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ dānamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, piṇḍapātassidaṃ phalaṃ.
In the ninety-first eon from this one, when I gave that gift, I have known no bad destination; this is the fruit of the gift of almsfood.
Kể từ kiếp thứ chín mươi mốt tính từ kiếp này, vào lúc ấy ta đã thực hiện việc bố thí nào, (kể từ đó) ta không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường vật thực.
57.
57.
57.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
My defilements are burned up … I dwell free from taints.
Các phiền não của ta đã được đốt cháy ... ta sống không còn lậu hoặc.
58.
58.
58.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming … the Buddha’s teaching has been done.
Sự đến của ta quả là khéo đến ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
59.
59.
59.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges … the Buddha’s teaching has been done.”
Bốn Tuệ Phân Tích ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ ekapiṇḍapātadāyikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, it is said, the Bhikkhunī Ekapiṇḍapātadāyikā recited these verses.
Quả thật vậy, Tỳ-khưu-ni Ekapiṇḍapātadāyikā đã nói những câu kệ này.
Ekapiṇḍapātadāyikātheriyāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The Apadāna of the Elder Nun Ekapiṇḍapātadāyikā, the Sixth.
Thánh nữ ký sự của Trưởng lão ni Ekapiṇḍapātadāyikā, phẩm thứ sáu.