Bản dịch
THI -ap40 — Ký Sự về Pesalā
10 Pesalātherīapadāna
BJT 1323Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên là Kassapa, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
BJT 1324Con đã được sanh ra trong gia đình cư sĩ tại kinh thành Sāvatthī. Sau khi nhìn thấy đấng Chiến Thắng cao quý ấy con đã lắng nghe lời thuyết giảng.
BJT 1325Sau khi đi đến nương tựa vào vị Anh Hùng ấy, con đã thọ trì các giới. Có lần nọ bậc Đại Hùng ấy ở tại cuộc tụ hội của đám đông dân chúng.
BJT 1326Đấng Nhân Ngưu đã công bố quả vị Chánh Đẳng Giác của mình: “Về các pháp trước đây chưa từng được nghe, về khổ, v.v…
BJT 1327(Pháp) nhãn, trí, tuệ, minh, và ánh sáng đã có cho Ta.” Sau khi lắng nghe điều ấy, con đã học và đã vấn hỏi các vị tỳ khưu.
BJT 1328Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại con đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 1329Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, được sanh ra trong đại gia đình triệu phú con đã đi đến đức Phật và đã lắng nghe Chánh Pháp bao gồm các Sự Thật.
BJT 1330Sau khi xuất gia chẳng bao lâu, trong khi suy xét về ý nghĩa của các Sự Thật, con đã quăng bỏ tất cả các lậu hoặc và đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 1331Bạch đấng Đại Hiền Trí, con đã có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, con đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
BJT 1332Con biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 1333Trí tuệ của con về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là trong sạch, không bợn nhơ, nhờ vào sự tác động của đức Phật tối thượng.
BJT 1334Các phiền não của con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), con sống không còn lậu hoặc.
BJT 1335Quả vậy, con đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 1336Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được con đắc chứng; con đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Pesalā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Pesalā là phần thứ mười.
Phẩm Sát-đế-lỵ là phẩm thứ tư.
TÓM LƯỢC CỦA PHẨM NÀY:
Các vị ni dòng Sát-đế-lỵ, luôn cả các vị ni dòng Bà-la-môn, tương tợ như thế là vị ni Uppaladāyikā, vị ni Sigālamātā, vị ni Sukkā, vị ni vô cùng xinh đẹp (Rūpanandā), vị ni Aḍḍhakāsikā, vị ni Puṇṇā, vị ni Ambapālī, và vị ni Pesalā ấy là mười. Ở đây, có hai trăm câu kệ ngôn và thêm vào bốn mươi hai câu nữa.
GIỜ LÀ PHẦN TÓM LƯỢC CỦA CÁC PHẨM:
(Bốn Phẩm) Sumedhā, Ekūposathā, Kuṇḍalakesī, Khattiyā được gộp chung lại có một ngàn ba trăm bốn mươi bảy kệ ngôn. Cùng với các câu kệ của phần tóm lược đã được tính đếm bởi các bậc trí là một ngàn ba trăm năm mươi bảy câu kệ cả thảy.
Ký Sự về Trưởng Lão Ni được đầy đủ.
Bộ Kinh Apadāna được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Pesalātherīapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Nun Pesalā
10. Trưởng Lão Ni Sự của ni trưởng Pesalā
220.
220.
220.
‘‘Imamhi bhaddake kappe, brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena, uppajji vadataṃ varo.
“In this auspicious eon, a kinsman of Brahmā, of great renown, Kassapa by clan, the foremost of speakers, arose.”
Trong kiếp hiền kiếp này, bậc thân quyến của Phạm Thiên, có danh tiếng lớn, tên là Kassapa theo dòng họ, bậc tối thượng của những người thuyết giảng, đã sanh khởi.
221.
221.
221.
‘‘Sāvatthiyaṃ pure vare, upāsakakule ahaṃ;
Pasūtā taṃ † jinavaraṃ, disvā sutvā ca desanaṃ.
“In the excellent city of Sāvatthī, I was born into a lay follower’s family. Having seen that supreme Victor and heard his teaching,”
Tại thành phố Sāvatthī cao quý, tôi đã được sanh ra trong gia đình của một người cận sự. Sau khi đã nhìn thấy và nghe được lời thuyết giảng của đấng Chiến Thắng cao cả ấy.
222.
222.
222.
‘‘Taṃ vīraṃ saraṇaṃ gantvā, sīlāni ca samādiyiṃ;
Kadāci so mahāvīro, mahājanasamāgame.
“having gone for refuge to that hero, I undertook the precepts. Once, that great hero, in a great assembly of people,”
Sau khi đã đi đến quy y nơi bậc Anh Hùng ấy, tôi cũng đã thọ trì các giới. Có một lần, bậc Đại Hùng ấy, ở giữa đại chúng.
223.
223.
223.
‘‘Attano abhisambodhiṃ, pakāsesi narāsabho;
Ananussutadhammesu, pubbe dukkhādikesu ca.
“the bull among men, declared his own perfect enlightenment concerning things unheard of before, such as suffering and so on.”
Bậc Ngưu Vương giữa loài người đã tuyên thuyết về sự toàn giác của chính ngài, về các pháp chưa từng được nghe trước đây, về khổ và các pháp tương tự.
224.
224.
224.
‘‘Cakkhu ñāṇañca paññā ca, vijjāloko ca āsi me;
Taṃ sutvā uggahetvāna, paripucchiñca bhikkhavo.
“‘The eye, knowledge, wisdom, and the light of true knowledge arose in me.’ Having heard that teaching and learned it, I questioned the bhikkhus.”
Nhãn, trí, tuệ, và ánh sáng của minh đã khởi sanh nơi tôi. Sau khi nghe và học hỏi điều ấy, tôi đã hỏi các vị Tỳ-khưu.
225.
225.
225.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
“By that well-done kamma, and by my aspirations and resolutions, having abandoned the human body, I went to Tāvatiṃsa.”
Do nghiệp đã được làm tốt đẹp ấy, và do các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
226.
226.
226.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, jātā seṭṭhimahākule;
Upecca buddhaṃ saddhammaṃ, sutvā saccūpasaṃhitaṃ.
“And now, in this last existence, born in a great merchant family, having approached the Buddha and heard the good Dhamma connected with the truths,”
Và bây giờ, trong kiếp sống cuối cùng, tôi được sanh ra trong một gia đình trưởng giả lớn. Sau khi đã đến gần đức Phật và nghe được diệu pháp liên quan đến các sự thật.
227.
227.
227.
‘‘Pabbajitvācireneva, saccatthāni † vicintayaṃ;
Khepetvā āsave sabbe, arahattamapāpuṇiṃ.
“having gone forth, not long after, while reflecting on the meaning of the truths, I exhausted all the taints and attained arahantship.”
Sau khi xuất gia, không bao lâu sau, trong khi suy xét về ý nghĩa của các sự thật, tôi đã đoạn tận tất cả các lậu hoặc và đã chứng đắc A-la-hán quả.
228.
228.
228.
‘‘Iddhīsu ca vasī homi, dibbāya sotadhātuyā;
Cetopariyañāṇassa, vasī homi mahāmune.
“I am a master of psychic powers and of the divine ear-element; I am a master of the knowledge of penetrating minds, O great sage.”
Thưa bậc Đại ẩn sĩ, tôi là người thuần thục về các thần thông, về thiên nhĩ giới, và tôi là người thuần thục về tha tâm thông.
229.
229.
229.
‘‘Pubbenivāsaṃ jānāmi, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Sabbāsavaparikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
“I know my past existences; the divine eye is purified. All taints are destroyed; now there is no more renewed existence.”
Tôi biết được các tiền kiếp, thiên nhãn đã được thanh tịnh. Tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, bây giờ không còn tái sanh nữa.
230.
230.
230.
‘‘Atthadhammaniruttīsu, paṭibhāne tatheva ca;
Ñāṇaṃ me vimalaṃ suddhaṃ, buddhaseṭṭhassa vāhasā.
“In meaning, in the Dhamma, in language, and likewise in ready wit, my knowledge is immaculate and pure, by the power of the Buddha, the Best.”
Về nghĩa, pháp, và ngữ, và cũng tương tự như thế về biện tài, trí tuệ của tôi không tỳ vết và trong sạch, nhờ vào năng lực của đức Phật tối thượng.
231.
231.
231.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgīva bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavā.
“My defilements are burnt up; all states of existence are uprooted. Like a female elephant having cut her bonds, I dwell without taints.”
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được nhổ sạch. Giống như voi cái đã bẻ gãy các dây trói, tôi sống không còn lậu hoặc.
232.
232.
232.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, mama buddhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“Indeed, my coming to the presence of my Buddha was a welcome one. The three knowledges have been attained; the Buddha’s teaching has been accomplished.”
Thật vậy, sự đến của tôi là khéo đến, sự đến của tôi ở nơi sự hiện diện của đức Phật. Ba minh đã được chứng đắc, giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.
233.
233.
233.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, and also these eight liberations, the six direct knowledges have been realized; the Buddha’s teaching has been accomplished.”
Bốn Tuệ Phân Tích, và tám giải thoát này, sáu thắng trí đã được chứng ngộ, giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ pesalā † bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the bhikkhunī Pesalā spoke these verses.
Như vậy, Tỳ-khưu-ni Pesalā đã nói những câu kệ này.
Pesalātheriyāpadānaṃ dasamaṃ.
The Apadāna of the Elder Nun Pesalā, the tenth.
Trưởng Lão Ni Sự của ni trưởng Pesalā, phần thứ mười.
The Khattiyā Chapter, the fourth.
Hết phẩm Khattiyā thứ tư.
Tassuddānaṃ –
The summary verse for this is:
Tóm lược của phẩm ấy –
Khattiyā brāhmaṇī ceva, tathā uppaladāyikā;
Siṅgālamātā sukkā ca, abhirūpā aḍḍhakāsikā.
Khattiyā and Brāhmaṇī, and also Uppaladāyikā; Siṅgālamātā and Sukkā, Abhirūpā, Aḍḍhakāsikā.
Trưởng lão ni Khattiyā, và Brāhmaṇī, cũng vậy là Uppaladāyikā; Siṅgālamātā, và Sukkā, Abhirūpā, Aḍḍhakāsikā.
Puṇṇā ca ambapālī ca, pesalāti ca tā dasa;
Gāthāyo dvisatānettha, dvicattālīsa cuttari.
And Puṇṇā and Ambapālī, and Pesalā—these are the ten. Herein are two hundred verses, and forty-two more.
Và Puṇṇā, và Ambapālī, và Pesalā, đó là mười vị. Ở đây, có hai trăm bốn mươi hai câu kệ ở trên.
Atha vagguddānaṃ –
Then, the summary of the chapters:
Sau đây là phần tóm lược các phẩm –
Sumedhā ekūposathā, kuṇḍalakesī khattiyā;
Sahassaṃ tisatā gāthā, sattatālīsa piṇḍitā.
Sumedhā, Ekūposathā, Kuṇḍalakesī, Khattiyā. The compiled verses are one thousand, three hundred, and forty-seven.
(Phẩm) Sumedhā, Ekūposathā, Kuṇḍalakesī, Khattiyā. Một ngàn ba trăm bốn mươi bảy câu kệ đã được gom lại.
Saha uddānagāthāhi, gaṇitāyo vibhāvibhi;
Sahassaṃ tisataṃ gāthā, sattapaññāsameva cāti.
Counted by the wise, together with the summary verses, the verses are one thousand, three hundred, and fifty-seven exactly.
Cùng với các câu kệ tóm lược, đã được các bậc trí tuệ tính đếm, có một ngàn ba trăm và năm mươi bảy câu kệ.
The Apadāna of the Elder Nuns is concluded.
Thánh Nữ Ký Sự đã hoàn tất.
Apadānapāḷi samattā.
The Apadāna Pali is concluded.
Phần Chánh văn Apadāna (về các Trưởng lão ni) đã kết thúc.”