Bản dịch
BV 1 — Con Đường Kinh Hành Bằng Châu Báu
1. Ratanacaṅkamanakaṇḍa
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
Inda-bh 1Khi ấy, vị Phạm Thiên Sahampati chúa tể của thế gian đã chắp tay thỉnh cầu đức Phật rằng: “Ở đây có những chúng sanh có bản chất ít bị ô nhiễm, xin Ngài hãy vì lòng bi mẫn thuyết giảng Giáo Pháp đến hạng chúng sanh này.
Inda-bh 2Ngài là vị đã thành tựu toàn vẹn trí tuệ và đức hạnh (Minh Hạnh Túc) như thế ấy, là đấng Quang Minh có thân mạng cuối cùng, là đức Như Lai không người sánh kịp; lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sanh đã sanh khởi đến Ngài.”
Inda-bh 3(Đức Phật đã quán rằng:) “Bởi vì chư thiên và đám người này không biết được đức Phật đấng Tối Thượng Nhân này là như thế nào, (không biết được) năng lực của thần thông và năng lực của trí tuệ là như thế nào, (không biết được) Phật lực của đấng tế độ chúng sanh là như thế nào.
Inda-bh 4Bởi vì chư thiên và đám người này không biết được đức Phật đấng Tối Thượng Nhân này là như thế nầy, (không biết được) năng lực của thần thông và năng lực của trí tuệ là như thế nầy, (không biết được) Phật lực của đấng tế độ chúng sanh là như thế nầy.
Inda-bh 5Như vậy, ta sẽ thị hiện Phật lực tối thượng. Ta sẽ làm hiện ra con đường kinh hành được trang hoàng bằng châu báu ở trên không trung.”
Inda-bh 6Chư thiên thuộc địa cầu, thuộc cõi Tứ Đại Thiên Vương, thuộc cõi Đạo Lợi, thuộc cõi Dạ Ma, thuộc cõi Đẩu Suất, thuộc cõi Hóa Lạc Thiên, thuộc cõi Tha Hóa Tự Tại, luôn cả đoàn tùy tùng của đấng Brahma nữa cũng hoan hỷ và đã tạo nên tiếng hò reo vang dội.
Inda-bh 7Khi ấy, sau khi chứng kiến điều kỳ diệu phi thường, quả địa cầu cùng với các cõi trời đã được chiếu sáng, các khoảng không gian bao la ở giữa các cõi thế giới không còn bị bao trùm, và bóng tối đen dầy đặc đã bị tiêu tan.
Inda-bh 8Ánh sáng chói lọi rực rỡ đã hiện ra bên dưới, bên trên, chiều ngang, và chiều dọc ở giữa các hạng thiên nhân, càn-thát-bà, nhân loại, và quỷ sứ ở cả hai nơi: ở thế gian này và ở thế giới khác.
Inda-bh 9Được chư thiên và nhân loại cúng dường, bậc Đạo Sư, đấng Tối Thượng của chúng sanh, nhà Lãnh Đạo không ai vượt trội, vị có đại oai lực, có trăm tướng mạo về phước báu đã thị hiện điều kỳ diệu phi thường.
Inda-bh 10Khi được thỉnh cầu bởi vị thiên nhân cao quý, bậc Hữu Nhãn ấy, đấng Tối Thượng Nhân, vị Lãnh Đạo Thế Gian, sau khi quán xét về điều lợi ích đã làm hiện ra con đường kinh hành được hoàn thành khéo léo và được thực hiện bằng tất cả các loại châu báu.
Inda-bh 11Đức Thế Tôn đã thuần thục về ba điều kỳ diệu là: thần thông, tài thuyết giảng, và sự giáo hóa. Đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã làm hiện ra con đường kinh hành được hoàn thành khéo léo và đã được thực hiện bằng tất cả các loại châu báu.
Inda-bh 12Ở tại mười ngàn thế giới, Ngài đã thị hiện theo tuần tự những con đường kinh hành làm bằng châu báu giống như các cột trụ ở ngọn núi Sineru tối thắng.
Inda-bh 13Sau khi vượt qua mười ngàn thế giới, đấng Chiến Thắng đã tạo ra con đường kinh hành làm toàn bằng vàng ở bên cạnh con đường kinh hành làm bằng châu báu.
Inda-bh 14Cả hai con đường đều tương đương, được lót nền bằng vàng miếng. Các lan can đều toàn bằng vàng đã được thực hiện ở cả hai bên.
Inda-bh 15Được thực hiện bằng các loại châu báu, được rải rắc lớp cát là ngọc ma-ni và ngọc trai, con đường chiếu sáng khắp cả các phương giống như ánh mặt trời đã mọc lên.
Inda-bh 16Trong việc đi kinh hành ấy, bậc Toàn Giác, đấng Chiến Thắng sáng suốt rực rỡ với ba mươi hai tướng trạng cao quý, đã đi kinh hành ở con đường kinh hành.
Inda-bh 17Tất cả chư thiên đã tụ hội lại rải rắc xuống bông hoa Mạn-đà-la, hoa sen, hoa san hô thuộc cõi trời (tán thán) về việc đi kinh hành (của đức Phật).
Inda-bh 18Hội chúng chư thiên thuộc mười ngàn thế giới đã hoan hỷ chiêm ngưỡng đức Phật. Trong lúc kính lễ, họ hớn hở, mừng rỡ, vui sướng, quỳ mọp người xuống.
Inda-bh 19Chư thiên ở cõi Đạo Lợi, cõi Dạ Ma, luôn cả cõi Đẩu Suất, chư thiên ở cõi Hóa Lạc Thiên và chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại chiêm ngưỡng vị Lãnh Đạo Thế Gian với tâm phấn khởi hân hoan.
Inda-bh 20Cùng với chư thiên, các hạng Càn-thát-bà, nhân loại, quỷ sứ, các loài rồng, thiên điểu, luôn cả loài Kim-sỉ-điểu, nhìn thấy đấng tế độ chúng sanh có lòng bi mẫn ấy giống như mặt trăng tròn đã mọc lên ở ngay trên bầu trời.
Inda-bh 21Chư thiên ở các cõi Quang Âm Thiên, Biến Tịnh Thiên, Quảng Quả Thiên, và Vô Tưởng Thiên với trang phục bằng vải vóc vô cùng tinh khiết thanh bạch đứng chắp tay.
Inda-bh 22Hơn nữa, các vị còn rắc xuống bông hoa Mạn-đà-la năm màu được trộn lẫn với bột phấn gỗ đàn hương và vung vẫy các tấm vải ở trên không trung (ca ngợi rằng): “Ôi Đấng Chiến Thắng, bậc có lòng bi mẫn tế độ chúng sanh.
Inda-bh 23Ngài là vị thầy, là ngọn cờ, là biểu hiện, là trụ cột của chúng sanh, là nơi chốn nâng đỡ, là ngọn đèn (là hòn đảo), là bậc tối thượng của loài hai chân.”
Inda-bh 24(Với vẻ) hớn hở, mừng rỡ, vui sướng, chư thiên có đại thần lực thuộc mười ngàn thế giới vây quanh lại tỏ sự tôn kính.
Inda-bh 25Với tâm tư hớn hở tín thành, các thiên nhân và các tiên nữ cúng dường những bông hoa ngũ sắc đến bậc Nhân Ngưu.
Inda-bh 26(Được) tín thành, có tâm tư hớn hở, hội chúng chư thiên chiêm ngưỡng vị ấy và cúng dường những bông hoa ngũ sắc đến bậc Nhân Ngưu (tán thán rằng):
Inda-bh 27“Ôi thật là điều kỳ diệu, phi thường, khiến lông dựng đứng ở trên thế gian! Điều kỳ diệu khiến lông dựng đứng giống như việc này trước đây chưa từng xảy ra!”
Inda-bh 28Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu ở trên bầu trời, các thiên nhân ấy đã ngồi xuống ở cung điện của chính mỗi một vị và nở nụ cười vang vang.
Inda-bh 29Các vị ngự ở không trung và ngự ở trên đất liền, các vị ngự ở các ngọn cỏ và đường đi chắp tay lên nghiêng mình kính lễ (với vẻ) hớn hở, mừng rỡ, vui sướng.
Inda-bh 30Ngay cả các loài rồng trường thọ có phước báu và đại thần lực cũng vui sướng lễ bái và cúng dường đến bậc Tối Thượng Nhân.
Inda-bh 31Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu ở trên bầu trời, các vị xướng lên những bài đồng ca ở khoảng không gian trên bầu trời và trình tấu những chiếc trống da.
Inda-bh 32Sau khi nhìn thấy điều kỳ diệu ở trên bầu trời, nhiều vị cũng đã biểu diễn các tù và vỏ ốc, có các phèng la nữa, và luôn cả những chiếc trống con ở trên không trung (tán thán rằng):
Inda-bh 33“Quả nhiên, điều phi thường khiến lông dựng đứng đã sanh khởi đến chúng ta ngày hôm nay. Chúng ta đạt được sự thành tựu lợi ích bền vững. Thời điểm của chúng ta đã đến rồi.”
Inda-bh 34Khi nghe rằng: “Đức Phật!” niềm phỉ lạc đã tức thời sanh khởi đến các vị ấy. Họ đã đứng yên, chắp tay, thốt lên rằng: “Đức Phật! Đức Phật!”
Inda-bh 35Và ở trên không trung, nhiều hạng chúng sanh chắp tay, thốt lên lời tán thán, ca ngợi, cổ vũ, reo hò.
Inda-bh 36Các vị ca hát, hò hét, tấu nhạc, vỗ tay, và nhảy múa. Hơn nữa, các vị còn rắc xuống bông hoa ngũ sắc, bông hoa Mạn-đà-la được trộn lẫn với bột phấn gỗ đàn hương (tán dương rằng):
Inda-bh 37“Hỡi đấng Đại Hùng, giống như dấu hiệu bánh xe ở hai bàn chân của Ngài là được tô điểm với ngọn cờ, lưỡi tầm sét, huy hiệu, hộp bột phấn, và gậy móc câu.
Inda-bh 38Không có ai tương đương về dáng vóc, về giới, về định, về tuệ. Ngài tương đương với các bậc không thể sánh bằng về sự giải thoát và về việc chuyển vận bánh xe Chánh Pháp.
Inda-bh 39Sức mạnh tự nhiên trong cơ thể của Ngài là sức mạnh của mười con voi. Không ai sánh bằng Ngài về năng lực thần thông trong việc chuyển vận bánh xe Chánh Pháp.
Inda-bh 40Các vị hãy kính lễ bậc Đại Hiền Triết, đấng Từ Bi, vị Chúa Tể Thế Gian đã được thành tựu tất cả các đức hạnh và đã đạt được toàn bộ các yếu tố như thế ấy.
Inda-bh 41Ngài xứng đáng tất cả các sự tôn kính, ca tụng, đảnh lễ, tán dương, lễ bái, và cúng dường.
Inda-bh 42Bạch đấng Đại Hùng, bất cứ những ai nên được đảnh lễ, những ai xứng đáng sự đảnh lễ ở trên thế gian, Ngài là vị đứng đầu tất cả. Người bằng Ngài không có.”
Inda-bh 43Vị Sāriputta có đại trí tuệ, thông thạo về định và thiền, chiêm ngưỡng đấng Lãnh Đạo Thế Gian dầu đang đứng ở núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu).
Inda-bh 44Vị ấy nhìn thấy đấng Nhân Ngưu trông giống như cây Sālā chúa nở hoa đều khắp, tương tợ như mặt trăng ở trên bầu trời, y như là mặt trời lúc chính ngọ.
Inda-bh 45Vị ấy nhìn thấy đấng Lãnh Đạo sáng suốt, rực rỡ ánh sáng hào quang trông giống như cây trụ đèn đang cháy rực, tương tợ như mặt trời hừng đông đã ló dạng.
Inda-bh 46Sāriputta đã tức thời tựu hội lại năm trăm vị tỳ khưu là những vị có các lậu hoặc đã tận, không còn ô nhiễm, có các phận sự đã được hoàn thành như thế ấy (nói rằng):
Inda-bh 47“Đức Phật đã làm hiện rõ điều kỳ diệu tên là ‘Sự phô bày thế giới.’ Chúng ta cũng sẽ đi đến nơi ấy và chúng ta sẽ đảnh lễ đấng Chiến Thắng.
Inda-bh 48Hãy đến, tất cả chúng ta sẽ đi. Chúng ta sẽ hỏi đấng Chiến Thắng. Chúng ta sẽ xua tan mối hoài nghi sau khi nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian.”
Inda-bh 49Sau khi đáp lại rằng: “Lành thay!” các vị thông thái ấy, có các căn được hộ trì, đã cầm lấy y và bình bát rồi mau chóng đi đến.
Inda-bh 50Cùng với các vị Lậu Tận đã được rèn luyện trong sự rèn luyện tối thượng, không còn ô nhiễm, bậc đại trí tuệ Sāriputta đã đi đến bằng thần thông.
Inda-bh 51Được tháp tùng bởi các vị tỳ khưu ấy, vị có hội chúng đông Sāriputta đã đi đến bằng thần thông, trông như vị thiên nhân đang chói sáng ở trên không trung.
Inda-bh 52Sau khi ngăn lại tiếng tằng hắng và sự khịt mũi, các vị có đức hạnh đã tiến đến gần bậc Toàn Giác với sự kính cẩn, thận trọng.
Inda-bh 53Sau khi đến gần, các vị nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc tự mình chứng ngộ, vị sáng suốt, đã ngự lên ở trên không trung trông tợ như mặt trăng ở trên bầu trời.
Inda-bh 54Các vị nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian tương tợ như là cây trụ đèn đang cháy rực, như là tia chớp ở trên không trung, như là mặt trời lúc chính ngọ.
Inda-bh 55Toàn bộ năm trăm vị tỳ khưu nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian giống như là hồ nước sâu thẳm không bị chao động, như là đóa hoa sen đang nở rộ.
Inda-bh 56Hớn hở, mừng rỡ, vui sướng, các vị đã chắp tay lên và trong lúc kính lễ các vị quỳ xuống ở dấu hiệu bánh xe (nơi bàn chân) của bậc Đạo Sư.
Inda-bh 57Vị có đại trí tuệ Sāriputta, thiện xảo về định và thiền, được xem như tương đương với loài hoa Koraṇḍa, đảnh lễ đấng Lãnh Đạo Thế Gian.
Inda-bh 58Vị có đại thần lực Moggallāna, vang động như là đám mây đen, được xem như tương đương với đóa sen xanh, là không ai sánh bằng về năng lực thần thông.
Inda-bh 59Còn vị trưởng lão Mahākassapa tương tợ vàng tinh luyện, được công nhận là vị đứng đầu trong đức hạnh đầu-đà, được (chư thiên và nhân loại) tán dương, đã được bậc Đạo Sư khen ngợi.
Inda-bh 60Đứng đầu trong số các vị có thiên nhãn là Anuruddha, có đồ chúng đông đảo, hạng nhất trong hàng quyến thuộc của đức Thế Tôn, đang đứng không xa.
Inda-bh 61Upāli là vị rành rẽ về sự phạm tội, về sự không phạm tội, về việc sám hối tội, được công nhận là vị đứng đầu về Luật, đã được bậc Đạo Sư khen ngợi.
Inda-bh 62Vị ẩn sĩ con trai của bà Mantānī, phân tích ý nghĩa vi tế và bén nhạy, đứng đầu các vị Pháp sư, có đồ chúng, được nổi tiếng với tên là Puṇṇa.
Inda-bh 63Biết được tâm của các vị ấy, đấng Mâu Ni là vị thiện xảo về sự so sánh, là đấng Đại Hùng, là vị dứt trừ sự nghi hoặc, đã thuyết giảng về đức hạnh của bản thân:
Inda-bh 64“Có bốn điều không thể tính đếm được và không biết được điểm tận cùng của các điều ấy: Tập hợp các chúng sanh, bầu không gian, các cõi thế giới vô biên, trí tuệ vô lượng của chư Phật; những điều này là không thể biết rõ.
Inda-bh 65Có phải sự biến hóa thần thông của ta là điều kỳ diệu ở thế gian? Còn có nhiều sự việc khác nữa là kỳ diệu, phi thường, khiến lông dựng đứng.
Inda-bh 66Vào lúc ta ở tại cung trời Đẩu Suất, khi ấy ta có tên là Santusita. Các vị thuộc mười ngàn thế giới đã tụ hội lại chắp tay thỉnh cầu ta rằng:
Inda-bh 67‘Hỡi bậc Đại Hùng, giờ là thời điểm của Ngài. Hãy sanh vào bụng mẹ. Trong khi giúp cho thế gian luôn cả chư thiên vượt qua, Ngài sẽ giác ngộ đạo lộ Bất Tử.’
Inda-bh 68Lúc ta hạ sanh vào bụng (mẹ) sau khi đã mạng chung từ cõi trời Đẩu Suất, khi ấy mười ngàn thế giới và quả đất rúng động.
Inda-bh 69Khi ta rời khỏi bụng mẹ với sự giác tỉnh, mười ngàn thế giới đã rúng động, thốt lên tiếng ‘Lành thay!’
Inda-bh 70Không gì sánh bằng việc nhập thai của ta. Từ việc sanh ra, trong việc ra đi cao cả, trong việc tự mình giác ngộ, và trong việc chuyển vận bánh xe Chánh Pháp, ta là vị đứng đầu.”
Inda-bh 71(Chư thiên đã thốt lên rằng): “Ôi Tính chất vĩ đại về đức hạnh của chư Phật là điều kỳ diệu ở trên đời!” Khi ấy, mười ngàn thế giới đã rúng động sáu cách. Và có ánh sáng vĩ đại đã xuất hiện. Là điều phi thường khiến lông dựng đứng!
Inda-bh 72Và vào khoảng thời gian ấy, trong lúc hiện ra cho thế gian luôn cả chư thiên chiêm ngưỡng, đức Thế Tôn, bậc Tối Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Chiến Thắng đã đi kinh hành bằng thần thông.
Inda-bh 73Ngay trong lúc đang đi kinh hành ở đường kinh hành, đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã thuyết giảng. Như thể (đang đi) ở trên con đường kinh hành (có chiều dài) bốn cánh tay, Ngài không quay ngược trở lại (khi đang) ở vào khoảng giữa (con đường).
Inda-bh 74Sāriputta, là vị có đại trí tuệ, thiện xảo về định và thiền, đã đạt đến sự toàn hảo về trí tuệ, hỏi bậc Lãnh Đạo Thế Gian rằng:
Inda-bh 75“Bạch đấng Đại Hùng, bậc Nhân Ngưu, lời phát nguyện của Ngài là như thế nào? Bạch đấng Sáng Suốt, sự giác ngộ tối thượng đã được Ngài mong mỏi vào thời gian nào?
Inda-bh 76Bố thí, (trì) giới, xuất ly, trí tuệ, tinh tấn là như thế nào? Nhẫn nại, chân thật, quyết định, từ ái, hành xả là như thế nào?
Inda-bh 77Bạch đấng Lãnh Đạo thế gian sáng suốt, theo Ngài mười pháp toàn hảo là như thế nào? Thế nào là pháp toàn hảo bậc trên được tròn đủ? Thế nào là pháp toàn hảo bậc tối thượng?”
Inda-bh 78Được vị ấy hỏi, Ngài đã trả lời với giọng nói ngọt ngào (như giọng hót) của loài chim Karavīka (ca-lăng-tần-già) làm mát mẻ con tim, làm hoan hỷ thế gian luôn cả chư thiên.
Inda-bh 79Bằng trí tuệ hướng về các kiếp sống trước đây, Ngài đã giảng giải về Pháp đã được chư Phật quá khứ là các đấng Chiến Thắng thuyết giảng, về lịch sử đã được truyền thừa theo tuần tự chư Phật, là điều lợi ích cho thế gian luôn cả chư thiên.
Inda-bh 80(Đức Phật đã nói rằng:) “(Lịch sử ấy) là điều làm sanh lên niềm hoan hỷ vui mừng, là sự nhổ lên mũi tên sầu muộn, là việc thành tựu tất cả các sự chứng đạt, các ngươi hãy chú tâm lắng nghe ta.
Inda-bh 81(Lịch sử ấy) là điều làm tiêu tan các sự đắm say, là sự xua đi các nỗi buồn rầu, là việc hoàn toàn thoát khỏi luân hồi, là đạo lộ tiêu diệt tất cả khổ đau, các ngươi hãy nghiêm trang theo dõi.”
Dứt Chương Con Đường Kinh Hành Bằng Châu Báu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. The Chapter on the Jeweled Promenade
1. Phẩm Kinh Hành Bằng Châu Báu
1.
1.
1.
Brahmā ca lokādhipatī sahampatī †, katañjalī anadhivaraṃ ayācatha;
‘‘Santīdha sattāpparajakkhajātikā, desehi dhammaṃ anukampimaṃ pajaṃ’’.
And Brahmā Sahampati, lord of the world, with reverential hands joined, requested the Unexcelled One: “There are beings here with little dust in their eyes; teach the Dhamma, having compassion for this multitude.”
Và Phạm thiên Sahampati, vị chúa tể của thế gian, chắp tay thỉnh cầu đấng Vô Thượng: ‘Ở thế gian này có những chúng sanh thuộc loại ít bụi trong mắt, xin Ngài hãy thuyết Pháp vì lòng bi mẫn đối với chúng sanh này’.
2.
2.
2.
Sampannavijjācaraṇassa tādino, jutindharassantimadehadhārino;
Tathāgatassappaṭipuggalassa, uppajji kāruññatā sabbasatte.
For the one endowed with knowledge and conduct, the steadfast, the bearer of radiance, the bearer of the final body; for the Tathāgata, the incomparable person, compassion for all beings arose.
Lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sanh đã khởi lên nơi đức Như Lai, đấng đã thành tựu minh và hạnh, bậc Tādī, đấng mang ánh sáng, đấng mang thân cuối cùng, bậc vô song.
3.
3.
3.
‘‘Na hete jānanti sadevamānusā, buddho ayaṃ kīdisako naruttamo;
Iddhibalaṃ paññābalañca kīdisaṃ, buddhabalaṃ lokahitassa kīdisaṃ.
“For these devas and humans do not know what this Buddha, this supreme among men, is like; what the nature of his psychic power and power of wisdom is like; what the nature of the Buddha-power for the welfare of the world is like.”
‘Những chúng sanh này cùng với chư thiên và nhân loại không biết rằng: ‘Vị Phật này, bậc Tối Thượng Nhân, là như thế nào? Thần lực và tuệ lực là như thế nào? Phật lực của đấng vì lợi ích thế gian là như thế nào?’
4.
4.
4.
‘‘Na hete jānanti sadevamānusā, buddho ayaṃ edisako naruttamo;
Iddhibalaṃ paññābalañca edisaṃ, buddhabalaṃ lokahitassa edisaṃ.
“For these devas and humans do not know that this Buddha, this supreme among men, is of such a nature; that his psychic power and power of wisdom are of such a nature; that the Buddha-power for the welfare of the world is of such a nature.”
‘Những chúng sanh này cùng với chư thiên và nhân loại không biết rằng: ‘Vị Phật này, bậc Tối Thượng Nhân, là như thế này. Thần lực và tuệ lực là như thế này. Phật lực của đấng vì lợi ích thế gian là như thế này.’
5.
5.
5.
‘‘Handāhaṃ dassayissāmi, buddhabalamanuttaraṃ;
Caṅkamaṃ māpayissāmi, nabhe ratanamaṇḍitaṃ’’.
“Now then, I shall show the unsurpassed Buddha-power; I shall create in the sky a promenade adorned with jewels.”
‘Này, Ta sẽ biểu diễn Phật lực vô thượng; Ta sẽ hóa hiện trên hư không một con đường kinh hành được trang hoàng bằng châu báu’.
6.
6.
6.
Bhummā mahārājikā tāvatiṃsā, yāmā ca devā tusitā ca nimmitā;
Paranimmitā yepi ca brahmakāyikā, ānanditā vipulamakaṃsu ghosaṃ.
The earth-dwelling devas, the Mahārājikas, the Tāvatiṃsas, the Yāma devas, the Tusitas, and the Nimmitas; the Paranimmitas, and those of the Brahmā hosts, being joyful, made a vast acclamation.
Chư thiên địa cầu, Tứ Đại Thiên Vương, Đao Lợi, và chư thiên Dạ Ma, Đâu Suất, và Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại, và cả chúng Phạm thiên, đều hoan hỷ và tạo ra một tiếng vang lớn.
7.
7.
7.
Obhāsitā ca pathavī sadevakā, puthū ca lokantarikā asaṃvutā;
Tamo ca tibbo vihato tadā ahu, disvāna accherakaṃ pāṭihīraṃ.
And the earth with its devas was illuminated, and the vast, open inter-cosmic realms as well; at that time the dense darkness was dispelled. A wondrous miracle was seen.
Và mặt đất cùng với cõi trời đã được chiếu sáng, và nhiều địa ngục Lokantarika không bị che khuất cũng vậy; khi ấy, bóng tối dày đặc đã bị xua tan, sau khi họ thấy được thần thông kỳ diệu.
8.
8.
8.
Sadevagandhabbamanussarakkhase, ābhā uḷārā vipulā ajāyatha;
Imasmiṃ loke parasmiñcobhayasmiṃ †, adho ca uddhaṃ tiriyañca vitthataṃ.
A magnificent and vast radiance arose among the devas, gandhabbas, humans, and rakkhasas; in this world, in the next, and in both, it spread below, above, across, and far and wide.
Ánh sáng cao quý và rộng lớn đã phát sinh cùng với chư thiên, càn-thát-bà, nhân loại, và la-sát; trong thế gian này và thế gian khác, trong cả hai, cả ở dưới, ở trên, và lan rộng theo chiều ngang.
9.
9.
9.
Sattuttamo anadhivaro vināyako, satthā ahū devamanussapūjito;
Mahānubhāvo satapuññalakkhaṇo, dassesi accherakaṃ pāṭihīraṃ.
The supreme among beings, the unexcelled, the guide, the Teacher worshipped by devas and humans, of great power, endowed with the marks of a hundred merits, displayed a wondrous miracle.
Bậc Tối Thượng trong các chúng sanh, đấng Vô Thượng, bậc Đạo Sư, bậc Thầy được chư thiên và nhân loại cúng dường, đấng có đại oai lực, có tướng tốt do trăm phước báu, đã biểu diễn thần thông kỳ diệu.
10.
10.
10.
So yācito devavarena cakkhumā, atthaṃ samekkhitvā tadā naruttamo;
Caṅkamaṃ † māpayi lokanāyako, suniṭṭhitaṃ sabbaratananimmitaṃ.
Having been requested by the excellent deva, the One with Vision, the Supreme among Men, then considered the benefit; that Leader of the World caused a promenade to be made, well-finished and fashioned from all jewels.
Vị ấy, bậc có mắt, bậc Tối Thượng Nhân, sau khi được vị trời cao quý nhất thỉnh cầu, khi ấy đã xem xét lợi ích; bậc Lãnh Đạo thế gian đã hóa hiện một con đường kinh hành được hoàn thành tốt đẹp, được làm bằng tất cả các loại châu báu.
11.
11.
11.
Iddhī ca ādesanānusāsanī, tipāṭihīre bhagavā vasī ahu;
Caṅkamaṃ māpayi lokanāyako, suniṭṭhitaṃ sabbaratananimmitaṃ.
The Blessed One was a master of the three miracles: psychic power, mind-reading, and instruction. The Leader of the World caused a promenade to be made, well-finished and fashioned from all jewels.
Đức Thế Tôn đã thuần thục ba loại thần thông: thần túc thông, tha tâm thông, và giáo hóa thông; bậc Lãnh Đạo thế gian đã hóa hiện một con đường kinh hành được hoàn thành tốt đẹp, được làm bằng tất cả các loại châu báu.
12.
12.
12.
Dasasahassīlokadhātuyā, sinerupabbatuttame;
Thambheva dassesi paṭipāṭiyā, caṅkame ratanāmaye.
In the ten-thousandfold world-system, having made the excellent Sineru mountains into pillars in succession, he displayed the jeweled promenade created above them.
Trong mười ngàn thế giới, Ngài đã biểu diễn trên con đường kinh hành bằng châu báu, với những ngọn núi Tu-di cao quý lần lượt làm thành những cột trụ.
13.
13.
13.
Dasasahassī atikkamma, caṅkamaṃ māpayī jino;
Sabbasoṇṇamayā passe, caṅkame ratanāmaye.
The Victor, having transcended the ten-thousandfold world-system, caused a promenade to be made; on the sides of that jeweled promenade were sections made entirely of gold.
Bậc Chiến Thắng đã hóa hiện một con đường kinh hành vượt qua mười ngàn thế giới; hai bên con đường kinh hành bằng châu báu đều được làm hoàn toàn bằng vàng.
14.
14.
14.
Tulāsaṅghāṭānuvaggā, sovaṇṇaphalakatthatā;
Vedikā sabbasovaṇṇā, dubhato passesu nimmitā.
With beams and rafters in succession, and laid with golden planks, railings made entirely of gold were created on both sides.
Những thanh xà ngang và rui tương ứng, mái lợp bằng ván vàng; lan can hoàn toàn bằng vàng được tạo ra ở cả hai bên.
15.
15.
15.
Maṇimuttāvālukākiṇṇā, nimmito ratanāmayo;
Obhāseti disā sabbā, sataraṃsīva uggato.
Strewn with sand of gems and pearls, that created jeweled promenade illuminates all directions, like the newly risen sun with its thousand rays.
Được rải đầy cát bằng ngọc và trân châu, con đường kinh hành được tạo bằng châu báu chiếu sáng khắp mọi phương, giống như mặt trời mọc với ngàn tia sáng.
16.
16.
16.
Tasmiṃ caṅkamane dhīro, dvattiṃsavaralakkhaṇo;
Virocamāno sambuddho, caṅkame caṅkamī jino.
On that promenade, the steadfast one, endowed with the thirty-two excellent marks, resplendent, the Perfectly Enlightened One, the Victor, walked upon the promenade.
Trên con đường kinh hành ấy, bậc Kiên Định, người có ba mươi hai tướng tốt, đấng Chánh Đẳng Giác tỏa sáng rực rỡ, bậc Chiến Thắng đã đi kinh hành.
17.
17.
17.
Dibbaṃ mandāravaṃ pupphaṃ, padumaṃ pārichattakaṃ;
Caṅkamane okiranti, sabbe devā samāgatā.
All the assembled devas scatter divine Mandārava flowers, lotuses, and Pārichattaka flowers on the promenade.
Tất cả chư thiên đã tụ hội rải hoa trời mandārava, hoa sen, và hoa pārichattaka xuống con đường kinh hành.
18.
18.
18.
Passanti taṃ devasaṅghā, dasasahassī pamoditā;
Namassamānā nipatanti, tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā.
The hosts of devas in the ten-thousandfold world-system see him, greatly rejoicing. Paying homage, they fall down in reverence, pleased, elated, and joyful.
Chúng chư thiên trong mười ngàn thế giới hoan hỷ nhìn thấy Ngài; vui vẻ, hân hoan, và hoan hỷ, họ đảnh lễ và tụ hội lại.
19.
19.
19.
Tāvatiṃsā ca yāmā ca, tusitā cāpi devatā;
Nimmānaratino devā, ye devā vasavattino;
The Tāvatiṃsa and Yāma devas, the Tusita devas as well, the Nimmānaratī devas, and those devas who are Vasavattī;
Chư thiên Đao Lợi và Dạ Ma, và cả chư thiên Đâu Suất; chư thiên Hóa Lạc, và những vị trời ở cõi Tha Hóa Tự Tại;
Udaggacittā sumanā, passanti lokanāyakaṃ.
With minds uplifted and joyful hearts, they behold the Leader of the World.
Họ có tâm hân hoan và ý vui mừng, chiêm bái bậc Dẫn dắt thế gian.
20.
20.
20.
Sadevagandhabbamanussarakkhasā, nāgā supaṇṇā atha vāpi kinnarā;
Passanti taṃ lokahitānukampakaṃ, nabheva accuggatacandamaṇḍalaṃ.
Devas, gandhabbas, humans, and rakkhasas, nāgas, supaṇṇas, and also kinnaras—they see him, the one compassionate for the welfare of the world, like the orb of the moon risen high in the sky.
Chư thiên, càn-thát-bà, nhân loại, la-sát, rồng, kim sí điểu, và cả khẩn-na-la, nhìn thấy Ngài, đấng bi mẫn vì lợi ích thế gian, giống như vầng trăng tròn mọc cao trên bầu trời.
21.
21.
21.
Ābhassarā subhakiṇhā, vehapphalā akaniṭṭhā ca devatā;
Susuddhasukkavatthavasanā, tiṭṭhanti pañjalīkatā.
The Ābhassara, Subhakiṇha, Vehapphala, and Akaniṭṭha devas, wearing very pure, white garments, stand with reverential hands joined.
Chư Phạm thiên Quang Âm, Biến Tịnh, Quảng Quả, và chư thiên Sắc Cứu Cánh, mặc y phục trắng tinh khiết, đứng chắp tay.
22.
22.
22.
Muñcanti pupphaṃ pana pañcavaṇṇikaṃ, mandāravaṃ candanacuṇṇamissitaṃ;
Bhamenti celāni ca ambare tadā, ‘‘aho jino lokahitānukampako.
They release five-colored flowers, Mandārava blossoms mixed with sandalwood powder; and they wave their garments in the sky then, exclaiming, “Oh, the Victor, compassionate for the welfare of the world!”
Họ tung rải hoa mandārava năm màu trộn với bột chiên-đàn; khi ấy, trên không trung, họ cũng vẫy y phục và tán thán: ‘Ôi, bậc Chiến Thắng, đấng bi mẫn vì lợi ích thế gian!’
23.
23.
23.
‘‘Tuvaṃ satthā ca ketū ca, dhajo yūpo ca pāṇinaṃ;
Parāyano patiṭṭhā ca, dīpo ca dvipaduttamo †.
“You are the Teacher, the standard, the flag, and the pillar for living beings; the final resort, the firm support, the island, and the supreme among two-footed beings.”
‘Ngài là bậc Thầy và là ngọn cờ hiệu, là ngọn cờ và là cột tế lễ của chúng sanh; là nơi nương tựa và là nơi vững chắc, là hòn đảo và là bậc tối thượng trong loài hai chân.’
24.
24.
24.
‘‘Dasasahassīlokadhātuyā, devatāyo mahiddhikā;
Parivāretvā namassanti, tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā.
In the ten-thousandfold world-system, deities of great psychic power, having surrounded him, pay homage, pleased, elated, and joyful.
‘Chư thiên có đại thần lực trong mười ngàn thế giới, vui vẻ, hân hoan, và hoan hỷ, vây quanh và đảnh lễ Ngài.’
25.
25.
25.
‘‘Devatā devakaññā ca, pasannā tuṭṭhamānasā;
Pañcavaṇṇikapupphehi, pūjayanti narāsabhaṃ.
Gods and divine maidens, with serene and gladdened minds, worship the Bull among Men with five-colored flowers.
‘Chư thiên nam và chư thiên nữ, với lòng tịnh tín và tâm hoan hỷ, cúng dường bậc Tối Thượng Nhân bằng những bông hoa năm màu.’
26.
26.
26.
‘‘Passanti taṃ devasaṅghā, pasannā tuṭṭhamānasā;
Pañcavaṇṇikapupphehi, pūjayanti narāsabhaṃ.
The assemblies of devas, well-pleased and with joyful minds, behold that Chief among Men and honor him with five-colored flowers.
Chư thiên chúng với tâm tín thành hoan hỷ, chiêm ngưỡng vị Nhân Ngưu Vương ấy; họ cúng dường ngài bằng những đóa hoa năm màu.
27.
27.
27.
‘‘Aho acchariyaṃ loke, abbhutaṃ lomahaṃsanaṃ;
Na medisaṃ bhūtapubbaṃ, accheraṃ lomahaṃsanaṃ’’.
“Oh, a wonder in the world, unprecedented and hair-raising! Never before has there been for me such a wonder, such a hair-raising thing.”
Ôi, thật vi diệu thay trên thế gian, một sự kiện chưa từng có, làm dựng tóc gáy! Đối với ta, sự kiện kỳ diệu làm dựng tóc gáy như thế này chưa từng xảy ra trước đây.
28.
28.
28.
Sakasakamhi bhavane, nisīditvāna devatā;
Hasanti tā mahāhasitaṃ, disvānaccherakaṃ nabhe.
Those devas, seated in their own respective mansions, having seen the wonder in the sky, laugh a great laugh.
Các vị trời ấy, đang ngồi trong cung điện của chính mình, sau khi thấy điều kỳ diệu trên hư không, đã bật lên một trận cười lớn.
29.
29.
29.
Ākāsaṭṭhā ca bhūmaṭṭhā, tiṇapanthanivāsino;
Katañjalī namassanti, tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā.
Those standing in the sky and those on the earth, and those dwelling on grassy paths, greatly pleased and joyful, with hands joined in reverence, pay homage.
Các vị trú trên hư không và trên mặt đất, các vị trú ngụ trong bụi cỏ và trên đường đi; với lòng vui vẻ, hân hoan và vô cùng hoan hỷ, chắp tay đảnh lễ.
30.
30.
30.
Yepi dīghāyukā nāgā, puññavanto mahiddhikā;
Pamoditā namassanti, pūjayanti naruttamaṃ.
Even those nāgas who are long-lived, meritorious, and of great psychic power, being greatly delighted, pay homage and make offerings to the Supreme among Men.
Cả những vị Long vương sống lâu, có phước báu, có đại thần lực, cũng vô cùng hoan hỷ, đảnh lễ và cúng dường bậc Tối Thượng Nhân.
31.
31.
31.
Saṅgītiyo pavattenti, ambare anilañjase;
Cammanaddhāni vādenti, disvānaccherakaṃ nabhe.
Celestial dancers perform in the sky, the path of the wind; they beat drums covered with skin, having seen the wonder in the sky.
Sau khi thấy điều kỳ diệu trên hư không, họ cho trình diễn các vũ điệu trên bầu trời, con đường của gió; và trỗi lên các loại trống da.
32.
32.
32.
Saṅkhā ca paṇavā ceva, athopi ḍiṇḍimā † bahū;
Antalikkhasmiṃ vajjanti, disvānaccherakaṃ nabhe.
Conches and tabors, and also many kettledrums, are sounded in the sky, having seen the wonder in the sky.
Sau khi thấy điều kỳ diệu trên hư không, ốc tù và và trống nhỏ, hơn nữa, nhiều loại trống lớn cũng được trỗi lên trên không trung.
33.
33.
33.
Abbhuto vata no ajja, uppajji lomahaṃsano;
Dhuvamatthasiddhiṃ labhāma, khaṇo no paṭipādito.
“Indeed, for us today an unprecedented, hair-raising thing has arisen! Certainly, we shall obtain the accomplishment of our goal; the opportune moment has been established for us.”
Hôm nay, quả thật một sự kiện chưa từng có, làm dựng tóc gáy đã phát sinh cho chúng ta. Chắc chắn chúng ta sẽ đạt được sự thành tựu lợi ích, thời khắc tốt đã đến với chúng ta.
34.
34.
34.
Buddhoti tesaṃ sutvāna, pīti uppajji tāvade;
Buddho buddhoti kathayantā, tiṭṭhanti pañjalīkatā.
Having heard the word 'Buddha,' rapture arose in them at that very moment; saying 'Buddha, Buddha,' they stand with their hands joined in reverence.
Sau khi nghe tiếng 'Phật', hỷ lạc liền phát sinh nơi họ ngay lúc ấy. Vừa nói 'Phật, Phật', họ vừa chắp tay đứng yên.
35.
35.
35.
Hiṅkārā sādhukārā ca †, ukkuṭṭhi sampahaṃsanaṃ †;
Pajā ca vividhā gagane, vattenti pañjalīkatā.
And various beings in the sky, with hands joined in reverence, utter sounds of approval, acclamations of 'sādhu,' shouts of joy, and great rejoicing.
Các loài chúng sinh khác nhau trên hư không, chắp tay và phát ra những tiếng hoan hô, tiếng tán thán 'lành thay', tiếng reo hò và biểu lộ sự vui mừng hớn hở.
36.
36.
36.
Gāyanti seḷenti ca vādayanti ca, bhujāni pothenti ca naccayanti ca;
Muñcanti pupphaṃ pana pañcavaṇṇikaṃ, mandāravaṃ candanacuṇṇamissitaṃ.
They sing, whistle, and play musical instruments; they slap their arms and dance; and they scatter five-colored Mandārava flowers mixed with sandalwood powder.
Họ ca hát, huýt sáo và trổi nhạc, họ vỗ tay và nhảy múa; họ tung rải những đóa hoa Mạn-đà-la năm sắc được trộn lẫn với bột gỗ chiên đàn.
37.
37.
37.
‘‘Yathā tuyhaṃ mahāvīra, pādesu cakkalakkhaṇaṃ;
Dhajavajirapaṭākā, vaḍḍhamānaṅkusācitaṃ.
O Great Hero, just as on your feet is the mark of a wheel, adorned with a banner, thunderbolt, flag, svastika, and goad.
Hỡi bậc Đại Hùng, nơi đôi chân của Ngài, tướng bánh xe được trang hoàng với cờ xí, kim cương, phướn, bình nước tốt lành và móc câu.
38.
38.
38.
‘‘Rūpe sīle samādhimhi, paññāya ca asādiso;
Vimuttiyā asamasamo, dhammacakkappavattane.
In form, in virtue, in concentration, and in wisdom, you are matchless; in liberation and in the turning of the Wheel of Dhamma, you are equal to the unequaled.
Về sắc thân, giới, định, và tuệ, không ai sánh bằng Ngài. Về sự giải thoát và việc chuyển pháp luân, Ngài không ai ngang bằng và không ai hơn.
39.
39.
39.
‘‘Dasanāgabalaṃ kāye, tuyhaṃ pākatikaṃ balaṃ;
Iddhibalena asamo, dhammacakkappavattane.
Your natural physical strength is the strength of ten elephants; in psychic power and in the turning of the Wheel of Dhamma, you are unequaled.
Sức mạnh tự nhiên nơi thân của Ngài bằng sức mạnh của mười con voi chúa. Về sức mạnh thần thông và việc chuyển pháp luân, không ai sánh bằng Ngài.
40.
40.
40.
‘‘Evaṃ sabbaguṇūpetaṃ, sabbaṅgasamupāgataṃ;
Mahāmuniṃ kāruṇikaṃ, lokanāthaṃ namassatha.
Pay homage to the Lord of the World, the Great Sage, the compassionate one, who is thus endowed with all virtues and possessed of all noble qualities.
Hãy đảnh lễ bậc Đại Mâu-ni, đấng có lòng bi mẫn, vị Hộ Trì của thế gian, người đã thành tựu tất cả các đức hạnh và đầy đủ tất cả các chi phần như vậy.
41.
41.
41.
‘‘Abhivādanaṃ thomanañca, vandanañca pasaṃsanaṃ;
Namassanañca pūjañca, sabbaṃ arahasī tuvaṃ.
Reverence and praise, homage and acclaim, obeisance and offerings—you are worthy of them all.
Ngài xứng đáng với tất cả: sự kính lễ, sự tán thán, sự đảnh lễ, sự ca ngợi, sự cúi mình, và sự cúng dường.
42.
42.
42.
‘‘Ye keci loke vandaneyyā, vandanaṃ arahanti ye;
Sabbaseṭṭho mahāvīra, sadiso te na vijjati.
Whoever in the world are worthy of homage, whoever are worthy to receive homage—O Great Hero, you are the most supreme of all. An equal to you is not found.
Bất cứ ai trên thế gian đáng được đảnh lễ, những ai xứng đáng được đảnh lễ; hỡi bậc Đại Hùng, Ngài là bậc tối thượng hơn tất cả. Không có ai bằng được Ngài.
43.
43.
43.
‘‘Sāriputto mahāpañño, samādhijjhānakovido;
Gijjhakūṭe ṭhitoyeva, passati lokanāyakaṃ.
Sāriputta, of great wisdom, skilled in concentration and jhāna, while standing on Gijjhakūṭa Peak, beholds the Leader of the World.
Tôn giả Xá-lợi-phất, bậc có trí tuệ lớn, thông thạo định và thiền, đang đứng trên núi Linh Thứu và nhìn thấy vị Lãnh Đạo của thế gian.
44.
44.
44.
‘‘Suphullaṃ sālarājaṃva, candaṃva gagane yathā;
Majjhanhikeva † sūriyaṃ, olokesi narāsabhaṃ.
He looked up at the Chief among Men, like a fully blossomed king of sāla trees, like the moon in the sky, and like the sun at midday.
Ngài ngước nhìn bậc Nhân Ngưu Vương, (rực rỡ) như cây sala chúa nở rộ, như mặt trăng trên bầu trời, như mặt trời lúc giữa trưa.
45.
45.
45.
‘‘Jalantaṃ dīparukkhaṃva, taruṇasūriyaṃva uggataṃ;
Byāmappabhānurañjitaṃ, dhīraṃ passati lokanāyakaṃ.
He beholds the steadfast Leader of the World, adorned with a fathom-wide radiance, like a blazing lamp-tree, like the newly risen morning sun.
Ngài nhìn thấy vị Lãnh Đạo của thế gian, bậc Kiên Định, được tô điểm bởi hào quang một tầm, (sáng chói) như cây đèn đang cháy, như mặt trời non vừa mọc.
46.
46.
46.
‘‘Pañcannaṃ bhikkhusatānaṃ, katakiccāna tādinaṃ;
Khīṇāsavānaṃ vimalānaṃ, khaṇena sannipātayi.
In an instant, he caused to assemble five hundred bhikkhus, who had done what was to be done, were steadfast, whose cankers were destroyed, and who were stainless.
Trong khoảnh khắc, ngài đã triệu tập năm trăm vị Tỳ-khưu, những vị đã làm xong việc cần làm, những vị bất động, những vị đã đoạn tận lậu hoặc, những vị không còn cấu uế.
47.
47.
47.
‘‘Lokappasādanaṃ nāma, pāṭihīraṃ nidassayi;
Amhepi tattha gantvāna, vandissāma mayaṃ jinaṃ.
He has displayed the miracle named Lokappasādana (Inspiring Confidence in the World). We too shall go there and pay homage to the Conqueror.
(Đức Phật) đã biểu diễn phép thần thông tên là 'Làm Tịnh Tín Thế Gian'. Chúng ta cũng sẽ đi đến đó và đảnh lễ bậc Chiến Thắng.
48.
48.
48.
‘‘Etha sabbe gamissāma, pucchissāma mayaṃ jinaṃ;
Kaṅkhaṃ vinodayissāma, passitvā lokanāyakaṃ’’.
Come, all of you, let us go. We shall question the Conqueror. Having seen the Leader of the World, we shall dispel our doubt.
Tất cả hãy đến đây, chúng ta sẽ đi. Chúng ta sẽ hỏi bậc Chiến Thắng. Sau khi diện kiến vị Lãnh Đạo của thế gian, chúng ta sẽ xua tan mọi nghi ngờ.
49.
49.
49.
Sādhūti te paṭissutvā, nipakā saṃvutindriyā;
Pattacīvaramādāya, taramānā upāgamuṃ.
Those prudent ones, with faculties restrained, assented, saying 'Excellent!' Taking their bowls and robes, they approached in haste.
Những vị ấy, những bậc có trí tuệ, có các căn được phòng hộ, sau khi vâng đáp 'lành thay', đã mang theo y bát và nhanh chóng đi đến.
50.
50.
50.
Khīṇāsavehi vimalehi, dantehi uttame dame;
Sāriputto mahāpañño, iddhiyā upasaṅkami.
Sāriputta, of great wisdom, approached by psychic power, accompanied by those whose cankers were destroyed, who were stainless, and who were tamed by the supreme taming.
Tôn giả Xá-lợi-phất, bậc có trí tuệ lớn, cùng với các vị đã đoạn tận lậu hoặc, không còn cấu uế, đã được điều phục bởi sự điều phục tối thượng, đã đi đến (chỗ Đức Phật) bằng thần thông.
51.
51.
51.
Tehi bhikkhūhi parivuto, sāriputto mahāgaṇī;
Laḷanto devova gagane, iddhiyā upasaṅkami.
Surrounded by those bhikkhus, Sāriputta, the leader of a great assembly, approached by psychic power, moving gracefully like a deva in the sky.
Tôn giả Xá-lợi-phất, vị có đoàn chúng lớn, được vây quanh bởi những vị Tỳ-khưu ấy, di chuyển duyên dáng trên hư không như một vị trời, đã đi đến (chỗ Đức Phật) bằng thần thông.
52.
52.
52.
Ukkāsitañca khipitaṃ †, ajjhupekkhiya subbatā;
Sagāravā sappatissā, sambuddhaṃ upasaṅkamuṃ.
Refraining from coughing and sneezing, those of good vows, being respectful and deferential, approached the Fully Enlightened One.
Những vị có hạnh tốt, không hắng giọng hay hắt hơi, với lòng kính trọng và tôn kính, đã đi đến gần Đức Chánh Đẳng Giác.
53.
53.
53.
Upasaṅkamitvā passanti, sayambhuṃ lokanāyakaṃ;
Nabhe accuggataṃ dhīraṃ, candaṃva gagane yathā.
Having approached, they behold the Self-Become, the Leader of the World, the steadfast one, just like the moon risen high in the heavens.
Sau khi đi đến gần, họ nhìn thấy bậc Tự Giác, vị Lãnh Đạo của thế gian, bậc Kiên Định, (sáng rỡ) như mặt trăng mọc cao trên bầu trời.
54.
54.
54.
Jalantaṃ dīparukkhaṃva, vijjuṃva gagane yathā;
Majjhanhikeva sūriyaṃ, passanti lokanāyakaṃ.
They behold the Leader of the World, shining like a blazing lamp-tree, like lightning in the sky, and like the sun at midday.
Họ nhìn thấy vị Lãnh Đạo của thế gian, (sáng chói) như cây đèn đang cháy, như tia chớp trên bầu trời, như mặt trời lúc giữa trưa.
55.
55.
55.
Pañcabhikkhusatā sabbe, passanti lokanāyakaṃ;
Rahadamiva vippasannaṃ, suphullaṃ padumaṃ yathā.
All five hundred bhikkhus behold the Leader of the World, like an exceedingly clear lake adorned with fully blossomed lotuses.
Tất cả năm trăm vị Tỳ-khưu nhìn thấy vị Lãnh Đạo của thế gian, (tuyệt đẹp) như một hồ nước trong vắt, như một đóa sen nở rộ.
56.
56.
56.
Añjaliṃ paggahetvāna, tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā;
Namassamānā nipatanti, satthuno cakkalakkhaṇe.
Raising their joined palms, exceedingly pleased and joyful, they prostrated while paying homage near the Teacher's wheel-marks.
Chắp tay cung kính, hân hoan và vui mừng; Vừa đảnh lễ, họ phủ phục dưới dấu hiệu bánh xe của Bậc Đạo Sư.
57.
57.
57.
Sāriputto mahāpañño, koraṇḍasamasādiso;
Samādhijjhānakusalo, vandate lokanāyakaṃ.
Sāriputta, of great wisdom, whose complexion is like the koraṇḍa flower, skilled in concentration and absorption, pays homage to the Leader of the World.
Ngài Sāriputta, bậc đại trí tuệ, có màu da giống như hoa koraṇḍa; Ngài thiện xảo trong định và thiền, đảnh lễ Bậc Lãnh Đạo Thế Gian.
58.
58.
58.
Gajjitā kālameghova, nīluppalasamasādiso;
Iddhibalena asamo, moggallāno mahiddhiko.
Like a thundering raincloud, with a complexion like the blue water lily, unequaled in psychic power, Moggallāna of great psychic power pays homage to the Leader of the World.
Như đám mây đen sấm vang, có màu da giống hoa sen xanh; Vô song về thần thông lực, ngài Moggallāna, bậc đại thần thông, (đảnh lễ Bậc Lãnh Đạo Thế Gian).
59.
59.
59.
Mahākassapopi ca thero, uttattakanakasannibho;
Dhutaguṇe agganikkhitto, thomito satthuvaṇṇito.
The Elder Mahākassapa, too, resembling refined gold, placed as foremost in the ascetic qualities, praised by gods and men and lauded by the Teacher, pays homage to the Leader of the World.
Và trưởng lão Mahākassapa, giống như vàng ròng đã được tôi luyện; Được xem là bậc nhất về hạnh đầu đà, được tán thán, được Bậc Đạo Sư ca ngợi, (cũng đảnh lễ Bậc Lãnh Đạo Thế Gian).
60.
60.
60.
Dibbacakkhūnaṃ yo aggo, anuruddho mahāgaṇī;
Ñātiseṭṭho bhagavato, avidūreva tiṭṭhati.
Anuruddha, who is foremost among those with the divine eye, a leader of a great following and the most excellent kinsman of the Blessed One, stands not far away.
Ngài Anuruddha, bậc đứng đầu về thiên nhãn, vị lãnh đạo của một hội chúng lớn; Là người bà con cao quý của Đức Thế Tôn, đang đứng ở một nơi không xa.
61.
61.
61.
Āpattianāpattiyā, satekicchāya kovido;
Vinaye agganikkhitto, upāli satthuvaṇṇito.
Upāli, skilled in what is an offense and what is not an offense, and in matters remediable, placed as foremost in the Vinaya and praised by the Teacher, pays homage to the Leader of the World.
Ngài Upāli, bậc thiện xảo về việc có phạm tội và không phạm tội, và về việc có thể sửa chữa; Được xem là bậc nhất về Luật, được Bậc Đạo Sư ca ngợi, (đảnh lễ Bậc Lãnh Đạo Thế Gian).
62.
62.
62.
Sukhumanipuṇatthapaṭividdho, kathikānaṃ pavaro gaṇī;
Isi mantāniyā putto, puṇṇo nāmāti vissuto.
The sage, son of Mantānī, renowned by the name of Puṇṇa, who has penetrated the subtle text and its profound meaning, the most excellent of speakers and a leader of a following, pays homage to the Leader of the World.
Bậc đã thâm nhập ý nghĩa vi tế và sâu sắc, là người thuyết giảng cao tột, vị lãnh đạo hội chúng; Vị ẩn sĩ, con trai của bà Mantānī, nổi danh với tên gọi Puṇṇa, (đảnh lễ Bậc Lãnh Đạo Thế Gian).
63.
63.
63.
Etesaṃ cittamaññāya, opammakusalo muni;
Kaṅkhacchedo mahāvīro, kathesi attano guṇaṃ.
Knowing their thoughts, the Sage, skilled in similes, the cutter of doubt, the great hero, spoke of His own qualities.
Biết được tâm của họ, bậc Thánh nhân thiện xảo trong việc dùng ví dụ; Bậc Đoạn Trừ Nghi Hoặc, bậc Đại Anh Hùng, đã nói về đức hạnh của chính mình.
64.
64.
64.
‘‘Cattāro te asaṅkheyyā, koṭi yesaṃ na nāyati;
Sattakāyo ca ākāso, cakkavāḷā canantakā;
Buddhañāṇaṃ appameyyaṃ, na sakkā ete vijānituṃ.
These four are the incalculables, whose limit is not perceived: the host of beings, space, the endless world-systems, and the immeasurable knowledge of a Buddha. It is not possible for others to know these.
‘Có bốn điều không thể tính đếm, mà giới hạn của chúng không thể biết được; Đó là tập hợp chúng sanh, không gian, các thế giới vô tận; Và Phật trí không thể đo lường, không thể nào biết được những điều này.’
65.
65.
65.
‘‘Kimetaṃ acchariyaṃ loke, yaṃ me iddhivikubbanaṃ;
Aññe bahū acchariyā, abbhutā lomahaṃsanā.
What marvel is this in the world, this psychic transformation of mine? There are many other marvels, unprecedented and hair-raising.
‘Sự biểu diễn thần thông này của ta ở thế gian, có gì là kỳ diệu đâu? Còn có nhiều điều kỳ diệu khác, phi thường và làm dựng tóc gáy.’
66.
66.
66.
‘‘Yadāhaṃ tusite kāye, santusito nāmahaṃ tadā;
Dasasahassī samāgamma, yācanti pañjalī mamaṃ.
When I was in the Tusita realm, then named Santusita, the deities of the ten-thousand world-system assembled and beseeched me with joined palms.
‘Khi ta ở cõi trời Tusita, lúc ấy ta có tên là Santusita; Chư vị ở mười ngàn thế giới đã cùng nhau hội họp, chắp tay thỉnh cầu ta.’
67.
67.
67.
‘‘‘Kālo kho te † mahāvīra, uppajja mātukucchiyaṃ;
Sadevakaṃ tārayanto, bujjhassu amataṃ padaṃ’.
‘O great hero, it is now the time for you. Be conceived in a mother’s womb. Ferrying across the world with its devas, awaken to the deathless state!’
‘‘‘Đã đến lúc rồi, hỡi bậc Đại Anh Hùng, xin hãy sinh vào lòng mẹ; Cứu độ thế gian cùng với chư thiên, xin hãy giác ngộ trạng thái bất tử.’
68.
68.
68.
‘‘Tusitā kāyā cavitvāna, yadā okkami kucchiyaṃ;
Dasasahassīlokadhātu, kampittha dharaṇī tadā.
When, having passed away from the Tusita realm, I descended into the womb, then the earth of the ten-thousand world-system trembled.
‘Từ cõi trời Tusita mệnh chung, khi ta nhập vào thai mẹ; Khi ấy, trái đất trong mười ngàn thế giới đã rung chuyển.’
69.
69.
69.
‘‘Yadāhaṃ mātukucchito, sampajānova nikkhamiṃ;
Sādhukāraṃ pavattenti, dasasahassī pakampatha.
When I emerged from my mother’s womb, fully aware, they raised a cry of ‘Sādhu!’ and the ten-thousand world-system trembled.
‘Khi ta từ lòng mẹ sinh ra, với đầy đủ chánh niệm tỉnh giác; Mười ngàn thế giới đã rung chuyển, vang lên những tiếng tán dương lành thay.’
70.
70.
70.
‘‘Okkantiṃ me samo natthi, jātito abhinikkhame;
Sambodhiyaṃ ahaṃ seṭṭho, dhammacakkappavattane.
In my conception there is no equal, nor in my birth; I am the most excellent in supreme enlightenment and in the turning of the Wheel of Dhamma.
‘Trong việc nhập thai, không ai bằng ta, cũng như trong việc đản sanh và xuất gia; Ta là bậc tối thượng trong sự giác ngộ, và trong việc chuyển Pháp luân.’
71.
71.
71.
‘‘Aho acchariyaṃ loke, buddhānaṃ guṇamahantatā;
Dasasahassīlokadhātu, chappakāraṃ pakampatha;
Obhāso ca mahā āsi, accheraṃ lomahaṃsanaṃ’’.
Ah, what a marvel in the world is the greatness of the qualities of the Buddhas! The ten-thousand world-system trembled in six ways; and a great radiance appeared, astonishing and hair-raising.
‘Ôi, thật kỳ diệu thay ở thế gian, sự vĩ đại về đức hạnh của các vị Phật! Mười ngàn thế giới đã rung chuyển theo sáu cách; Và một ánh sáng vĩ đại đã xuất hiện, thật kỳ diệu và làm dựng tóc gáy.’
72.
72.
72.
Bhagavā tamhi † samaye, lokajeṭṭho narāsabho;
Sadevakaṃ dassayanto, iddhiyā caṅkamī jino.
At that time the Blessed One, the Conqueror, foremost in the world, bull among men, walked by means of psychic power, showing Himself to the world with its devas.
Đức Thế Tôn vào lúc ấy, bậc Trưởng Thượng của thế gian, bậc Ngưu Vương trong loài người; Vị Chiến Thắng đã kinh hành bằng thần thông, biểu diễn cho thế gian cùng chư thiên thấy.
73.
73.
73.
Caṅkame caṅkamantova, kathesi lokanāyako;
Antarā na nivatteti, catuhatthe caṅkame yathā.
While pacing upon the walkway, the Leader of the World taught the Dhamma; He did not turn back midway, as though upon a walkway of four cubits.
Bậc Lãnh Đạo Thế Gian đã thuyết giảng trong khi đang kinh hành trên con đường kinh hành; Ngài không quay lại ở khoảng giữa, như thể đang kinh hành trên con đường dài bốn cubit.
74.
74.
74.
Sāriputto mahāpañño, samādhijjhānakovido;
Paññāya pāramippatto, pucchati lokanāyakaṃ.
Sāriputta, of great wisdom, skilled in concentration and absorption, having reached the pinnacle of wisdom, questioned the Leader of the World.
Ngài Sāriputta, bậc đại trí tuệ, thiện xảo trong định và thiền; Bậc đã đạt đến sự toàn hảo về trí tuệ, hỏi Bậc Lãnh Đạo Thế Gian.
75.
75.
75.
‘‘Kīdiso te mahāvīra, abhinīhāro naruttama;
Kamhi kāle tayā dhīra, patthitā bodhimuttamā.
Of what kind, O great hero, O highest of men, was your aspiration? At what time, O steadfast one, did you aspire to supreme enlightenment?
‘Thưa bậc Đại Anh Hùng, bậc Tối Thắng trong loài người, sự phát nguyện của ngài như thế nào? Thưa bậc Trí Giả, vào thời điểm nào ngài đã phát nguyện cầu tuệ giác tối thượng?’
76.
76.
76.
‘‘Dānaṃ sīlañca nekkhammaṃ, paññāvīriyañca kīdisaṃ;
Khantisaccamadhiṭṭhānaṃ, mettupekkhā ca kīdisā.
“Of what kind were your generosity, virtue, and renunciation; your wisdom and energy? Of what kind were your patience, truth, and determination; your loving-kindness and equanimity?”
‘Bố thí, trì giới và xuất gia, trí tuệ và tinh tấn của ngài như thế nào? Nhẫn nại, chân thật và quyết định, tâm từ và tâm xả của ngài như thế nào?’
77.
77.
77.
‘‘Dasa pāramī tayā dhīra, kīdisī lokanāyaka;
Kathaṃ upapāramī puṇṇā, paramatthapāramī kathaṃ’’.
“O steadfast Leader of the World, how were your ten perfections fulfilled? How were the subsidiary perfections fulfilled, and how the ultimate perfections?”
‘Thưa bậc Trí Giả, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, mười ba-la-mật của ngài như thế nào? Các cận ba-la-mật đã được viên mãn ra sao, và các thượng ba-la-mật như thế nào?’
78.
78.
78.
Tassa puṭṭho viyākāsi, karavīkamadhuragiro;
Nibbāpayanto hadayaṃ, hāsayanto sadevakaṃ.
Being questioned by him, the Lord, whose voice is as sweet as the karavīka bird, explained, cooling the heart and delighting the world with its devas.
Được ngài ấy hỏi, bậc có giọng nói ngọt ngào như chim karavīka đã giải thích; Làm dịu mát tâm hồn, làm hoan hỷ thế gian cùng chư thiên.
79.
79.
79.
Atītabuddhānaṃ jinānaṃ desitaṃ, nikīlitaṃ † buddhaparamparāgataṃ;
Pubbenivāsānugatāya buddhiyā, pakāsayī lokahitaṃ sadevake.
With the wisdom that follows the recollection of past lives, he revealed that which was taught by the past Buddhas, the Conquerors—unblemished and handed down in the succession of Buddhas—for the welfare of the world with its devas.
Ngài đã tuyên thuyết vì lợi ích của thế gian cùng chư thiên, bằng trí tuệ túc mạng thông, về giáo pháp đã được thuyết giảng bởi các bậc Chánh Giác quá khứ, và về truyền thống Phật đà không tỳ vết.
80.
80.
80.
‘‘Pītipāmojjajananaṃ, sokasallavinodanaṃ;
Sabbasampattipaṭilābhaṃ, cittīkatvā suṇātha me.
“Listen respectfully to my words, which give rise to joy and gladness, dispel the dart of sorrow, and are the cause for attaining all accomplishments.”
‘Điều làm phát sinh hỷ và lạc, điều xua tan mũi tên sầu muộn; Điều mang lại tất cả mọi thành tựu, hãy kính cẩn lắng nghe ta.’
81.
81.
81.
‘‘Madanimmadanaṃ sokanudaṃ, saṃsāraparimocanaṃ;
Sabbadukkhakkhayaṃ maggaṃ, sakkaccaṃ paṭipajjathā’’ti.
“The path that crushes conceit, dispels sorrow, brings release from saṃsāra, and leads to the destruction of all suffering—undertake it with respect.”
‘Con đường dập tắt sự say đắm, xua tan sầu muộn, giải thoát khỏi luân hồi; Con đường chấm dứt mọi khổ đau, hãy thực hành một cách kính cẩn.’
The Chapter on the Jeweled Walkway is concluded.
Phẩm về Con Đường Kinh Hành Bằng Bảo Vật đã kết thúc.