Bản dịch
THI -ap36 — Ký Sự về Rūpanandā
6 Abhirūpanandātherīapadāna
BJT 1246Trước đây chín mươi mốt kiếp, đã hiện khởi đấng Lãnh Đạo tên Vipassī, là vị có ánh mắt thu hút, là bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp.
BJT 1247Khi ấy, con đã được sanh ra ở Bandhumatī, trong gia tộc lớn, sung túc, thịnh vượng, có sắc đẹp, được yêu quý, và xứng đáng sự tôn vinh của dân chúng.
BJT 1248Con đã đi đến đấng Đại Hùng, bậc Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp, con đã đi đến nương nhờ vào bậc Lãnh Đạo của nhân loại.
BJT 1249Con đã thu thúc trong các giới. Và khi đấng Tối Thượng Nhân Niết Bàn, con đã cúng dường chiếc lọng che bằng vàng ở bên trên ngôi bảo tháp xá-lợi.
BJT 1250Là người nữ có sự xả bỏ đã được mở ra, có giới hạnh cho đến hết cuộc đời, con đã mệnh chung từ nơi ấy. Sau khi từ bỏ thân nhân loại, con đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 1251Khi ấy, con đã hưởng thụ mười điều thừa thải là: các sắc, các thinh, các hương, các vị, các xúc, –
BJT 1252– cùng với tuổi thọ, sắc đẹp, sung sướng, danh vọng, và quyền uy là tương tợ y như thế. Con đã vượt trội, con đã huy hoàng.
BJT 1253Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, con đã được sanh ra ở thành Kapila, là con gái của Khemaka dòng Sakya, được nổi danh với tên là Nandā.
BJT 1254Sắc đẹp tuyệt trần là tên hiệu công nhận về vẻ yêu kiều của con. Khi đạt đến tuổi thanh xuân, con đã được điểm tô với sắc đẹp mặn mà.
BJT 1255Khi ấy, sự tranh chấp giữa các vị dòng Sakya về việc của con đã trở nên vô cùng trầm trọng. Do đó, cha đã khiến (con) xuất gia: “Chớ để dòng Sakya bị hủy hoại.”
BJT 1256Sau khi xuất gia, nghe rằng đức Như Lai bậc Tối Thượng Nhân là người có sự chỉ trích về sắc thân, tự hào về sắc đẹp của mình con đã không đến (gặp Ngài).
BJT 1257E ngại về việc diện kiến đức Phật, con cũng không đi về việc giáo giới. Khi ấy, bằng phương kế đấng Chiến Thắng đã đưa (con) đến gặp Ngài.
BJT 1258Nhờ vào thần thông, bậc rành rẽ về Đạo Lộ đã thị hiện ra ba người phụ nữ có sắc đẹp tương tợ tiên nữ, còn trẻ tuổi, bị già, và bị chết.
BJT 1259Sau khi nhìn thấy ba người nữ ấy, bị vô cùng chấn động, không còn tham ái ở xác thân, con đã ổn định, đã nhàm chán hiện hữu. Khi ấy, bậc Lãnh đạo đã nói với con rằng:
BJT 1260“Này Nandā, hãy xem xét thân thể bệnh hoạn, bất tịnh, hôi thối, đang tiết ra, đang rò rỉ lại được hứng thú đối với những kẻ ngu.
BJT 1261Nàng hãy tu tập tâm được chuyên nhất khéo tập trung về đề mục bất mỹ (tử thi), thân này như thế nào thì xác kia như vậy.
BJT 1262Trong khi quán xét xác thân này như thế, đêm ngày không mệt mỏi, sau đó với tuệ của chính mình nàng hãy nhàm chán rồi an trú.”
BJT 1263Trong khi con đây đang sống không xao lãng ở nơi đây một cách đúng đắn, thân xác này đã được nhìn thấy bên trong lẫn bên ngoài đúng theo thực thể.
BJT 1264Khi ấy, con đã nhàm chán về thân, và con đã ly tham nội phần. Con không xao lãng, không vướng bận, an tịnh, Niết Bàn.
BJT 1265Bạch đấng Đại Hiền Trí, con đã có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, con đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
BJT 1266Con biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 1267Bạch đấng Đại Hùng, trí của con về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.
BJT 1268Các phiền não của con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), con sống không còn lậu hoặc.
BJT 1269Quả vậy, con đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 1270Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được con đắc chứng; con đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Rūpanandātrước mặt đức Thế Tôn đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Rūpanandā là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Abhirūpanandātherīapadānaṃ
6. The Apadāna of the Therī Abhirūpanandā
6. Trưởng Lão Ni Kệ của Abhirūpanandā
143.
143.
143.
‘‘Ekanavutito kappe, vipassī nāma nāyako;
Uppajji cārudassano, sabbadhammesu cakkhumā.
“Ninety-one eons from now, the leader named Vipassī arose—lovely to behold, one with vision in all things.”
“Cách đây chín mươi mốt kiếp, bậc Đạo Sư tên là Vipassī đã xuất hiện, ngài có tướng mạo khả ái, là bậc có mắt đối với tất cả các pháp.
144.
144.
144.
‘‘Tadāhaṃ bandhumatiyaṃ, iddhe phīte mahākule;
Jātā surūpā dayitā, pūjanīyā janassa ca.
“At that time, in Bandhumatī, I was born into a great family, prosperous and flourishing, beautiful, beloved, and revered by the people.”
Khi ấy, tại thành Bandhumatī, tôi đã sanh ra trong một gia tộc lớn, thịnh vượng và giàu có. Tôi có dung sắc xinh đẹp, được mọi người yêu mến và tôn kính.
145.
145.
145.
‘‘Upagantvā mahāvīraṃ, vipassiṃ lokanāyakaṃ;
Dhammaṃ suṇitvā saraṇaṃ, upesiṃ naranāyakaṃ.
“Having approached the Great Hero, Vipassī, the leader of the world, and having heard the Dhamma, I went for refuge to that leader of men.”
Sau khi đến gần bậc Đại Hùng, đức Vipassī, bậc Lãnh Đạo thế gian, và lắng nghe Pháp, tôi đã quy y nơi bậc Lãnh Đạo nhân loại.
146.
146.
146.
‘‘Sīlesu saṃvutā hutvā, nibbute ca naruttame;
Dhātuthūpassa upari, soṇṇacchattamapūjayiṃ.
“Being restrained in virtue, when that supreme among men had attained Parinibbāna, I made an offering of a golden parasol over his relic stupa.”
Sau khi đã thu thúc trong các giới, và khi bậc Tối Thượng giữa loài người nhập Niết-bàn, tôi đã cúng dường một chiếc lọng vàng bên trên bảo tháp xá-lợi.
147.
147.
147.
‘‘Muttacāgā sīlavatī, yāvajīvaṃ tato cutā;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsūpagā ahaṃ.
“For as long as I lived, I was of open-handed generosity and virtuous. Passing away from there, having abandoned the human body, I went to Tāvatiṃsa.”
Suốt đời, tôi là người có giới hạnh và bố thí rộng rãi. Sau khi mệnh chung từ kiếp ấy, tôi từ bỏ thân người và đi đến cõi trời Tāvatiṃsa (Đao Lợi).
148.
148.
148.
‘‘Tadā dasahi ṭhānehi, adhibhotvāna sesake †;
Rūpasaddehi gandhehi, rasehi phusanehi ca.
“Then, having surpassed the others in ten respects: by forms, sounds, scents, tastes, and touches,”
Khi ấy, tôi đã vượt trội hơn các vị trời khác về mười phương diện: về sắc, thanh, hương, vị, và xúc;
149.
149.
149.
‘‘Āyunāpi ca vaṇṇena, sukhena yasasāpi ca;
Tathevādhipateyyena, adhigayha virocahaṃ.
By lifespan, by appearance, by happiness, and by fame, and likewise by authority—having surpassed others, I shone forth.
“Về tuổi thọ, dung sắc, an lạc, danh tiếng, và cả quyền uy, tôi đã vượt trội hơn (các chúng sinh khác) và tỏa sáng rực rỡ.”
150.
150.
150.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, jātāhaṃ kapilavhaye;
Dhītā khemakasakkassa, nandā nāmāti vissutā.
“Now, in my final existence, I was born in the city of Kapila; I was the daughter of Khemaka the Sakyan, renowned as Nandā.”
Và bây giờ, trong kiếp sống cuối cùng này, tôi đã sanh ra tại thành Kapilavatthu, là con gái của vua Khemaka dòng Sakya, nổi tiếng với tên gọi Nandā.
151.
151.
151.
‘‘Abhirūpasampadampi †, ahu me kantisūcakaṃ;
Yadāhaṃ yobbanappattā, rūpalāvaññabhūsitā.
“I possessed supreme beauty, an indication of radiance; when I reached youth, I was adorned with loveliness and grace.”
Tôi đã có được vẻ đẹp hoàn hảo, biểu lộ sự duyên dáng. Khi tôi đến tuổi thanh xuân, tôi được trang điểm bởi vẻ đẹp và sự quyến rũ của mình.
152.
152.
152.
‘‘Tadā † matthe sakyānaṃ, vivādo sumahā ahu;
Pabbājesi tato tāto, mā sakyā vinassiṃsuti.
“Then, on my account, a great dispute arose among the Sakyans; therefore, my father had me go forth, thinking, ‘Lest the Sakyans be destroyed.’”
Khi ấy, vì tôi mà đã có một cuộc tranh chấp lớn lao giữa các vị hoàng tộc Sakya. Do đó, phụ thân đã cho tôi xuất gia, (nghĩ rằng): ‘Mong rằng các vị Sakya sẽ không bị hủy diệt.’
153.
153.
153.
‘‘Pabbajitvā tathāgataṃ, rūpadessiṃ naruttamaṃ;
Sutvāna nopagacchāmi, mama rūpena gabbitā.
“Having gone forth, I was conceited about my beauty. Having heard that the Tathāgata, the supreme among men, disparages physical form, I did not approach him.”
Sau khi xuất gia, nghe rằng đức Như Lai, bậc Tối Thượng giữa loài người, là người chỉ trích sắc đẹp, tôi đã không đến gần ngài, vì kiêu hãnh với sắc đẹp của mình.
154.
154.
154.
‘‘Ovādampi na gacchāmi, buddhadassanabhīrutā;
Tadā jino upāyena, upanetvā sasantikaṃ.
“I did not go for his instruction, being fearful of seeing the Buddha. Then the Conqueror, by a skillful means, brought me into his presence.”
Tôi cũng không đi để nhận lời giáo huấn, vì sợ phải diện kiến đức Phật. Khi ấy, bậc Chiến Thắng đã dùng phương tiện để đưa tôi đến trước sự hiện diện của ngài.
155.
155.
155.
‘‘Tissitthiyo † nidassesi, iddhiyā maggakovido;
Accharārūpasadisaṃ, taruṇiṃ jaritaṃ † mataṃ.
“He, the one skilled in the path, by his psychic power, showed three women: a young woman like a celestial nymph, an old woman, and a dead woman.”
Bậc thông thạo về đạo lộ, bằng thần thông, đã cho thấy ba người phụ nữ: một thiếu nữ trẻ trung có dung sắc như thiên nữ, một người đàn bà già, và một người đã chết.
156.
156.
156.
‘‘Tāyo disvā susaṃviggā, virattāse kaḷevare;
Aṭṭhāsiṃ bhavanibbindā, tadā maṃ āha nāyako.
“Seeing them, deeply stirred, I became disenchanted with my own body. Standing there, weary of existence, the Leader then spoke to me:”
Sau khi thấy họ, tôi vô cùng xúc động, đã ly tham đối với thân thể của mình; tôi đứng đó, nhàm chán đối với sự hiện hữu. Khi ấy, bậc Đạo Sư đã nói với tôi:
157.
157.
157.
‘‘‘Āturaṃ asuciṃ pūtiṃ, passa nande samussayaṃ;
Uggharantaṃ paggharantaṃ, bālānaṃ abhinanditaṃ.
“‘See, Nandā, this afflicted, impure, putrid body, oozing and trickling, which is delighted in by fools.’”
‘Này Nandā, hãy nhìn xem thân thể này, nó bệnh hoạn, bất tịnh, và hôi thối; nó rỉ ra và chảy ra, được những kẻ ngu si ưa thích.’
158.
158.
158.
‘‘‘Asubhāya cittaṃ bhāvehi, ekaggaṃ susamāhitaṃ;
Yathā idaṃ tathā etaṃ, yathā etaṃ tathā idaṃ.
“‘Develop your mind on the theme of the foul, one-pointed and well-concentrated. As this is, so is that; as that is, so is this.’”
‘Hãy tu tập tâm về tướng bất tịnh, hãy làm cho nó nhất tâm và định tĩnh. Như thế nào cái này, cũng như vậy cái kia; như thế nào cái kia, cũng như vậy cái này.’
159.
159.
159.
‘‘‘Evametaṃ avekkhantī, rattindivamatanditā;
Tato sakāya paññāya, abhinibbijjha vacchasi’.
“‘Thus contemplating it day and night, unwearied, you will then, with your own wisdom, penetrate and dwell.’”
‘Như thế này, vị ấy đang quán xét, ngày đêm không mệt mỏi; sau đó, với trí tuệ của chính mình, sau khi đã thấu triệt, vị ấy sẽ được an trú’.
160.
160.
160.
‘‘Tassā me appamattāya, vicarantiyā † yoniso;
Yathābhūtaṃ ayaṃ kāyo, diṭṭho santarabāhiro.
“For me, who was dwelling heedfully, investigating with wise attention, this body, inside and out, was seen as it truly is.”
Đối với tôi là người không dể duôi, trong khi đang tư duy một cách như lý, thân này đã được thấy đúng theo thực Tánh, cả bên trong lẫn bên ngoài.
161.
161.
161.
‘‘Atha nibbindahaṃ kāye, ajjhattañca virajjahaṃ;
Appamattā visaṃyuttā, upasantāmhi nibbutā.
“Then I grew disenchanted with the body, and I became dispassionate within. Heedful, detached, at peace, I am extinguished.”
Bấy giờ, tôi đã nhàm chán ở nơi thân, và tôi đã ly tham ở nội tâm. Tôi là người không dể duôi, không còn bị ràng buộc, được an tịnh, đã được tịch tịnh.
162.
162.
162.
‘‘Iddhīsu ca vasī homi, dibbāya sotadhātuyā;
Cetopariyañāṇassa, vasī homi mahāmune.
“I have mastery over the psychic powers and over the divine ear-element; I have mastery over the knowledge of others' minds, O Great Sage.”
Và tôi là người thuần thục về các thần thông, về thiên nhĩ thông. Hỡi bậc Đại ẩn sĩ, tôi là người thuần thục về tha tâm thông.
163.
163.
163.
‘‘Pubbenivāsaṃ jānāmi, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Sabbāsavaparikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
“I know my past lives, the divine eye is purified; all the taints are destroyed, now there is no more rebirth.”
Tôi biết được các tiền kiếp, thiên nhãn đã được thanh tịnh. Tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, bây giờ không còn tái sanh nữa.
164.
164.
164.
‘‘Atthadhammaniruttīsu, paṭibhāne tatheva ca;
Ñāṇaṃ mama mahāvīra, uppannaṃ tava santike.
“In meaning, in the Dhamma, in language, and likewise in ready wit, O Great Hero, this knowledge has arisen in me in your presence.”
Hỡi bậc Đại Hùng, ở nơi Ngài, trí tuệ của tôi đã được sanh khởi về các ngành phân tích: nghĩa, pháp, và ngữ nguyên, và luôn cả biện tài nữa.
165.
165.
165.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
“My defilements are burnt away… I dwell without taints.”
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy ... tôi sống không còn lậu hoặc.
166.
166.
166.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“Welcome indeed was my arrival… the Buddha’s teaching has been done.”
Sự đến của tôi quả thật là khéo đến ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
167.
167.
167.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.”
Bốn Tuệ Phân Tích ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ abhirūpanandā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the bhikkhunī Abhirūpanandā spoke these verses.
Như vậy, thật sự Tỳ-khưu-ni Abhirūpanandā đã nói lên những câu kệ này.
Abhirūpanandātheriyāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The Apadāna of Abhirūpanandā Therī: the Sixth.
Trưởng Lão Ni Kệ của Trưởng Lão Ni Abhirūpanandā, phẩm thứ sáu.