Bản dịch
THI -ap35 — Ký Sự về Sukkā
Sukkātherīapadāna
BJT 1214Trước đây chín mươi mốt kiếp, đã hiện khởi đấng Lãnh Đạo tên Vipassī, là vị có ánh mắt thu hút, là vị thấy rõ tất cả các pháp.
BJT 1215Khi ấy, con đã được sanh ra trong một gia đình nọ tại thành Bandhumatī. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của bậc Hiền Trí, con đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 1216Là người nghe nhiều (học rộng), thông thạo Giáo Pháp, tài biện giải cũng như thế, là vị thuyết giảng hay, và cũng là người thực hành theo lời dạy của đấng Chiến Thắng.
BJT 1217Khi ấy, con đã thực hiện việc thuyết Pháp có nhiều lợi ích cho dân chúng. Từ nơi ấy chết đi, con đã đạt đến cõi trời Đẩu Suất, có được danh tiếng.
BJT 1218Trước đây ba mươi mốt kiếp, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi ở thế gian bậc Chiến Thắng Sikhī cao quý, chói sáng với danh tiếng như là ngọn lửa.
BJT 1219Khi ấy, con cũng đã xuất gia. Là vị rành rẽ về lời dạy của đức Phật, con đã làm rạng rỡ những lời giảng của đấng Chiến Thắng, sau đó cũng đã đi đến cõi Đạo Lợi.
BJT 1220Trước đây ba mươi mốt kiếp, đấng Lãnh Đạo tên Vessabhū có đại trí tuệ đã hiện khởi. Và cũng vào lúc ấy, con đã được sanh ra tương tợ y như thế.
BJT 1221Sau khi xuất gia, thông thạo Giáo Pháp, con đã làm rạng rỡ lời dạy của đấng Chiến Thắng. Sau khi đi đến thành phố chư Thiên xinh đẹp, con đã thọ hưởng lạc thú lớn lao.
BJT 1222Trong kiếp Bhadda này, đấng Chiến Thắng tối thượng Kakusandha, bậc Nhân Báo đã hiện khởi. Và cũng vào lúc ấy, con đã được sanh ra tương tợ y như thế.
BJT 1223Sau khi xuất gia, con đã làm rạng rỡ quan điểm của bậc Hiền Trí cho đến hết tuổi thọ. Từ nơi ấy chết đi, con đã đi đến cõi trời Đạo Lợi tợ như đi đến chỗ ngụ của mình.
BJT 1224Chính ở trong kiếp này, đã hiện khởi đấng Lãnh Đạo Koṇāgamana, bậc Nương Nhờ của thế gian, là đấng Tối Thượng của tất cả chúng sanh.
BJT 1225Cũng vào khi ấy, sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của bậc như thế ấy, là người nghe nhiều (học rộng), thông thạo Giáo Pháp, con đã làm rạng rỡ lời dạy của đấng Chiến Thắng.
BJT 1226Chính ở trong kiếp này, đã hiện khởi đấng Tối Thượng Nhân Kassapa, là con mắt của thế gian, không dục vọng, bậc đã đi đến tận cùng của sự chết.
BJT 1227Con cũng đã xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng của loài người ấy, có Chánh Pháp đã được học tập, là tự tin trong việc chất vấn.
BJT 1229Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại con đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 1230Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, con đã được sanh ra tại kinh thành Giribbaja, trong gia đình triệu phú, thịnh vượng, có sự tích lũy châu báu lớn lao.
BJT 1231Vào lúc ấy, được tháp tùng bởi một ngàn vị tỳ khưu, đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã đi vào thành Rājagaha, và đã được ca ngợi bởi vị có ngàn mắt (trời Sakka):
BJT 1232“Là bậc đã chế ngự cùng với các vị đã được chế ngự, là bậc đã giải thoát cùng với các vị đã được giải thoát trước đây là các đạo sĩ tóc bện, đức Thế Tôn có màu da tợ như vàng đã đi vào thành Rājagaha.”
BJT 1233Sau khi nhìn thấy oai lực ấy của đức Phật, và sau khi lắng nghe sự tích lũy về đức hạnh, con đã làm cho tâm được tịnh tín ở đức Phật và đã cúng dường Ngài tùy theo năng lực.
BJT 1234Và vào thời điểm khác, trong sự hiện diện của vị ni Dhammadinnā, con đã rời khỏi gia đình và đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 1235Trong khi các sợi tóc đang được cạo, con đã tham thiền về các phiền não. Sau khi xuất gia không bao lâu, con đã học xong toàn bộ Giáo Pháp.
BJT 1236Sau đó, con đã thuyết giảng Giáo Pháp ở hội chúng đông người. Trong khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp –
BJT 1237– của nhiều ngàn người. Sau khi biết được điều đó, có vị Dạ Xoa đã vô cùng ngạc nhiên. Vô cùng tịnh tín đối với con, vị Dạ Xoa đã đi quanh thành Giribbaja (thông báo rằng):
BJT 1238“Những người dân này ở Rājagaha đã làm gì? Họ ngồi yên như là đã uống (say) mật ong mà không đi đến vị ni Sukkā đang thuyết giảng về vị thế Bất Tử?
BJT 1239Và Giáo Pháp ấy là không thể cưỡng lại, không bị trộn lẫn, có dưỡng chất. Tôi nghĩ rằng những người có trí tuệ uống (Giáo Pháp ấy) tợ như người lữ hành uống (nước từ) đám mây mưa.”
BJT 1240Bạch đấng Đại Hiền Trí, con đã có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, con đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
BJT 1241Con biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 1242Bạch đấng Đại Hùng, trí của con về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.
BJT 1243Các phiền não của con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), con sống không còn lậu hoặc.
BJT 1244Quả vậy, con đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 1245Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được con đắc chứng; con đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Sukkā trước mặt đức Thế Tôn đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Sukkā là phần thứ năm.
Tụng phẩm thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Sukkātherīapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Nun Sukkā.
5. Trưởng Lão Ni Kệ Sukkā
111.
111.
111.
‘‘Ekanavutito kappe, vipassī nāma nāyako;
Uppajji cārudassano, sabbadhammavipassako.
In the ninety-first eon from this one, a leader named Vipassī arose, one of lovely appearance, a seer of all phenomena.
Cách đây chín mươi mốt kiếp, bậc Đạo Sư tên là Vipassī đã xuất hiện, Ngài có tướng hảo đáng chiêm ngưỡng, là bậc thấy rõ tất cả các pháp.
112.
112.
112.
‘‘Tadāhaṃ bandhumatiyaṃ, jātā aññatare kule;
Dhammaṃ sutvāna munino, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Then, in Bandhumatī, I was born in a certain family; having heard the Dhamma of the Sage, I went forth into the homeless life.
Khi ấy, tôi sanh ra trong một gia tộc nào đó ở thành Bandhumatī; sau khi nghe Pháp của bậc Mâu-ni, tôi đã xuất gia vào đời sống không nhà.
113.
113.
113.
‘‘Bahussutā dhammadharā, paṭibhānavatī tathā;
Vicittakathikā cāpi, jinasāsanakārikā.
I was very learned, an upholder of the Dhamma, and likewise possessed of ready wit; I was also a speaker of varied talks, a follower of the Victor's teaching.
Tôi là người đa văn, trì pháp, cũng như có biện tài; và cũng là người thuyết pháp tài tình, người thực hành giáo pháp của bậc Chiến Thắng.
114.
114.
114.
‘‘Tadā dhammakathaṃ katvā, hitāya janataṃ bahuṃ †;
Tato cutāhaṃ tusitaṃ, upapannā yasassinī.
Then, having delivered a Dhamma talk for the benefit of many people, after passing away from that existence, I, possessing a large retinue, was reborn in the Tusita heaven.
Khi ấy, sau khi thuyết pháp vì lợi ích của nhiều chúng sanh; từ đó mệnh chung, tôi đã sanh lên cõi trời Tusita, là người có danh tiếng.
115.
115.
115.
‘‘Ekatiṃse ito kappe, sikhī viya sikhī jino;
Tapanto yasasā loke †, uppajji vadataṃ varo.
Thirty-one eons from this one, the Victor named Sikhī arose in the world, shining by means of his retinue like a flame, the most excellent of those who speak.
Cách đây ba mươi mốt kiếp, bậc Chiến Thắng Sikhī, như ngọn lửa, đã xuất hiện trên đời, tỏa sáng với danh tiếng, là bậc tối thượng trong những người thuyết giảng.
116.
116.
116.
‘‘Tadāpi pabbajitvāna, buddhasāsanakovidā;
Jotetvā jinavākyāni, tatopi tidivaṃ gatā.
At that time also, having gone forth, skilled in the Buddha’s Dispensation, and having illuminated the Conqueror’s words, from that existence I went to the celestial world.
Khi ấy cũng vậy, sau khi xuất gia, tôi đã thông thạo giáo pháp của đức Phật; sau khi làm rạng rỡ lời dạy của bậc Chiến Thắng, từ đó tôi cũng đã đi đến cõi trời.
117.
117.
117.
‘‘Ekatiṃseva kappamhi, vessabhū nāma nāyako;
Uppajjittha mahāñāṇī, tadāpi ca tathevahaṃ.
In that same thirty-first eon, the leader named Vessabhū, possessing great wisdom, arose. At that time also, I was just the same.
Cũng trong kiếp thứ ba mươi mốt ấy, bậc Đạo Sư tên là Vessabhū, bậc có trí tuệ vĩ đại, đã xuất hiện. Và khi ấy, tôi cũng như thế.
118.
118.
118.
‘‘Pabbajitvā dhammadharā, jotayiṃ jinasāsanaṃ;
Gantvā marupuraṃ rammaṃ, anubhosiṃ mahāsukhaṃ.
Having gone forth as an upholder of the Dhamma, I illuminated the Conqueror’s Dispensation. Going to the delightful city of the devas, I experienced great bliss.
Sau khi xuất gia, là người trì pháp, tôi đã làm rạng rỡ giáo pháp của bậc Chiến Thắng; đi đến thành phố của chư thiên đáng hoan hỷ, tôi đã hưởng thụ đại lạc.
119.
119.
119.
‘‘Imamhi bhaddake kappe, kakusandho jinuttamo;
Uppajji narasaraṇo †, tadāpi ca tathevahaṃ.
In this auspicious eon, Kakusandha, the supreme Conqueror, a refuge for humans, arose. At that time also, I was just the same.
Trong kiếp hiền thiện này, đức Kakusandha, bậc Chiến Thắng tối thượng, là nơi nương tựa của nhân loại, đã xuất hiện. Và khi ấy, tôi cũng như thế.
120.
120.
120.
‘‘Pabbajitvā munimataṃ, jotayitvā yathāyukaṃ;
Tato cutāhaṃ tidivaṃ, agaṃ sabhavanaṃ yathā.
Having gone forth and illuminated the sage’s doctrine for the duration of my life, passing away from that existence, I went to the celestial world as if to my own home.
Sau khi xuất gia, tôi đã làm rạng rỡ giáo pháp của bậc Mâu-ni cho đến hết tuổi thọ; từ đó mệnh chung, tôi đã đi đến cõi trời như về nhà của mình.
121.
121.
121.
‘‘Imasmiṃyeva kappamhi, koṇāgamananāyako;
Uppajji lokasaraṇo, araṇo amataṅgato †.
In this very eon, the leader Koṇāgamana arose, a refuge for the world, free from defilements, one who has gone to the Deathless.
Cũng trong kiếp này, bậc Đạo Sư Koṇāgamana đã xuất hiện, là nơi nương tựa của thế gian, không còn phiền não, đã đi đến cõi bất tử.
122.
122.
122.
‘‘Tadāpi pabbajitvāna, sāsane tassa tādino;
Bahussutā dhammadharā, jotayiṃ jinasāsanaṃ.
At that time also, having gone forth in the Dispensation of that Such-like One, being very learned and an upholder of the Dhamma, I illuminated the Conqueror’s Dispensation.
Khi ấy cũng vậy, sau khi xuất gia trong giáo pháp của vị như vậy, là người đa văn, trì pháp, tôi đã làm rạng rỡ giáo pháp của bậc Chiến Thắng.
123.
123.
123.
‘‘Imasmiṃyeva kappamhi, kassapo munimuttamo;
Uppajji lokasaraṇo, araṇo maraṇantagū.
In this very eon, Kassapa, the most excellent of sages, arose—a refuge for the world, free from defilements, one who has reached the end of death.
Cũng trong kiếp này, đức Kassapa, bậc Mâu-ni tối thượng, đã xuất hiện, là nơi nương tựa của thế gian, không còn phiền não, đã đi đến tận cùng của sự chết.
124.
124.
124.
‘‘Tassāpi naravīrassa, pabbajitvāna sāsane;
Pariyāpuṭasaddhammā, paripucchāvisāradā.
In the Dispensation of that hero among men, having gone forth, I mastered the good Dhamma and was skilled in inquiry.
Sau khi xuất gia trong giáo pháp của bậc Nhân Hùng ấy, tôi đã học hỏi diệu pháp, và thông thạo trong việc hỏi đáp.
125.
125.
125.
‘‘Susīlā lajjinī ceva, tīsu sikkhāsu kovidā;
Bahuṃ dhammakathaṃ katvā, yāvajīvaṃ mahāmune.
Being of good virtue and conscientious, and skilled in the three trainings, having delivered many Dhamma talks throughout my life, O Great Sage,
Tôi có giới hạnh tốt đẹp và có lòng tàm, thông thạo ba học giới; thưa bậc Đại Mâu-ni, sau khi đã thuyết nhiều bài pháp trong suốt cuộc đời.
126.
126.
126.
‘‘Tena kammavipākena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Through the result of that kamma, and through my intentions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Do quả của nghiệp ấy, và do các tác ý cùng nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa.
127.
127.
127.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, giribbajapuruttame;
Jātā seṭṭhikule phīte, mahāratanasañcaye.
And now, in my final existence, I was born in the excellent city of Giribbaja, into a prosperous treasurer's family, a place where great treasures are accumulated.
Và giờ đây, trong kiếp cuối cùng, tôi đã sanh ra trong gia đình trưởng giả tại thành phố Giribbaja cao quý, một nơi thịnh vượng, tích tụ nhiều châu báu.
128.
128.
128.
‘‘Yadā bhikkhusahassena, parivuto lokanāyako;
Upāgami rājagahaṃ, sahassakkhena vaṇṇito.
When the Leader of the World, praised by the thousand-eyed one and surrounded by a thousand bhikkhus, approached Rājagaha,
Khi bậc Đạo Sư của thế gian, được một ngàn vị Tỳ-khưu vây quanh, được vua trời Sakka tán thán, đã đi đến thành Rājagaha.
129.
129.
129.
‘‘‘Danto dantehi saha purāṇajaṭilehi, vippamutto vippamuttehi;
Siṅgīnikkhasavaṇṇo, rājagahaṃ pāvisi bhagavā’.
The Blessed One—tamed, together with the tamed former matted-hair ascetics; liberated, with those who are liberated; his complexion like Jambu-river gold—entered Rājagaha.
‘Đấng đã được điều phục cùng với các vị đã được điều phục, là các vị cựu bện tóc; đấng đã được giải thoát cùng với các vị đã được giải thoát; Đức Thế Tôn, có màu da như vàng ròng, đã đi vào thành Rājagaha’.
130.
130.
130.
‘‘Disvā buddhānubhāvaṃ taṃ, sutvāva guṇasañcayaṃ;
Buddhe cittaṃ pasādetvā, pūjayiṃ taṃ yathābalaṃ.
Having seen that majestic power of the Buddha and having heard of his accumulation of virtues, I established confidence in the Buddha and worshipped him according to my ability.
Sau khi thấy oai lực của đức Phật ấy, và sau khi nghe về sự tích tụ các đức hạnh của Ngài; tôi đã làm cho tâm tịnh tín nơi đức Phật, và đã cúng dường Ngài tùy theo sức của mình.
131.
131.
131.
‘‘Aparena ca kālena, dhammadinnāya santike;
Agārā nikkhamitvāna, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
And at another time, having gone forth from the household life into homelessness, I went forth in the presence of the Therī Dhammadinnā.
Và vào một thời gian sau, nơi Tỳ-khưu-ni Dhammadinnā, sau khi từ bỏ gia đình, tôi đã xuất gia vào đời sống không nhà.
132.
132.
132.
‘‘Kesesu chijjamānesu, kilese jhāpayiṃ ahaṃ;
Uggahiṃ sāsanaṃ sabbaṃ, pabbajitvācirenahaṃ.
While my hair was being cut, I burned up the defilements. Having gone forth, not long after, I learned the entire teaching.
Khi tóc đang được cắt, tôi đã thiêu đốt các phiền não; sau khi xuất gia, không bao lâu sau tôi đã học hỏi toàn bộ giáo pháp.
133.
133.
133.
‘‘Tato dhammamadesesiṃ, mahājanasamāgame;
Dhamme desiyamānamhi, dhammābhisamayo ahu.
Thereafter, I taught the Dhamma in a great assembly of people. While the Dhamma was being taught, there was a realization of the Dhamma.
“Sau đó, tôi đã thuyết Pháp trong đại chúng hội họp; trong khi Pháp đang được thuyết giảng, sự chứng ngộ Chân Pháp đã xảy ra.
134.
134.
134.
‘‘Nekapāṇasahassānaṃ, taṃ viditvātivimhito;
Abhippasanno me yakkho, bhamitvāna giribbajaṃ.
This was for many thousands of living beings. Knowing that, a yakkha, utterly amazed and deeply devoted to me, roamed around Giribbaja.
Đối với nhiều ngàn chúng sanh, vị dạ-xoa có lòng tịnh tín nơi tôi, sau khi biết được điều ấy và vô cùng kinh ngạc, đã đi loanh quanh khắp thành Giribbaja (Vương Xá).
135.
135.
135.
‘‘Kiṃ me katā rājagahe manussā, madhuṃ pītāva acchare;
Ye sukkaṃ na upāsanti, desentiṃ amataṃ padaṃ.
“What are these people in Rājagaha doing? They remain as if having drunk honey, in that they do not attend upon Sukkā, who teaches the deathless state.”
“Những người ở thành Rājagaha (Vương Xá) này đã làm gì vậy, họ chỉ ngồi đó như thể đã uống mật ong? Những người ấy sao lại không hầu cận Tỳ-khưu-ni Sukkā, vị đang thuyết giảng về trạng thái bất tử.
136.
136.
136.
‘‘Tañca appaṭivānīyaṃ, asecanakamojavaṃ;
Pivanti maññe sappaññā, valāhakamivaddhagū.
“And that Dhamma—which leads to the point of no return, is perfect in itself, and full of essence—the wise drink, I think, like travelers from a rain cloud.”
Tôi nghĩ rằng những người có trí tuệ đang uống Pháp ấy, Pháp không thoái chuyển, tự nó đã mỹ vị, và đầy bổ dưỡng, giống như những người lữ hành uống (nước từ) đám mây mưa.”
137.
137.
137.
‘‘Iddhīsu ca vasī homi, dibbāya sotadhātuyā;
Cetopariyañāṇassa, vasī homi mahāmune.
“I am a master of psychic powers and of the divine ear-element; I am a master of the knowledge of others' minds, O Great Sage.”
“Thưa bậc Đại Mâu-ni, tôi là người làm chủ các thần thông, làm chủ thiên nhĩ giới, và tôi làm chủ tha tâm thông.
138.
138.
138.
‘‘Pubbenivāsaṃ jānāmi, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Sabbāsavaparikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
“I know my past lives, the divine eye is purified; all my taints are destroyed, now there is no future existence.”
Tôi biết được các tiền kiếp, thiên nhãn của tôi đã được thanh tịnh; tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, bây giờ không còn tái sanh nữa.
139.
139.
139.
‘‘Atthadhammaniruttīsu, paṭibhāne tatheva ca;
Ñāṇaṃ mama mahāvīra, uppannaṃ tava santike.
“In meaning, the Dhamma, and language, and likewise in ready wit, O Great Hero, knowledge has arisen for me in your presence.”
Thưa bậc Đại Hùng, trí tuệ về nghĩa, pháp, ngữ và biện tài đã khởi sanh cho tôi nơi sự hiện diện của ngài.
140.
140.
140.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
“My defilements are burned… I dwell free of taints.”
“Các phiền não của tôi đã được đốt cháy… (vân vân)… tôi sống không còn lậu hoặc.
141.
141.
141.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“Indeed, my coming was welcome… the Buddha’s teaching has been done.”
“Quả thật, sự đến của tôi đã là một sự khéo đến… (vân vân)… giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.
142.
142.
142.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.”
“Bốn Tuệ phân tích… (vân vân)… giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ sukkā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the bhikkhunī Sukkā spoke these verses.
Như vậy, Tỳ-khưu-ni Sukkā đã nói lên những câu kệ này.
Sukkātheriyāpadānaṃ pañcamaṃ.
The Apadāna of the Therī Sukkā: the Fifth.
Trưởng Lão Ni Kệ của Sukkā, phẩm thứ năm.
Pañcamaṃ bhāṇavāraṃ.
The Fifth Recitation Section.
Phẩm Tụng Đọc thứ năm.