Bản dịch
THI -ap34 — Ký Sự về Sigālamātā
4 Siṅgālamātutherīapadāna
BJT 1185Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 1186Khi ấy, con đã được sanh ra tại Haṁsavatī, trong gia đình vị quan cận thần được rạng rỡ với châu báu khác loại, sung túc, thịnh vượng, có đại tài sản.
BJT 1187Sau khi cùng với người cha dẫn đầu đám đông người đi đến và lắng nghe Giáo Pháp của đức Phật, con đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 1188Sau khi xuất gia, con đã lánh xa nghiệp ác do thân. Sau khi từ bỏ sở hành xấu xa về lời nói, con đã thanh lọc sự nuôi mạng sống.
BJT 1189Con được tịnh tín với đức Phật, có sự tôn sùng Giáo Pháp và Hội Chúng. Con được gắn bó với việc lắng nghe Chánh Pháp và có lòng khao khát về việc nhìn thấy đức Phật.
BJT 1190Khi ấy, con đã nghe về vị tỳ khưu ni đứng đầu trong số các vị ni có khuynh hướng về đức tin. Sau khi ước nguyện vị thế ấy, con đã làm tròn đủ Tam Học. Do đó, đấng Thiện Thệ với khuynh hướng thuận theo lòng bi mẫn đã nói với con rằng:
BJT 1191“Đức tin của người nào đối với đức Như Lai là không bị lay chuyển, khéo được thiết lập, và giới của người nào là tốt đẹp, tương xứng với bậc Thánh, được ngợi khen.
BJT 1192Người nào có niềm tịnh tín vào Hội Chúng, có bản thể chính trực và có sự nhận thức, người ta nói về vị ấy là ‘kẻ không nghèo,’ đời sống của vị ấy là không vô ích.
BJT 1193Vì thế, người sáng suốt, trong khi ghi nhớ lời dạy của chư Phật, hãy gắn bó vào đức tin, vào giới, vào niềm tịnh tín, và vào việc nhận thức Giáo Pháp.”
BJT 1194Sau khi lắng nghe điều ấy, được hoan hỷ con đã hỏi về điều phát nguyện của con. Khi ấy, đấng Hướng Đạo tối cao, vô lượng, đã chú nguyện rằng:
BJT 1195“Này người thiện nữ, được tịnh tín vào đức Phật nàng sẽ đạt được điều đã ước nguyện ấy. Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka, sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 1196Nàng sẽ trở thành nữ Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tựGiáo Pháp của vị(Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từGiáo Pháp, có tên là ‘Mẹ của Sigālaka.’”
BJT 1197Nghe được điều ấy, con đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái con đã phụng sự đấng Chiến Thắng, bậc Lãnh Đạo với các sự hành đạo cho đến hết cuộc đời.
BJT 1198Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại con đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 1199Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, con đã được sanh ra ở kinh thành Giribbaja, trong gia đình triệu phú, thịnh vượng, có sự tích lũy các châu báu lớn lao.
BJT 1200Người con trai của con tên Sigālaka là thích thú vào con đường sái quấy. Trong khi lao theo việc nắm giữ tà kiến, nó có sự nhiệt thành với việc cúng dường các phương hướng.
BJT 1201Trong khi đi vào thành phố để khất thực, đức Phật bậc có sự giáo huấn, sau khi nhìn thấy nó đang lễ bái các phương hướng khác nhau, đấng Hướng Đạo đã thiết lập Sigālaka vào Đạo Lộ.
BJT 1202Trong khi Ngài đang thuyết giảng Giáo Pháp, âm điệu của Ngài đáng kinh ngạc. Đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của hai koṭi người nam và người nữ.
BJT 1203Khi ấy, con đã đi đến đám đông và đã lắng nghe lời thuyết giảng của đức Thiện Thệ. Con đã đạt đến quả vị Nhập Lưu và đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 1204Có lòng khao khát về việc nhìn thấy đức Phật, sau khi tu tập pháp tùy niệm ấy trong thời gian không bao lâu, con đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 1205Con luôn thường xuyên đi đến nhằm mục đích chiêm ngưỡng đức Phật. Con nhìn không biết chán diện mạo có sự hoan hỷ ở đôi mắt.
BJT 1206Con sống, không biết chán với sắc thân cao quý, được hiện hữu với tất cả các pháp toàn hảo, được phân bố với mọi sự tốt lành, là nơi chứa đựng các điều may mắn.
BJT 1207Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng đã thiết lập con vào vị thế tối thắng: “Mẹ của Sigālaka là vị có khuynh hướng về đức tin hạng nhất.”
BJT 1208Bạch đấng Đại Hiền Trí, con đã có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, con đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
BJT 1209Con biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 1210Bạch đấng Đại Hùng, trí của con về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ như thế về phép biện giải là được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.
BJT 1211Các phiền não của con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), con sống không còn lậu hoặc.
BJT 1212Quả vậy, con đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 1213Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được con đắc chứng; con đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Sigālamātā trước mặt đức Thế Tôn đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Sigālamātā là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Siṅgālamātutherīapadānaṃ
4. The Apadāna of the Elder Nun Siṅgālamātā.
4. Ký sự về Trưởng lão ni Siṅgālamātā
82.
82.
82.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
A hundred thousand aeons from this one, the Victor named Padumuttara, the Leader who had gone to the far shore of all things, arose.
“Cách đây một trăm ngàn kiếp, bậc Đạo Sư, bậc Thắng Giả tên là Padumuttara, vị đã thông suốt bờ kia của tất cả các pháp, đã xuất hiện ở đời.”
83.
83.
83.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, jātāmaccakule ahuṃ;
Nānāratanapajjote, iddhe phīte mahaddhane.
At that time, I was born in the city of Haṃsavatī, in a minister's family that was radiant with various jewels, prosperous, thriving, and of great wealth.
“Khi ấy, tôi sinh ra trong một gia đình đại thần tại thành Haṃsavatī, một nơi rực rỡ với đủ loại châu báu, giàu sang, thịnh vượng và sung túc.”
84.
84.
84.
‘‘Pitunā saha gantvāna, mahājanapurakkhatā;
Dhammaṃ buddhassa sutvāna, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Having gone together with my father, surrounded by a great crowd of people, and having heard the Dhamma of the Buddha, I went forth into the homeless life.
‘Sau khi đi cùng với cha, được đám đông dân chúng vây quanh, và sau khi lắng nghe Giáo pháp của đức Phật, tôi đã xuất gia vào đời sống không nhà.’
85.
85.
85.
‘‘Pabbajitvāna kāyena, pāpakammaṃ vivajjayiṃ;
Vacīduccaritaṃ hitvā, ājīvaṃ parisodhayiṃ.
Having gone forth, I avoided evil action with my body; having abandoned misconduct in speech, I purified my livelihood.
‘Sau khi đã xuất gia, tôi đã tránh xa việc làm ác bằng thân. Sau khi từ bỏ lời nói xấu ác, tôi đã thanh lọc mạng sống của mình.’
86.
86.
86.
‘‘Buddhe pasannā dhamme ca, saṅghe ca tibbagāravā;
Saddhammassavane yuttā, buddhadassanalālasā †.
Confident in the Buddha and in the Dhamma, and with intense reverence for the Saṅgha, I was devoted to hearing the good Dhamma, longing for the sight of the Buddha.
‘Tôi có đức tin trong sạch nơi đức Phật và Giáo pháp, có lòng tôn kính mãnh liệt đối với Tăng chúng, chuyên tâm lắng nghe Chánh pháp, và khao khát được nhìn thấy đức Phật.’
87.
87.
87.
‘‘Aggaṃ saddhādhimuttānaṃ, assosiṃ bhikkhuniṃ tadā;
Taṃ ṭhānaṃ patthayitvāna, tisso sikkhā apūrayiṃ.
Then I heard of the bhikkhunī who was foremost among those resolved by faith. Having aspired to that position, I fulfilled the three trainings.
‘Khi ấy, tôi đã được nghe về vị Tỳ khưu ni đứng đầu về đức tin và sự quyết tâm. Sau khi đã ước nguyện quả vị ấy, tôi đã làm cho viên mãn ba học giới.’
88.
88.
88.
‘‘Tato maṃ sugato āha, karuṇānugatāsayo;
‘Yassa saddhā tathāgate, acalā suppatiṭṭhitā;
Sīlañca yassa kalyāṇaṃ, ariyakantaṃ pasaṃsitaṃ.
Then the Sugata, his heart filled with compassion, said to me: ‘One whose faith in the Tathāgata is unshakeable and well-established, and whose virtue is beautiful, pleasing to the noble ones, and praised,
‘Bấy giờ, bậc Thiện Thệ, người có tâm tư thấm nhuần lòng bi mẫn, đã nói với tôi rằng: ‘Người nào có đức tin nơi đấng Như Lai không bị lay chuyển, được thiết lập vững vàng; và người nào có giới hạnh tốt đẹp, được các bậc Thánh ưa thích và tán dương.’
89.
89.
89.
‘‘‘Saṅghe pasādo yassatthi, ujubhūtañca dassanaṃ;
Adaliddoti taṃ āhu, amoghaṃ tassa jīvitaṃ.
‘One who has confidence in the Saṅgha and whose view has become upright—that one, they say, is not poor; their life is not in vain.
‘Người nào có niềm tin trong sạch nơi Tăng chúng và có tri kiến ngay thẳng, người ấy được gọi là ‘người không nghèo khó,’ đời sống của người ấy không phải là vô ích.’
90.
90.
90.
‘‘‘Tasmā saddhañca sīlañca, pasādaṃ dhammadassanaṃ;
Anuyuñjetha medhāvī, saraṃ buddhāna † sāsanaṃ’.
‘Therefore, a wise person, remembering the teaching of the Buddhas, should cultivate faith, virtue, confidence, and the vision of the Dhamma.’
‘Vì thế, người có trí tuệ, trong khi ghi nhớ giáo huấn của các đức Phật, nên thực hành đức tin, giới hạnh, niềm tin trong sạch, và sự thấy biết Giáo pháp.’
91.
91.
91.
‘‘Taṃ sutvāhaṃ pamuditā, apucchiṃ paṇidhiṃ mama;
Tadā anomo amito, byākarittha vināyako;
‘Buddhe pasannā kalyāṇī, lacchase taṃ supatthitaṃ.
Having heard that, I, being delighted, asked about my aspiration. Then the Leader, of unfailing effort and immeasurable wisdom, declared: ‘O virtuous one, confident in the Buddha, you will obtain that for which you have well aspired.
‘Sau khi nghe điều ấy, tôi đã hoan hỷ và đã hỏi về lời nguyện của mình. Khi ấy, bậc Lãnh Đạo, người không mệt mỏi, không thể đo lường, đã thọ ký rằng: ‘Này thiện nữ, người có niềm tin trong sạch nơi đức Phật, ngươi sẽ đạt được điều ấy là điều đã được khéo ước nguyện.’
92.
92.
92.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘One hundred thousand aeons from now, a Teacher will be in the world, sprung from the Okkāka lineage, named Gotama by clan.
‘Một trăm ngàn kiếp kể từ đây, một vị Đạo Sư sanh ra trong dòng dõi Okkāka, có tên tộc là Gotama, sẽ có mặt ở trên đời.’
93.
93.
93.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādā, orasā dhammanimmitā;
Siṅgālakassa † mātāti, hessati satthu sāvikā’.
‘She will be an heir in his Dhamma, a legitimate child, created by the Dhamma. As ‘Mother of Siṅgālaka,’ she will be a female disciple of the Teacher.’
‘Là người thừa tự trong Giáo pháp của vị ấy, là người con gái ruột thịt được sanh ra từ Giáo pháp, ngươi sẽ là vị nữ đệ tử của bậc Đạo Sư, (được biết đến là) ‘mẹ của Siṅgālaka.’’
94.
94.
94.
‘‘Taṃ sutvā muditā hutvā, yāvajīvaṃ tadā jinaṃ;
Mettacittā paricariṃ, paṭipattīhi nāyakaṃ.
Having heard that, and being delighted, for as long as life lasted I then served the Victor with a mind of loving-kindness; I served the Leader through my practice.
‘Sau khi nghe điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ và khi ấy, trong suốt cuộc đời, tôi đã phục vụ bậc Toàn Thắng, bậc Lãnh Đạo, với tâm từ và bằng sự thực hành.’
95.
95.
95.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done action, and by my intentions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa realm.
‘Do nghiệp đã được làm tốt đẹp ấy và do các tác ý và các lời nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.’
96.
96.
96.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, giribbajapuruttame;
Jātā seṭṭhikule phīte, mahāratanasañcaye.
And now, in my final existence, in the excellent city of Giribbaja, I was born into a flourishing treasurer's family, a repository of great jewels.
‘Và bây giờ, trong kiếp sống cuối cùng, tôi đã được sanh ra trong gia đình của vị trưởng giả ở tại thành phố Giribbaja cao quý, là nơi thịnh vượng và là nơi tích trữ các loại châu báu to lớn.’
97.
97.
97.
‘‘Putto siṅgālako nāma, mamāsi vipathe rato;
Diṭṭhigahanapakkhando, disāpūjanatapparo.
My son, named Siṅgālaka, was one who delighted in the wrong path; having entered the thicket of wrong views, he was intent on worshipping the directions.
‘Người con trai của tôi tên là Siṅgālaka đã ưa thích con đường sai trái, đã lao vào bụi rậm tà kiến, và chuyên tâm vào việc cúng dường các phương hướng.’
98.
98.
98.
‘‘Nānādisā namassantaṃ †, piṇḍāya nagaraṃ vajaṃ;
Taṃ disvā ovadī buddho, magge ṭhatvā vināyako.
The Buddha, the Leader, while proceeding to the city for alms, saw him worshipping the various directions, and standing on the road, advised him.
‘Trong khi đang đi vào thành phố để khất thực, bậc Lãnh Đạo, đức Phật, sau khi nhìn thấy người ấy đang đảnh lễ các phương hướng khác nhau, đã đứng lại ở trên đường và đã khuyên dạy người ấy.’
99.
99.
99.
‘‘Tassa desayato dhammaṃ, panādo vimhayo ahu;
Dvekoṭinaranārīnaṃ, dhammābhisamayo ahu.
As he was teaching the Dhamma to him, his voice was wondrous; for twenty million men and women, there was the realization of the Dhamma.
‘Trong khi Ngài đang thuyết giảng Giáo pháp cho người ấy, đã có âm thanh kỳ diệu vang lên. Đã có sự thấu triệt Giáo pháp cho hai mươi triệu người nam và người nữ.’
100.
100.
100.
‘‘Tadāhaṃ parisaṃ gantvā, sutvā sugatabhāsitaṃ;
Sotāpattiphalaṃ pattā, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Then I, having gone to the assembly and having heard the teaching spoken by the Sugata, attained the fruit of stream-entry and went forth into the homeless life.
‘Khi ấy, sau khi đi đến hội chúng và lắng nghe lời dạy của bậc Thiện Thệ, tôi đã đạt được quả vị Nhập Lưu và đã xuất gia vào đời sống không nhà.’
101.
101.
101.
‘‘Na cireneva kālena, buddhadassanalālasā;
Anussatiṃ taṃ bhāvetvā, arahattamapāpuṇiṃ.
In not a long time, being desirous of seeing the Buddha, having developed that recollection of the Buddha, I reached Arahantship.
‘Trong một thời gian không lâu sau đó, trong khi khao khát được nhìn thấy đức Phật, tôi đã tu tập về sự niệm tưởng ấy và đã đạt được quả vị A-la-hán.’
102.
102.
102.
‘‘Dassanatthāya buddhassa, sabbadā ca vajāmahaṃ;
Atittāyeva passāmi, rūpaṃ nayananandanaṃ.
Always, for the sake of seeing the Buddha, I go; being indeed unsated, I behold His form which delights the eye.
‘Tôi luôn luôn đi đến vì mục đích được nhìn thấy đức Phật. Tôi ngắm nhìn sắc thân làm vui thích đôi mắt mà không bao giờ thấy thỏa mãn.’
103.
103.
103.
‘‘Sabbapāramisambhūtaṃ, lakkhīnilayanaṃ varaṃ;
Rūpaṃ sabbasubhākiṇṇaṃ, atittā viharāmahaṃ.
Being unsated, I dwell, contemplating His excellent form, which is arisen from all perfections, the abode of glory, and filled with all beauty.
‘Tôi sống không thỏa mãn (với việc ngắm nhìn) sắc thân cao quý, là nơi nương náu của sự huy hoàng, được sanh ra từ tất cả các pháp Ba-la-mật, và tràn đầy tất cả vẻ đẹp.’
104.
104.
104.
‘‘Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho, etadagge ṭhapesi maṃ;
Siṅgālakassa yā mātā, aggā saddhādhimuttikā †.
The Victor, pleased with that quality, placed me in the foremost position: 'The mother of Siṅgālaka is foremost among those resolved by faith.'
‘Bậc Toàn Thắng, do hài lòng về phẩm chất ấy, đã đặt tôi vào vị trí đứng đầu rằng: ‘Vị mẹ của Siṅgālaka là người đứng đầu về đức tin và sự quyết tâm.’’
105.
105.
105.
‘‘Iddhīsu ca vasī homi, dibbāya sotadhātuyā;
Cetopariyañāṇassa, vasī homi mahāmuni.
I am a master of the psychic powers and of the divine ear element; O Great Sage, I am a master of the knowledge of others' minds.
‘Thưa bậc Đại ẩn sĩ, tôi là người làm chủ các thần thông, tôi là người làm chủ thiên nhĩ giới, và tôi là người làm chủ về tha tâm thông.’
106.
106.
106.
‘‘Pubbenivāsaṃ jānāmi, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Sabbāsavaparikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
I know my former abodes; the divine eye is purified; all the cankers are destroyed; now there is no further becoming.
Tôi biết được các tiền kiếp, thiên nhãn đã được thanh tịnh; Tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, giờ đây không còn tái sanh nữa.
107.
107.
107.
‘‘Atthadhammaniruttīsu, paṭibhāne tatheva ca;
Ñāṇaṃ mama mahāvīra, uppannaṃ tava santike.
O Great Hero, in your presence, knowledge has arisen in me concerning meaning, the Dhamma, and language, and likewise concerning ready wit.
Thưa bậc Đại Hùng, nơi Ngài, trí tuệ về Nghĩa, Pháp, và Ngữ, và cũng như thế về Biện tài đã sanh khởi nơi con.
108.
108.
108.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
My defilements are burned away... I dwell free from the cankers.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt... (vân vân)... tôi sống không còn lậu hoặc.
109.
109.
109.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
A good coming indeed it was for me... the Buddha's teaching has been done.
Sự đến của tôi quả thật là tốt đẹp... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
110.
110.
110.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha's teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ siṅgālamātā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the bhikkhunī Siṅgālamātā spoke these verses.
Như vậy, Tỳ-khưu-ni Siṅgālamātā đã nói lên những câu kệ này.
Siṅgālamātutheriyāpadānaṃ catutthaṃ.
The Fourth Apadāna of the Elder Nun Siṅgālamātā.
Trưởng Lão Ni Kệ Siṅgālamātā, phẩm thứ tư.