Bản dịch
THI -ap33 — Ký Sự về Uppaladāyikā
Uppaladāyikātherīapadāna
BJT 1160Ở thành phố Aruṇavatī, có vị Sát-đế-lỵ tên là Aruṇa. Con đã là người vợ của vị vua ấy. Có một lần con đã khiến (người) đưa con đi (du ngoạn).
BJT 1161Khi ấy, con đã đi đến nơi thanh vắng và ngồi xuống, con đã suy nghĩ như vầy: “Dầu đã đạt được vị thế xứng đáng, nhưng không điều lành nào đã được ta thực hiện!
BJT 1162Có lẽ ta sẽ đi đến địa ngục là nơi vô cùng nóng bức, khổ sở, có dáng vẻ rùng rợn, vô cùng khiếp đảm; điều này đối với ta là không có sự hoài nghi (nữa).”
BJT 1163Sau khi suy nghĩ như thế và sau khi đã làm cho tâm được mừng rỡ, con đã đi đến gặp đức vua và đã nói lời nói này:
BJT 1164“Tâu bệ hạ, chúng thiếp là phụ nữ luôn luôn đi theo sau người nam. Tâu vị Sát-đế-lỵ, xin hãy ban cho thiếp một vị sa-môn. Thiếp sẽ chăm lo về vật thực.”
BJT 1165Khi ấy, đức vua đã ban cho con (một) vị sa-môn có (các) giác quan đã được tu tập. Sau khi nhận lấy bình bát của vị ấy, con đã đặt đầy (bình bát) với vật thực thượng hạng.
BJT 1166Sau khi đã đặt đầy (bình bát) với vật thực thượng hạng, con đã đậy lại bằng tấm vải lớn trị giá một ngàn và đã dâng lên với tâm ý hớn hở.
BJT 1167Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại con đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 1168Con đã được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của một ngàn vị trời Đế Thích. Con đã được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của một ngàn đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 1169Vương quyền của địa phận là bao la, vô lượng về phương diện tính đếm. Từ đó, quả báu của nghiệp ấy còn có nhiều hình thức đa dạng khác nữa.
BJT 1170Màu da của con chính là màu của hoa sen, con là người nữ đẹp vô cùng, có dáng nhìn xinh xắn, được thành tựu toàn vẹn về cơ thể, được sanh vào nơi quyền quý, có sự lộng lẫy.
BJT 1171Khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, con đã được sanh ra trong gia tộc Sakya, đứng đầu một ngàn nữ nhân của người con trai của (đức vua) Suddhodana.
BJT 1172Nhàm chán cuộc sống tại gia, con đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Chưa đến đêm thứ bảy, con đã đạt được bốn Sự Thật.
BJT 1173Con không thể nào ước lượng được số lượng y phục, vật thực, thuốc men, và chỗ nằm ngồi; điều này là quả báu của món vật thực.
BJT 1174Bạch đấng Hiền Trí, xin Ngài nhớ lại việc làm tốt đẹp trước đây của con. Bạch đấng Đại Hùng, nhiều thứ đã được con buông bỏ là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 1175Kể từ khi con đã dâng cúng vật thí trước đây ba mươi mốt kiếp, con không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của món vật thực.
BJT 1176Con nhận biết hai cảnh giới là bản thể chư Thiên và nhân loại, con không biết đến cảnh giới nào khác; điều này là quả báu của món vật thực.
BJT 1177Con được sanh vào gia tộc thượng lưu, có đại sảnh đường, có tài sản lớn lao, con không biết đến gia tộc nào khác; điều này là quả báu của món vật thực.
BJT 1178Sau khi luân hồi cõi này cõi khác, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch con không nhìn thấy điều không vừa ý; (điều này) là quả báu đã được thực hiện với tâm hoan hỷ.
BJT 1179Bạch đấng Đại Hiền Trí, con đã có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, con đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
BJT 1180Con biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 1181Bạch đấng Đại Hùng, trí của con về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ như thế về phép biện giải là được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.
BJT 1182Các phiền não của con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), con sống không còn lậu hoặc.
BJT 1183Quả vậy, con đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 1184Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được con đắc chứng; con đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Uppaladāyikā trước mặt đức Thế Tôn đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Uppaladāyikā là phần thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Uppaladāyikātherīapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder Nun Uppaladāyikā.
3. Apadāna của Trưởng Lão Ni Uppaladāyikā
57.
57.
57.
‘‘Nagare aruṇavatiyā, aruṇo nāma khattiyo;
Tassa rañño ahuṃ bhariyā, ekajjhaṃ cārayāmahaṃ.
In the city of Aruṇavatī, there was a khattiya king named Aruṇa. I was that king's consort; I lived together with him.
“Tại thành phố Aruṇavatī, có vị vua Sát-đế-lỵ tên là Aruṇa. Tôi đã là vợ của vị vua ấy, tôi đã cùng đi chung với ngài.”
58.
58.
58.
‘‘Rahogatā nisīditvā, evaṃ cintesahaṃ tadā;
‘Kusalaṃ me kataṃ natthi, ādāya gamiyaṃ mama.
Having gone to a secluded place and sat down, at that time I thought thus: ‘No wholesome deed has been done by me that I can take with me when I go.’
“Sau khi đi đến nơi vắng vẻ và ngồi xuống, khi ấy tôi đã suy nghĩ như vầy: ‘Thiện pháp đã được tôi thực hiện là không có, (là thứ) mà tôi có thể mang theo.’”
59.
59.
59.
‘‘‘Mahābhitāpaṃ kaṭukaṃ, ghorarūpaṃ sudāruṇaṃ;
Nirayaṃ nūna gacchāmi, ettha me natthi saṃsayo’.
‘To a hell of great torment, bitter, of frightful form, and extremely cruel—surely I will go; in this, I have no doubt.’
“‘Chắc chắn tôi sẽ đi đến địa ngục, nơi có sự thiêu đốt mãnh liệt, cay đắng, hình dạng khủng khiếp, và rất tàn khốc. Về điều này, tôi không có sự hoài nghi.’”
60.
60.
60.
‘‘Evāhaṃ cintayitvāna, pahaṃsetvāna mānasaṃ;
Rājānaṃ upagantvāna, idaṃ vacanamabraviṃ.
“Having thought thus and having gladdened my mind, I approached the king and spoke these words:
Tôi đã suy nghĩ như vậy và làm cho tâm ý hân hoan; tôi đi đến gặp đức vua và đã bạch lời này.
61.
61.
61.
‘‘‘Itthī nāma mayaṃ deva, purisānittarā ahu †;
Ekaṃ me samaṇaṃ dehi, bhojayissāmi khattiya’.
‘“O Lord, we who are called women are inferior to men. O Khattiya, give me one ascetic; I will serve him with food.”’
‘Tâu Thiên tử, chúng con là phận nữ nhi, thấp kém hơn nam giới; tâu đại vương, xin hãy cho con một vị Sa-môn, con sẽ dâng vật thực cúng dường.’
62.
62.
62.
‘‘Adāsi me tadā rājā, samaṇaṃ bhāvitindriyaṃ;
Tassa pattaṃ gahetvāna, paramannena pūrayiṃ.
“Then the king gave me an ascetic with developed faculties. Having taken his bowl, I filled it with excellent food.
Khi ấy, đức vua đã ban cho tôi một vị Sa-môn đã tu tập các căn; sau khi nhận lấy bình bát của vị ấy, tôi đã dâng đầy vật thực thượng hạng.
63.
63.
63.
‘‘Pūretvā paramaṃ annaṃ, saha sugandhalepanaṃ;
Mahācelena chāditvā, adāsiṃ tuṭṭhamānasā.
Having filled it with excellent food, together with fragrant ointment, and having covered it with a great cloth, I gave it with a joyful mind.
Sau khi dâng đầy vật thực thượng hạng, cùng với hương liệu thoa thơm, che phủ bằng tấm vải quý, tôi đã cúng dường với tâm ý hân hoan.
64.
64.
64.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-performed deed and by my intentions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Do nghiệp đã khéo làm ấy, cùng với ý muốn và sự nguyện cầu, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
65.
65.
65.
‘‘Sahassadevarājūnaṃ, mahesittamakārayiṃ;
Sahassacakkavattīnaṃ, mahesittamakārayiṃ.
I exercised the position of chief consort to a thousand kings of the devas; I exercised the position of chief consort to a thousand wheel-turning monarchs.
Tôi đã làm chánh hậu của một ngàn vị thiên chủ, đã làm chánh hậu của một ngàn vị Chuyển Luân Vương.
66.
66.
66.
‘‘Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ;
Nānāvidhaṃ bahuṃ aññaṃ, tassa kammaphalaṃ tato.
Vast was the regional sovereignty [I enjoyed], incalculable by number; from that, the fruit of that kamma was manifold and of various other kinds.
Quyền làm hoàng hậu ở các tiểu quốc thì rộng lớn, không thể tính đếm được; từ đó, các quả báu khác của nghiệp ấy cũng thật nhiều và đa dạng.
67.
67.
67.
‘‘Uppalasseva me vaṇṇo, abhirūpā sudassanā;
Itthisabbaṅgasampannā, abhijātā jutindharā.
My complexion was like that of a blue lotus; I was beautiful, lovely to behold, endowed with all the features of a woman, of noble birth, and radiant.”
Sắc thân của tôi giống như hoa sen xanh, xinh đẹp, dễ nhìn, đầy đủ mọi bộ phận của nữ nhân, sanh vào dòng dõi cao quý, và có ánh hào quang.
68.
68.
68.
‘‘Pacchime bhave sampatte, ajāyiṃ sākiye kule;
Nārīsahassapāmokkhā, suddhodanasutassahaṃ.
Having reached my final existence, I was born in the Sakyan clan. I was the chief among a thousand women of the son of King Suddhodana.
“Vào kiếp sống cuối cùng, tôi đã được sinh ra trong dòng họ Thích-ca. Tôi là người đứng đầu trong số một ngàn cung nữ của Thái tử, con trai vua Tịnh Phạn (Suddhodana).”
69.
69.
69.
‘‘Nibbinditvā agārehaṃ, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Sattamīrattisampattā †, catusaccamapāpuṇiṃ.
Becoming disenchanted with the household life, I went forth into homelessness. When the seventh night was reached, I attained the Four Noble Truths.
“Sau khi nhàm chán đời sống gia đình, tôi đã xuất gia vào đời sống không nhà. Khi đêm thứ bảy vừa đến, tôi đã chứng ngộ Bốn Sự Thật (Tứ Diệu Đế).”
70.
70.
70.
‘‘Cīvaraṃ piṇḍapātañca, paccayaṃ sayanāsanaṃ;
Parimetuṃ na sakkomi, piṇḍapātassidaṃ phalaṃ.
Robes, alms-food, requisites, and lodgings—I am not able to measure them. This is the fruit of offering alms-food.
“Y phục, vật thực khất thực, dược phẩm, và sàng tọa (của tôi), không ai có thể đo lường hết được. Đây là quả báu của việc cúng dường vật thực.”
71.
71.
71.
‘‘Yaṃ mayhaṃ pūritaṃ kammaṃ, kusalaṃ sarase muni;
Tuyhatthāya mahāvīra, paricattaṃ bahuṃ mayā.
O Sage, remember that wholesome kamma fulfilled by me in the past. O Great Hero, for your sake, much wealth was sacrificed by me.
“Bạch Đức Mâu-ni, xin Ngài hãy nhớ đến thiện nghiệp mà con đã vun bồi. Bạch đức Đại Hùng, vì lợi ích của Ngài, con đã dâng cúng nhiều tài vật.”
72.
72.
72.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yaṃ dānamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, piṇḍapātassidaṃ phalaṃ.
In the thirty-first aeon from this one, from the time I gave that gift, I have not known any woeful state. This is the fruit of offering alms-food.
“Cách đây ba mươi mốt kiếp, nhờ sự bố thí đã thực hiện khi ấy, tôi không còn biết đến khổ cảnh (đọa xứ). Đây là quả báu của sự cúng dường vật thực.”
73.
73.
73.
‘‘Dve gatiyo pajānāmi, devattaṃ atha mānusaṃ;
Aññaṃ gatiṃ na jānāmi, piṇḍapātassidaṃ phalaṃ.
I know of two destinies: the divine and the human. I know no other destiny; this is the fruit of offering alms-food.
“Tôi chỉ biết hai cảnh giới (tái sanh) là thiên giới và nhân giới; tôi không biết đến cảnh giới nào khác. Đây là quả báu của việc cúng dường vật thực.”
74.
74.
74.
‘‘Ucce kule pajāyāmi, mahāsāle † mahaddhane;
Aññe kule na jāyāmi, piṇḍapātassidaṃ phalaṃ.
I am born into high families, in those of great substance and great wealth. I am not born into other families; this is the fruit of offering alms-food.
“Tôi thường sinh ra trong các gia đình cao quý, thuộc giới đại phú gia có nhiều của cải. Tôi không sinh vào các gia đình (thấp kém) khác. Đây là quả báo của việc cúng dường vật thực.”
75.
75.
75.
‘‘Bhavābhave saṃsaritvā, sukkamūlena coditā;
Amanāpaṃ na passāmi, somanassakataṃ phalaṃ.
Wandering through various existences, impelled by a wholesome root, I see nothing disagreeable; this is the fruit of a gift of alms-food and robes made with joy.
“Sau khi luân hồi qua các hữu (kiếp sống), nhờ sự thúc đẩy của thiện căn thanh tịnh, tôi không phải gặp điều gì không hài lòng. Đây là quả báo của việc (cúng dường) đã được thực hiện với tâm hoan hỷ.”
76.
76.
76.
‘‘Iddhīsu ca vasī homi, dibbāya sotadhātuyā;
Cetopariyañāṇassa, vasī homi mahāmune.
I have mastery over psychic powers and over the divine ear-element; I have mastery over the knowledge of others' minds, O Great Sage.
“Bạch đức Đại Mâu-ni, con là người thành thục trong các thần thông, trong thiên nhĩ thông, và trong tha tâm thông.”
77.
77.
77.
‘‘Pubbenivāsaṃ jānāmi, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Sabbāsavaparikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
I know my past lives; the divine eye is purified. All taints are destroyed; now there is no more rebirth.
“Con thấu suốt các kiếp sống quá khứ, thiên nhãn đã được thanh tịnh; tất cả các lậu hoặc đã tận diệt, nay không còn tái sanh nữa.”
78.
78.
78.
‘‘Atthadhammaniruttīsu, paṭibhāne tatheva ca;
Ñāṇaṃ mama mahāvīra, uppannaṃ tava santike.
In the analysis of meaning, of Dhamma, and of language, and likewise in the analysis of ready wit, O Great Hero, this knowledge has arisen in me in your presence.
“Bạch đức Đại Hùng, trí tuệ về Nghĩa, Pháp, Từ vựng và cả Biện tài đã phát sinh nơi con khi ở trước sự hiện diện của Ngài.”
79.
79.
79.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
My defilements are burned away... I dwell free from taints.
“Các phiền não của con đã được thiêu cháy... (như trên)... con sống không còn lậu hoặc.”
80.
80.
80.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming... the Buddha's teaching has been carried out.
“Thật là thiện lai đối với con... (như trên)... lời dạy của đức Phật con đã hoàn thành.”
81.
81.
81.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha's teaching has been carried out.
“Bốn Tuệ Phân Tích... (như trên)... lời dạy của đức Phật con đã hoàn thành.”
Itthaṃ sudaṃ uppaladāyikā bhikkhunī bhagavato sammukhā imā gāthāyo abhāsitthāti.
In this way, the bhikkhunī named Uppaladāyikā recited these verses in the presence of the Blessed One.
Tỳ-khưu-ni Uppaladāyikā đã thuyết những bài kệ này trước mặt đức Thế Tôn như thế.
Uppaladāyikātheriyāpadānaṃ tatiyaṃ.
The third Apadāna of the Elder Nun Uppaladāyikā is finished.
Ký sự về Trưởng lão ni Uppaladāyikā, phần thứ ba (kết thúc).