Bản dịch
THI -ap32 — Ký Sự về các vị Tỳ Khưu Ni Thiếu Nữ Bà-la-môn
2 Caturāsītibhikkhunīsahassaapadāna
BJT 1116“Bạch đấng Đại Hiền Trí, tám mươi bốn ngàn vị ni xuất thân gia tộc Bà-la-môn, có tay chân mềm mại, là thuộc về Ngài trước đây.
BJT 1117Bạch đấng Đại Hiền Trí, nhiều thiếu nữ đã được sanh ra trong gia tộc thương buôn và nô lệ, là chư Thiên, loài rồng, và kim-sỉ-điểu, thuộc bốn châu lục, là thuộc về Ngài trước đây.
BJT 1118Có một số đã được xuất gia, nhiều vị có sự nhìn thấy Sự Thật. Còn chư Thiên, kim-sỉ-điểu, loài rồng sẽ được giác ngộ trong ngày vị lai.
BJT 1119Sau khi thọ hưởng danh vọng, sau khi đạt đến thành công toàn diện, tất cả đã đạt được niềm tịnh tín ở Ngài, sẽ được giác ngộ trong ngày vị lai.
BJT 1120Bạch đấng Đại Hùng, bạch đấng Hữu Nhãn, chúng con là những người con gái của các Bà-la-môn, xuất thân gia tộc Bà-la-môn, chúng con xin đảnh lễ ở bàn chân của Ngài là vị đang xem xét chúng con.
BJT 1121Tất cả các hữu đã được phá hủy, ái dục cội nguồn đã được thủ tiêu, các khuynh hướng ngủ ngầm đã được chặt đứt, các sự tạo tác đem lại phước báu đã được xé tan.
BJT 1122Chúng con có tất cả các hành xứ về định, tương tợ như thế về khả năng thể nhập. Nhờ thiền, chúng con sẽ luôn luôn sống với sự thỏa thích trong Giáo Pháp.
BJT 1123Lối dẫn đến tái sanh, vô minh, và luôn cả các pháp còn tạo tác đã được quăng bỏ. Bạch đấng Lãnh Đạo, xin Ngài cho phép (chúng con) đi đến vị thế khó nhìn thấy vô cùng.”
BJT 1124“Các nàng là nguồn hỗ trợ cho Ta là người đã có sự thực hành dài lâu. Tất cả các nàng hãy cắt đứt sự hoài nghi của bốn (chúng) rồi hãy đi đến Niết Bàn.”
BJT 1125Sau khi đảnh lễ ở bàn chân của bậc Hiền Trí và đã thực hiện sự biến hóa thần thông, một số vị ni thị hiện ánh sáng, còn một số khác thị hiện bóng tối.
BJT 1126Các vị ni thị hiện mặt trăng, mặt trời, và biển cả có cả loài cá. Các vị thị hiện dãy núi Sineru và giống cây san hô (thuộc cõi trời).
BJT 1127Với thần thông, các vị ni làm cho nhìn thấy cung trời Đạo Lợi, Dạ Ma, Đẩu Suất, các vị trời có uy lực lớn lao ở cõi Hóa Lạc Thiên và Tha Hóa Tự Tại.
BJT 1128Một số vị ni làm cho nhìn thấy con đường kinh hành vô cùng giá trị của đấng Phạm Thiên. Và sau khi biến hóa thành hình dáng của đấng Phạm Thiên, các vị ni thuyết giảng Giáo Pháp về không tánh.
BJT 1129Sau khi đã thực hiện sự biến hóa khác nhau và đã phô bày thần thông đến bậc Đạo Sư, tất cả đã trình bày năng lực và đã đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư.
BJT 1130“Bạch đấng Đại Hiền Trí, chúng con có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, chúng con có năng lực về trí biết tâm của người khác.
BJT 1131Chúng con biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 1132Bạch đấng Đại Hùng, trí của chúng con về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.
BJT 1133Bạch đấng Đại Hiền Trí, sự gặp gỡ đối với các đấng Lãnh Đạo Thế Gian trước đây đã được chúng con nhìn thấy rõ. Nhiều hành động hướng thượng của chúng con là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 1134Bạch đấng Hiền Trí, xin Ngài nhớ lại nghiệp thiện đã được chúng con thực hiện. Bạch đấng Đại Hùng, phước báu đã được tích lũy bởi chúng con là nhằm mục đích về Ngài.”
BJT 1135Trước đây một trăm ngàn kiếp, có bậc Đại Hiền Trí Padumuttara. Thành phố tên Haṁsavatī là chỗ cư ngụ của gia đình đấng Toàn Giác.
BJT 1136Sông Gaṅgā luôn luôn chảy qua cửa khẩu của thành Haṁsavatī. Bị khuấy rồi bởi dòng sông, các vị tỳ khưu ấy không có được đường đi.
BJT 1137Các vị ấy không có được đường đi đã hai ngày, ba ngày, và luôn cả bảy ngày, sau đó là một tháng, thậm chí bốn tháng đã được tròn đủ.
BJT 1138Khi ấy, bậc ưu tú của loài người đã là viên quan lại tên là Jaṭila. Sau khi nhìn thấy các vị tỳ khưu bị ngăn trở, người đã cho xây dựng cây cầu ở sông Gaṅgā.
BJT 1139Khi ấy, người đã cho xây dựng cây cầu ở sông Gaṅgā với một trăm ngàn, và đã cho xây dựng ngôi trú xá của hội chúng ở bờ sông bên này.
BJT 1140Những người đàn bà luôn cả đàn ông cùng các gia đình thượng và hạ lưu, họ đã góp phần bằng nhau cho cây cầu và ngôi trú xá của vị ấy.
BJT 1141Với tâm ý vui mừng, chúng con và những người khác ở thành phố và ở các quốc độ là những người thừa tự các việc làm của vị ấy.
BJT 1142Những người đàn bà, đàn ông, thiếu niên, và luôn cả nhiều thiếu nữ, họ đã rải cát cho cây cầu và ngôi trú xá.
BJT 1143Sau khi làm việc quét dọn con đường, họ đã thực hiện các lá phướn, các chum đầy (nước), các cây cờ, nhang thắp, bột phấn, tràng hoa là việc tôn kính đến bậc Đạo Sư.
BJT 1144Sau khi cho thực hiện cây cầu và ngôi trú xá, người đã thỉnh mời đấng Hướng Đạo, rồi đã dâng cúng đại thí, và đã ước nguyện quả vị Toàn Giác.
BJT 1145Bậc Đại Hiền Trí, đấng Đại Hùng Padumuttara, bậc giúp cho tất cả các chúng sanh vượt qua đã nói lời tùy hỷ đến vị Jaṭila rằng:
BJT 1146“Khi một trăm ngàn kiếp đã trôi qua sẽ là kiếp Bhadda, (người này) sau khi trải qua kiếp này kiếp khác sẽ đạt đến quả vị giác ngộ.
BJT 1147Những người đàn ông và đàn bà nào đã thực hiện công việc hỗ trợ bằng tay, trong tương lai dài lâu tất cả sẽ gặp lại nhau.”
BJT 1148Do kết quả của nghiệp ấy và do các nguyện lực của tác ý, những người nữ tỳ ấy của Ngài đã được sanh lên cung điện của chư Thiên.
BJT 1149Trong khi thọ hưởng sự sung sướng vô lượng thuộc về cõi trời và vô lượng thuộc về nhân loại một thời gian dài, chúng con đã luân hồi cõi này cõi khác.
BJT 1150Trong một trăm ngàn kiếp về trước, sự thành tựu của nghiệp đã được thể hiện tốt đẹp, chúng con được trẻ đẹp ở giữa loài người rồi ở cung trời cao quý.
BJT 1151Chúng con liên tục thọ lãnh trọn vẹn sự thành tựu của nghiệp đã khéo được thể hiện về sắc đẹp, của cải, danh vọng, luôn cả tiếng tăm, và sự kính trọng.
BJT 1152Khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, chúng con đã được sanh ra trong gia tộc Bà-la-môn, có tay chân mềm mại, ở trong cung của người con trai dòng Sakya.
BJT 1153“Bạch đấng Đại Hiền Trí, thậm chí trong mọi thời điểm chúng con cũng không nhìn thấy quả đất là không được trang hoàng, chúng con không nhìn thấy đầm lầy và mặt đất là bị ô nhiễm.
BJT 1154Trong khi sống tại gia, chúng con có được sự tôn trọng trong mọi thời điểm. Do năng lực của nghiệp trước đây, người ta luôn luôn đem lại cho chúng con mọi thứ.
BJT 1155Sau khi từ bỏ gia đình, chúng con đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Chúng con đã được thoát khỏi đạo lộ luân hồi, có tham ái đã được lìa bỏ.
BJT 1156Từ nơi kia từ nơi nọ, người ta luôn luôn đem lại cho chúng con hàng ngàn y phục, vật thực, thuốc men, và chỗ nằm ngồi.”
BJT 1157Các phiền não của chúng con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), chúng con sống không còn lậu hoặc.
BJT 1158Quả vậy, chúng con đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 1159Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được chúng con đắc chứng; chúng con đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tám mươi bốn ngàn vị tỳ khưu ni thiếu nữ Bà-la-môn trước mặt đức Thế Tôn đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về tám mươi bốn ngàn vị tỳ khưu ni là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Vessasuddakule jātā, devā nāgā ca kinnarā;
Cātuddīpā bahū kaññā, pure tuyhaṃ mahāmune.
Those born in vessa and sudda families, as well as devas, nāgas, and kinnaras, and many maidens from the four continents—O Great Sage, they formerly rejoiced in your palace.
“Những vị sanh trong dòng dõi Vessa và Sudda, các vị trời, các vị nāgā, và các vị kinnarā, nhiều thiếu nữ từ bốn châu, đã từng ở trong nhà của Ngài trong quá khứ, bạch đấng Đại Muni.”
15.
15.
15.
‘‘Kāci pabbajitā atthi, sabbadassāvino † hū;
Devā ca kinnarā nāgā, phusissanti anāgate.
In the teaching of the All-Seeing One, there are some who have gone forth. And devas, kinnaras, and nāgas will attain Nibbāna in the future.
“Một số vị đã xuất gia, trong giáo pháp của đấng Toàn Kiến. Các vị trời, các vị kinnarā, và các vị nāgā sẽ chứng đạt (Niết-bàn) trong tương lai.”
16.
16.
16.
‘‘Anubhotvā yasaṃ sabbaṃ, patvāna sabbasampadā;
Tumhaṃ † pasādaṃ paṭiladdhā, bujjhissanti anāgate.
Having experienced all glory, having attained all success, and having gained confidence in you, they will awaken in the future.
“Sau khi đã hưởng thụ tất cả danh tiếng, sau khi đã đạt được tất cả sự thành tựu, sau khi đã có được đức tin nơi Ngài, các vị ấy sẽ giác ngộ trong tương lai.”
17.
17.
17.
‘‘Amhe brāhmaṇadhītā tu, brāhmaññakulasambhavā;
Pekkhato no † mahāvīra, pāde vandāma cakkhuma.
We are indeed brahmin daughters, born of brahmin families. While you look upon us, O Great Hero, O One with Vision, we worship your feet.
“Chúng con là những người con gái của Bà-la-môn, sanh ra từ dòng dõi Bà-la-môn. Bạch đấng Đại Anh Hùng, bậc có Mắt, trong khi Ngài đang nhìn chúng con, chúng con đảnh lễ đôi chân (của Ngài).”
18.
18.
18.
‘‘Upahatā bhavā sabbe, mūlataṇhā samūhatā;
Samucchinnā anusayā, puññasaṅkhāradālitā.
All states of existence have been destroyed, root-craving has been uprooted; the underlying tendencies have been cut off, meritorious formations have been shattered.
“Tất cả các hữu đã bị phá hủy, ái dục gốc rễ đã được nhổ sạch. Các tùy miên đã được cắt đứt, các phước hành đã bị phá tan.”
19.
19.
19.
‘‘Samādhigocarā sabbā, samāpattivasī katā;
Jhānena dhammaratiyā, viharissāma no sadā.
We all have concentration as our domain, we have achieved mastery in the attainments; by means of jhāna and delighting in the Dhamma, we shall always dwell.
“Tất cả chúng con có định là cảnh giới, đã làm chủ các thiền chứng. Với thiền định và với sự hoan hỷ trong Pháp, chúng con sẽ luôn luôn an trú.”
20.
20.
20.
‘‘Bhavanetti avijjā ca, saṅkhārāpi ca khepitā;
Sududdasaṃ padaṃ gantvā, anujānātha † nāyaka.
Craving that leads to existence, and ignorance, and also the formations have been destroyed; wishing to go to the state extremely difficult to see, permit us, O Leader.
“Dục ái dẫn dắt trong các hữu, và vô minh, và các hành đã được đoạn tận. Vì muốn đi đến trạng thái rất khó thấy, xin bậc Lãnh Đạo hãy cho phép.”
21.
21.
21.
‘‘Upakārā mamaṃ tumhe, dīgharattaṃ katāvino;
Catunnaṃ saṃsayaṃ chetvā, sabbā gacchantu nibbutiṃ.
You have been helpful to me for a long time; having cut the doubt of the four assemblies, may all of you go to Parinibbāna.
“Các ngươi đã là những người hỗ trợ cho ta trong thời gian dài. Sau khi đã cắt đứt sự nghi ngờ của bốn chúng, tất cả hãy đi đến sự tịch tịnh.”
22.
22.
22.
‘‘Vanditvā munino pāde, katvā iddhivikubbanaṃ;
Kāci dassenti ālokaṃ, andhakāramathāparā.
Having paid homage to the feet of the Sage, having performed a display of psychic power; some show light, and others, darkness.
Sau khi đảnh lễ hai bàn chân của bậc Mâu-ni, sau khi thực hiện các phép biến hóa thần thông, một số vị đã trình diễn ánh sáng, và một số vị khác là bóng tối.
23.
23.
23.
‘‘Dassenti candasūriye, sāgarañca samacchakaṃ;
Sineruṃ paribhaṇḍañca, dassenti pārichattakaṃ.
They show the moon and the sun, and the ocean with its fish; they show Mount Sineru and the seven surrounding mountain ranges, and they show the Pāricchattaka tree.
Các vị đã trình diễn mặt trăng, mặt trời, và biển cả cùng với cá; các vị đã trình diễn núi Sineru, các dãy núi bao quanh, và cây san hô.
24.
24.
24.
‘‘Tāvatiṃsañca bhavanaṃ, yāmaṃ dassenti iddhiyā;
Tusitaṃ nimmite deve, vasavattī mahissare.
They show the Tāvatiṃsa abode and, by psychic power, the Yāma realm, the Tusita realm, the Nimmānaratī devas, and the powerful Vasavattī realm.
Các vị đã trình diễn bằng thần thông cõi trời Ba Mươi Ba và cõi Yāma, cõi Tusita, chư thiên ở cõi Hóa Lạc, cõi Tha Hóa Tự Tại có quyền lực lớn.
25.
25.
25.
‘‘Brahmāno kāci dassenti, caṅkamañca mahārahaṃ;
Brahmavaṇṇañca māpetvā, dhammaṃ desenti suññataṃ.
Some show Brahmās and a magnificent promenade; having fashioned the appearance of a Brahmā, they teach the Dhamma of emptiness.
Một số vị đã trình diễn các vị Phạm thiên, và nơi kinh hành xứng đáng cho bậc vĩ nhân. Và sau khi hóa hiện hình tướng Phạm thiên, các vị đã thuyết giảng pháp về tánh Không.
26.
26.
26.
‘‘Nānāvikubbanaṃ katvā, iddhiṃ dassiya satthuno;
Dassayiṃsu balaṃ sabbā, pāde vandiṃsu satthuno.
Having performed various psychic transformations, showing their power to the Teacher, all of them demonstrated their strength and paid homage at the Teacher's feet.
Sau khi thực hiện các phép biến hóa đa dạng, sau khi trình diễn thần thông đến bậc Đạo Sư, tất cả các vị đã trình diễn năng lực, đã đảnh lễ hai bàn chân của bậc Đạo Sư.
27.
27.
27.
‘‘Iddhīsu ca vasī homa, dibbāya sotadhātuyā;
Cetopariyañāṇassa, vasī homa mahāmune.
We have mastery in the psychic powers and in the divine ear element; we have mastery in the knowledge of penetrating others' minds, O Great Sage.
Kính bạch bậc Đại Mâu-ni, chúng con thuần thục trong các thần thông, trong thiên nhĩ giới, chúng con thuần thục trong tha tâm thông.
28.
28.
28.
‘‘Pubbenivāsaṃ jānāma, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Sabbāsavaparikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
We know our former abodes, our divine eye is purified; all our taints are destroyed, now there is no future existence.
Chúng con biết được tiền kiếp, thiên nhãn đã được thanh lọc, tất cả lậu hoặc đã được đoạn tận, bây giờ không còn sự tái sanh nữa.
29.
29.
29.
‘‘Atthadhammaniruttīsu, paṭibhāne tatheva ca;
Ñāṇaṃ amhaṃ mahāvīra, uppannaṃ tava santike.
In the analytical knowledges of meaning, Dhamma, and language, and likewise in ready wit, our knowledge, O Great Hero, has arisen in your presence.
Kính bạch bậc Đại Hùng, nơi Ngài, trí tuệ của chúng con đã sanh khởi trong nghĩa, pháp, và ngữ, và cũng như thế trong biện tài.
30.
30.
30.
‘‘Pubbānaṃ lokanāthānaṃ, saṅgamaṃ no nidassitaṃ;
Adhikāraṃ bahuṃ amhaṃ, tuyhatthāya mahāmune.
Our meeting with the past Lords of the World has been revealed; our great aspiration is for your sake, O Great Sage.
Ngài đã chỉ ra cho chúng con sự hội ngộ với các bậc Lãnh Đạo Thế Gian trong quá khứ; vì lợi ích của Ngài, sự tích lũy công đức của chúng con thật là nhiều, kính bạch bậc Đại Mâu-ni.
31.
31.
31.
‘‘Yaṃ amhehi kataṃ kammaṃ, kusalaṃ sara taṃ mune;
Tuyhatthāya mahāvīra, puññānupacitāni no.
O Sage, remember that wholesome kamma which was done by us; for your sake, O Great Hero, our merits have been accumulated.
Kính bạch bậc Mâu-ni, xin hãy nhớ đến nghiệp thiện nào mà chúng con đã làm. Kính bạch bậc Đại Hùng, vì lợi ích của Ngài, chúng con đã tích lũy các phước báu.
32.
32.
32.
‘‘Satasahassito kappe, padumuttaro mahāmuni;
Puraṃ haṃsavatī nāma, sambuddhassa kulāsayaṃ.
One hundred thousand aeons ago from this one, the Great Sage Padumuttara arose; the city named Haṃsavatī was the family abode of that Fully Enlightened One.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, bậc Đại Mâu-ni Padumuttara đã xuất hiện. Kinh đô, nơi ở của gia tộc bậc Chánh Đẳng Giác, tên là Haṃsavatī.
33.
33.
33.
‘‘Dvārena haṃsavatiyā, gaṅgā sandati sabbadā;
Ubbaḷhā nadiyā bhikkhū, gamanaṃ na labhanti te.
By the gate of Haṃsavatī, the river Gaṅgā always flows; overpowered by the river's strong current, those bhikkhus could not obtain passage.
Sông Gaṅgā luôn chảy qua cổng thành Haṃsavatī. Khi dòng sông chảy xiết, các vị tỳ-khưu ấy không thể đi lại được.
34.
34.
34.
‘‘Divasaṃ dve tayo ceva, sattāhaṃ māsikaṃ tato;
Catumāsampi sampuṇṇaṃ, gamanaṃ na labhanti te.
For two and three days, for a week, then for a month, and even for a full four months, they could not obtain passage.
Trong hai, ba ngày, và bảy ngày, rồi một tháng, và cả bốn tháng trọn vẹn, các vị ấy không thể đi lại được.
35.
35.
35.
‘‘Tadā ahu sattasāro, jaṭilo nāma raṭṭhiko;
Oruddhe † bhikkhavo disvā, setuṃ gaṅgāya kārayi.
At that time, there was the Bodhisatta, a provincial ruler named Jaṭila. Seeing the bhikkhus obstructed, he had a bridge built over the Gaṅgā.
Khi ấy, có vị Bồ-tát, người cai trị xứ tên là Jaṭila. Sau khi thấy các vị tỳ-khưu bị cản trở, vị ấy đã cho làm một cây cầu trên sông Gaṅgā.
36.
36.
36.
‘‘Tadā satasahassehi, setuṃ gaṅgāya kārayi;
Saṅghassa orime tīre, vihārañca akārayi.
At that time, with one hundred thousand, he had a bridge built over the Gaṅgā; and on this shore, for the Saṅgha, I also had a monastery made.
Khi ấy, vị ấy đã cho làm một cây cầu trên sông Gaṅgā với một trăm ngàn (tiền). Ở bờ bên này, vị ấy cũng đã cho xây một tu viện cho Tăng chúng.
37.
37.
37.
‘‘Itthiyo purisā ceva, uccanīcakulāni ca;
Tassa setuṃ vihārañca †, samabhāgaṃ akaṃsu te.
Women and men, and those from families high and low, contributed an equal share for his bridge and monastery.
Những người nữ và những người nam, và các gia đình cao sang và thấp hèn, họ đã đóng góp phần bằng nhau cho cây cầu và tu viện của vị ấy.
38.
38.
38.
‘‘Amhe aññe ca mānujā, vippasannena cetasā;
Tassa dhammesu dāyādā, nagare janapadesu ca.
We and other human beings, in the city and in the country districts, with exceptionally serene minds, wished to be heirs to his Dhamma.
Chúng tôi và những người khác, với tâm vô cùng hoan hỷ, đã là những người thừa kế giáo pháp của vị ấy, trong thành phố và trong các xứ.
39.
39.
39.
‘‘Itthī pumā kumārā ca, bahū ceva kumārikā;
Setuno ca vihārassa, vālukā ākiriṃsu te.
Women, men, and boys, and many young girls, scattered sand for the bridge and for the monastery.
Những người nữ, người nam, các chàng trai, và nhiều cô gái, họ đã rải cát cho cây cầu và cho tu viện.
40.
40.
40.
‘‘Vīthiṃ sammajjanaṃ katvā, kadalīpuṇṇaghaṭe dhaje;
Dhūpaṃ cuṇṇañca mālañca, kāraṃ katvāna satthuno.
Having swept the main road, and having set out banana trees, full water pots, and banners, and having made offerings of incense, fragrant powder, and garlands, they paid reverence to the Teacher.
Sau khi quét dọn con đường, sau khi thực hiện sự cúng dường tôn kính đến bậc Đạo Sư bằng cây chuối, bình đầy nước, cờ, khói hương, bột thơm, và vòng hoa.
41.
41.
41.
‘‘Setuvihāre kāretvā, nimantetvā vināyakaṃ;
Mahādānaṃ daditvāna, sambodhiṃ abhipatthayiṃ.
Having had the bridge and the monastery made, having invited the Guide, and having given a great offering, I aspired to supreme enlightenment.
Sau khi cho làm cây cầu và tu viện, sau khi thỉnh mời bậc Lãnh Đạo, sau khi dâng cúng vật thí lớn, tôi đã nguyện cầu sự giác ngộ.
42.
42.
42.
‘‘Padumuttaro mahāvīro, tārako sabbapāṇinaṃ;
Anumodanīyaṃkāsi, jaṭilassa mahāmuni †.
Padumuttara, the Great Hero, the deliverer of all beings, the Great Sage, gave a discourse of appreciation for Jaṭila.
Bậc Đại Hùng Padumuttara, người cứu độ tất cả chúng sanh, bậc Đại Mâu-ni, đã nói lời tùy hỷ với Jaṭila.
43.
43.
43.
‘‘‘Satasahassātikkante, kappo hessati bhaddako;
Bhavābhavenubhotvāna, pāpuṇissati bodhiyaṃ.
‘When one hundred thousand aeons have passed, there will be a fortunate aeon. Having experienced existence in life after life, he will attain enlightenment.
‘Sau khi một trăm ngàn kiếp trôi qua, sẽ có một kiếp tốt lành. Sau khi trải qua các kiếp lớn nhỏ, vị này sẽ đạt đến sự giác ngộ.
44.
44.
44.
‘‘‘Kāci hatthaparikammaṃ, katāvī naranāriyo;
Anāgatamhi addhāne, sabbā hessanti sammukhā’.
‘Some men and women performed manual labor; in a future time, all of them will be in the presence of that Buddha’.
‘Một số người nam và nữ đã làm công việc tay chân. Trong thời vị lai, tất cả họ sẽ hiện diện trước mặt (đức Phật Gotama).’
45.
45.
45.
‘‘Tena kammavipākena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Uppannā devabhavanaṃ, tuyhaṃ tā paricārikā.
By the result of that kamma, and by our intentions and aspirations, we were born in a deva realm; we are your attendants.
Do quả của nghiệp ấy, và do các ý nguyện và sự quyết tâm, chúng con đã sanh lên cõi trời, là những người phục vụ của Ngài.
46.
46.
46.
‘‘Dibbasukhaṃ asaṅkhiyaṃ, mānusañca asaṅkhiyaṃ;
Tuyhaṃ te paricārema, saṃsarimha bhavābhave.
As you experienced innumerable divine and human blisses, we served you; we have wandered through life after life.
Chúng con đã phục vụ Ngài, người đã trải nghiệm hạnh phúc vô số ở cõi trời và hạnh phúc vô số ở cõi người. Chúng con đã luân hồi trong các kiếp lớn nhỏ.
47.
47.
47.
‘‘Satasahassito kappe, sukataṃ kammasampadaṃ;
Sukhumālī manussānaṃ, atho devapure vare.
One hundred thousand aeons ago from this one, by virtue of the accomplishment of that well-done deed, we were of a delicate nature among humans, and also in the excellent deva realms.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, do sự thành tựu của nghiệp đã được làm tốt, chúng con đã là những người tinh tế giữa loài người, và cũng vậy trong cõi trời cao quý.
48.
48.
48.
‘‘Rūpabhogayase ceva, atho kittiñca sakkataṃ †;
Labhāma satataṃ sabbaṃ, sukataṃ kammasampadaṃ.
Because of the accomplishment of that well-done deed, we always obtain all of this: beauty, wealth, and glory, and furthermore, fame and honor.
Chúng con luôn luôn nhận được tất cả: sắc đẹp, tài sản, và danh tiếng, và cũng vậy là tiếng tăm và sự tôn kính, nhờ vào sự thành tựu của nghiệp đã được làm tốt.
49.
49.
49.
‘‘Pacchime bhave sampatte, jātāmha brāhmaṇe kule;
Sukhumālahatthapādā, sakyaputtanivesane.
Having reached our final existence, we were born in a brahmin family; with delicate hands and feet, in the home of the Sakyan's son.
Khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, chúng con đã sanh ra trong dòng dõi Bà-la-môn, có tay chân mềm mại, trong nhà của hoàng tử Thích-ca.
50.
50.
50.
‘‘Sabbakālampi pathaviṃ, na passāma na laṅkataṃ;
Cikkhallabhūmimasuciṃ †, na passāma mahāmune.
At all times, we never see the earth unadorned; we do not see impure, muddy ground, O Great Sage.
Kính bạch bậc Đại Mâu-ni, trong mọi lúc, chúng con không thấy mặt đất không được trang hoàng; chúng con không thấy vùng đất lầy lội không trong sạch.
51.
51.
51.
‘‘Agāraṃ vasante amhe, sakkāraṃ sabbakālikaṃ;
Upanenti sadā sabbaṃ, pubbakammaphalena no †.
While we were dwelling in the household, due to the fruit of our past kamma, all kinds of honor were always brought to us.
Do quả của nghiệp quá khứ của chúng con, khi chúng con đang sống trong nhà, họ luôn luôn mang đến tất cả sự tôn kính trong mọi lúc.
52.
52.
52.
‘‘Agāraṃ pajahitvāna, pabbajitvānagāriyaṃ;
Saṃsārapathanitthiṇṇā, vītarāgā bhavāmase †.
Having abandoned the household and gone forth into the homeless life, we have crossed over the path of saṃsāra and have become free from passion.
“Từ bỏ gia đình, xuất gia vào đời sống không nhà; chúng con đã vượt qua con đường sanh tử, trở thành những người không còn tham ái.”
53.
53.
53.
‘‘Cīvaraṃ piṇḍapātañca, paccayaṃ sayanāsanaṃ;
Upanenti sadā amhe, sahassāni tato tato.
Robes, almsfood, requisites, and lodging—thousands of these are always brought to us from here and there.
“Y phục, vật thực khất thực, dược phẩm, sàng tọa; hàng ngàn (vật dụng) từ khắp nơi luôn được mang đến cho chúng con.”
54.
54.
54.
‘‘Kilesā jhāpitā amhaṃ…pe… viharāma anāsavā.
Our defilements have been burned up… we dwell free from taints.
“Các phiền não của chúng con đã được thiêu đốt ... (vân vân) ... chúng con an trú không còn lậu hoặc.”
55.
55.
55.
‘‘Svāgataṃ vata no āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, our coming was welcome… the Buddha's teaching has been fulfilled.
“Sự đến của chúng con thật là khéo đến ... (vân vân) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
56.
56.
56.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha's teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (vân vân) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ caturāsītibrāhmaṇakaññābhikkhunīsahassāni bhagavato sammukhā imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed, eighty-four thousand bhikkhunīs, formerly brahmin maidens, spoke these verses in the presence of the Blessed One.
Như vậy, tám mươi bốn ngàn vị tỳ-khưu-ni là các thiếu nữ Bà-la-môn đã nói lên những câu kệ này ở trước sự hiện diện của đức Thế Tôn.
Caturāsītibhikkhunīsahassāpadānaṃ dutiyaṃ.
The Second Apadāna of the Eighty-Four Thousand Bhikkhunīs.
Apadāna về Tám Mươi Bốn Ngàn Vị Tỳ-khưu-ni, phần thứ hai.