Bản dịch
THI -ap31 — Ký Sự về các Tỳ Khưu Ni đứng đầu là Yasavatī
1 Yasavatīpamukhaaṭṭhārasabhikkhunīsahassaapadāna
BJT 1104“Bạch đấng Đại Hiền Trí, chúng con xin trình rằng, tất cả các hữu của chúng con đã được cạn kiệt, mối liên hệ với sự tái sanh của chúng con đã được mở ra, và các lậu hoặc của chúng con không còn.
BJT 1105Bạch đấng Đại Hiền Trí, bất cứ thiện nghiệp nào trước đây đã được ước nguyện tốt đẹp (và) vật dụng đã được bố thí là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 1106Bạch đấng Đại Hiền Trí, vật dụng đã được bố thí đến các vị Phật, đến các vị Phật Độc Giác, và đến các vị Phật Thinh Văn là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 1107Bạch đấng Đại Hiền Trí, hành động cao cả hoặc tầm thường đến các vị tỳ khưu đã được ước nguyện tốt đẹp, hành động khởi đầu này đây cho việc (sanh vào) các gia tộc thượng lưu đã được thực hiện.
BJT 1108Sự thành tựu của nghiệp được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, trong khi vượt trội loài người chúng con đã được sanh vào gia tộc Sát-đế-lỵ.
BJT 1109Trong sự sanh ra và trong việc làm đã được thực hiện, và luôn cả trong sự tái sanh cùng với nhau, chúng con đã được sanh ra chung với nhau trong (kiếp sống) cuối cùng, có xuất thân gia tộc Sát-đế-lỵ.
BJT 1110Bạch đấng Đại Hùng, có sắc đẹp, có của cải, được tôn vinh bằng các lợi lộc và sự kính trọng, chúng con ở trong kinh thành như là ở (vườn hoa) Nandana của chư Thiên.
BJT 1111Chúng con đã nhàm chán và đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Trong vài ngày, tất cả chúng con đã đạt được Niết Bàn.
BJT 1112Nhiều người đem đến cho chúng con y phục, vật thực, thuốc men, và chỗ nằm ngồi, chúng con luôn luôn được kính trọng tôn vinh.
BJT 1113Các phiền não của chúng con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), chúng con sống không còn lậu hoặc.
BJT 1114Quả vậy, chúng con đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 1115Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được chúng con đắc chứng; chúng con đã thực hành lời dạy của đức Phật.”
Mười tám ngàn vị tỳ khưu ni công nương dòng Sát-đế-lỵ đứng đầu là Yasavatī trước mặt đức Thế Tôn đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về mười tám ngàn vị tỳ khưu ni đứng đầu là Yasavatī là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Purimaṃ kusalaṃ kammaṃ †, yaṃ kiñci sādhupatthitaṃ;
Paribhogamayaṃ dinnaṃ, tuyhatthāya mahāmune.
Whatever past wholesome kamma was performed and well-aspired for, and whatever requisites were given, it was for your sake, O Great Sage.
“Bạch đấng Đại Muni, bất cứ nghiệp thiện nào đã được thực hiện trong quá khứ, đã được khéo nguyện cầu, vật dụng đã được dâng cúng là vì lợi ích của Ngài.”
3.
3.
3.
‘‘Buddhapaccekabuddhānaṃ, sāvakānañca patthitaṃ †;
Paribhogamayaṃ dinnaṃ, tuyhatthāya mahāmune.
What was aspired for Buddhas, Paccekabuddhas, and disciples, and the requisites that were given, were for your sake, O Great Sage.
“Bạch đấng Đại Muni, vì lợi ích của Ngài, vật dụng đã được dâng cúng đến các vị Phật, các vị Phật Độc Giác, và các vị Thinh Văn, và đã được nguyện cầu.”
4.
4.
4.
‘‘Uccanīcamayaṃ kammaṃ, bhikkhūnaṃ sādhupatthitaṃ;
Uccākulaparikammaṃ, katametaṃ mahāmune †.
O Great Sage, we performed kamma both low and high, a good aspiration made for the bhikkhus. This preparatory kamma for birth in high and low families was done.
“Nghiệp cao và thấp đã được khéo nguyện cầu cho các vị tỳ khưu. Bạch đấng Đại Muni, nghiệp này là sự chuẩn bị cho dòng dõi cao quý đã được thực hiện.”
5.
5.
5.
‘‘Teneva sukkamūlena, coditā kammasampadā;
Mānusikamatikkantā, jāyiṃsu khattiye kule.
Impelled by that very wholesome root, they who were endowed with kamma, having transcended the human state, were born in a khattiya family.
“Do chính gốc rễ trong sạch ấy thúc đẩy, sự thành tựu của nghiệp đã vượt qua cảnh giới loài người, các vị ấy đã sanh vào dòng dõi Sát-đế-lỵ.”
6.
6.
6.
‘‘Uppatte ca kate kamme, jātiyā vāpi ekato;
Pacchime ekato jātā, khattiyā kulasambhavā.
In the arising of the performed kamma and also in birth, we were together. In our final existence, being of khattiya family origin, we were born together.
“Trong sự sanh khởi và trong nghiệp đã được thực hiện, hoặc trong sự sanh ra, (chúng con) đã cùng nhau. Trong kiếp cuối cùng, sanh ra từ dòng dõi Sát-đế-lỵ, (chúng con) đã cùng nhau sanh ra.”
7.
7.
7.
‘‘Rūpavatī bhogavatī, lābhasakkārapūjitā;
Antepure mahāvīra, devānaṃ viya nandane.
Possessing beauty and wealth, honored with gain and respect, we were revered in the inner palace, O Great Hero, just as the gods are in the Nandana grove.
“Bạch đấng Đại Anh Hùng, (chúng con) có sắc đẹp, có tài sản, được tôn kính với lợi lộc và danh dự, ở trong nội cung, giống như các vị trời ở trong vườn Nandana.”
8.
8.
8.
‘‘Nibbinditvā agāramhā, pabbajimhanagāriyaṃ;
Katipāhaṃ upādāya, sabbā pattāmha nibbutiṃ.
Having become disenchanted with the household life, we went forth into homelessness. Within a few days, all of us attained Nibbāna.
“Sau khi đã nhàm chán gia đình, chúng con đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Chỉ trong vòng vài ngày, tất cả chúng con đã chứng đạt sự tịch tịnh.”
9.
9.
9.
‘‘Cīvaraṃ piṇḍapātañca, paccayaṃ sayanāsanaṃ;
Upanenti bahū amhe, sadā sakkatapūjitā.
Robes, almsfood, medicine, and lodging—many bring these to us; we are always honored and revered.
“Nhiều người dâng đến cho chúng con y phục, vật thực khất thực, dược phẩm, và chỗ ở; chúng con luôn được tôn trọng và cúng dường.”
10.
10.
10.
‘‘Kilesā jhāpitā amhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgīva bandhanaṃ chetvā, viharāma anāsavā.
Our defilements are burnt, all states of existence are uprooted. Like a she-elephant that has broken her bonds, we dwell free from taints.
“Các phiền não của chúng con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được nhổ sạch. Giống như voi cái đã cắt đứt dây trói, chúng con sống không còn lậu hoặc.”
11.
11.
11.
‘‘Svāgataṃ vata no āsi, mama buddhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Truly, it was a good coming for us to the presence of the Buddha. The three knowledges have been attained; the teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Thật sự, sự đến của chúng con là sự khéo đến, ở nơi sự hiện diện của đức Phật của con. Ba minh đã được chứng đạt, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
12.
12.
12.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, and also these eight liberations; the six super-knowledges have been realized, the teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích, và tám giải thoát này, sáu thắng trí đã được chứng ngộ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ yasavatīpamukhāni khattiyakaññābhikkhuniyo aṭṭhārasasahassāni bhagavato sammukhā imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, it is said, the eighteen thousand bhikkhunīs who were khattiya maidens, headed by Yasavatī, spoke these verses in the presence of the Blessed One.
Như vậy, nghe nói rằng mười tám ngàn vị tỳ khưu ni là các thiếu nữ dòng Sát-đế-lỵ, đứng đầu là Yasavatī, đã nói lên những câu kệ này ở trước sự hiện diện của đức Thế Tôn.
Yasavatīpamukhaaṭṭhārasabhikkhunīsahassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The Apadāna of the Eighteen Thousand Bhikkhunīs Headed by Yasavatī: The First.
Thánh tích về mười tám ngàn vị tỳ khưu ni đứng đầu là Yasavatī thứ nhất.