Bản dịch
THI -ap30 — Ký Sự về 18. 000 vị Tỳ Khưu Ni
10 Yasodharāpamukhaaṭṭhārasabhikkhunīsahassaapadāna
BJT 1044Mười tám ngàn vị tỳ khưu ni xuất thân dòng Sakya đứng đầu là Yasodharā đã đi đến gặp đấng Toàn Giác.
BJT 1045Tất cả mười tám ngàn vị ni đều có đại thần lực. Trong khi đảnh lễ ở bàn chân của bậc Hiền Trí, các vị ni trình rõ đúng theo năng lực rằng:
BJT 1046“Bạch đấng Đại Hiền Trí, sự sanh, sự già, sự bệnh, và sự chết đã được cạn kiệt. Bạch đấng Lãnh Đạo, chúng con đã đi đến vị thế Bất Tử, an tịnh, không còn lậu hoặc.
BJT 1047Bạch đấng Đại Hiền Trí, nếu có điều sai trái gì trước đây của tất cả chúng con vì không biết là lỗi lầm, bạch đấng Hướng Đạo xin Ngài hãy tha thứ cho chúng con.”
BJT 1048“Là những người thực hành theo Giáo Pháp của Ta, các nàng cũng nên thị hiện thần thông. Và hãy chặt đứt sự nghi ngờ đã có cho tất cả các chúng.”
BJT 1049“Bạch đấng Đại Hùng, là những vị ni danh tiếng, vui vẻ, có dáng vóc đáng yêu, bạch đấng Đại Hùng, tất cả đã là vợ của Ngài lúc còn tại gia.
BJT 1050Bạch đấng Anh Hùng, trong số một trăm chín mươi sáu ngàn phụ nữ ở nhà của Ngài, chúng con là những vị đứng đầu, là những người chủ quản tất cả.
BJT 1051Là những người có được sắc đẹp, tánh tình, và đức hạnh, ở vào tuổi thanh xuân, có lời nói đáng yêu, tất cả chư Thiên cũng như loài người đều quý trọng (chúng con).
BJT 1052Khi ấy, tất cả mười tám ngàn vị ni đều xuất thân dòng Sakya, một ngàn vị ni có danh tiếng là những vị đứng đầu, là những người chủ quản.
BJT 1053Bạch đấng Đại Hiền Trí, (các cô ấy) đã vượt qua dục giới, đã được an trú vào sắc giới. Không có gì tương đương với sắc đẹp của một ngàn cô ấy.”
BJT 1054Sau khi đảnh lễ bậc Toàn Giác, các vị ni đã phô bày thần thông đến bậc Đạo Sư. Các vị ni cũng đã thị hiện đại thần lực với nhiều hình thức khác loại.
BJT 1055(Các vị ni đã thị hiện) cơ thể tương đương với bầu vũ trụ, đầu là (đảo) Kuru ở về phía bắc, hai cánh là hai hòn đảo, thân mình là đảo Jambu.
BJT 1056Và đuôi công là cái hồ ở phía nam nhưng các lông chim là các cành lá khác nhau, mặt trăng và mặt trời là cặp mắt to, núi Meru là chóp đỉnh.
BJT 1057Ngọn núi của bầu vũ trụ là mỏ chim. Trong lúc phe phẩy cây Jambu cùng với cội rễ (làm cây quạt), các vị ni đã đi đến và đảnh lễ đấng Lãnh Đạo Thế Gian.
BJT 1058Tương tợ y như thế, các vị ni đã thị hiện hình dáng con voi, con ngựa, ngọn núi, và biển cả, rồi mặt trăng, mặt trời, núi Meru, và vóc dáng của vị trời Sakka.
BJT 1059“Bạch vị Anh Hùng, bạch đấng Hữu Nhãn, chúng con là các vị Yasodharā xin đảnh lễ ở bàn chân (Ngài). Bạch vị Anh Hùng, bạch đấng Lãnh Đạo của nhân loại, chúng con đã được hoàn thành nhờ vào quyền uy của Ngài.
BJT 1060Bạch đấng Đại Hiền Trí, chúng con đã có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, chúng con đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
BJT 1061Chúng con biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 1062Bạch đấng Đại Hùng, trí của chúng con về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ như thế về phép biện giải là được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.
BJT 1063Bạch đấng Đại Hiền Trí, sự gặp gỡ đối với các đấng Lãnh Đạo Thế Gian trước đây đã được chúng con nhìn thấy rõ. Nhiều hành động hướng thượng của chúng con là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 1064Bạch bậc Hiền Trí, xin Ngài nhớ lại thiện nghiệp trước đây của chúng con. Bạch đấng Đại Hùng, phước báu đã được tích lũy bởi chúng con là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 1065Bạch đấng Đại Hùng, sau khi đã tránh xa những nơi không thích hợp và đã ngăn trừ điều không giới hạnh, mạng sống đã được chúng con hy sinh là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 1066Bạch đấng Đại Hiền Trí, Ngài đã bố thí chúng con nhằm mục đích làm vợ (kẻ khác) nhiều ngàn koṭi lần. Chúng con không có bất bình về điều ấy là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 1067Bạch đấng Đại Hiền Trí, Ngài đã bố thí chúng con vì sự hỗ trợ (kẻ khác) nhiều ngàn koṭi lần. Chúng con không có bất bình về điều ấy là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 1068Bạch đấng Đại Hiền Trí, Ngài đã bố thí chúng con nhằm mục đích vật thực (cho kẻ khác) nhiều ngàn koṭi lần. Chúng con không có bất bình về điều ấy là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 1069Chúng con đã từ bỏ nhiều ngàn koṭi mạng sống. Chúng con đã từ bỏ các mạng sống (nghĩ rằng): ‘Chúng ta sẽ thực hiện sự giải thoát khỏi nỗi sợ hãi.’
BJT 1070Bạch đấng Đại Hiền Trí, chúng con không cất giấu các đồ trang sức được dùng cho phụ nữ, cùng nhiều vải vóc các loại, và các vật dụng của phụ nữ là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 1071Chúng con đã dứt bỏ tài sản, lúa gạo, các ngôi làng, và các phố chợ. Bạch đấng Đại Hiền Trí, các ruộng vườn, những người con trai và những người con gái đã được dứt bỏ.
BJT 1072Bạch đấng Đại Hùng, không thể đếm được những con voi, ngựa, trâu bò, luôn cả các nữ tỳ và tớ gái đã được dứt bỏ là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 1073Về việc Ngài bảo chúng con rằng: ‘Ta sẽ cho vật thí đến người hành khất,’ chúng con không nhìn thấy sự bất bình của chúng con trong khi Ngài bố thí vật thí tối thượng.
BJT 1074Bạch đấng Đại Hùng,chúng con đã trải qua nhiều khổ đau khác loại không thể đếm được, và ở sự luân hồi với nhiều hình thức là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 1075Bạch đấng Đại Hiền Trí, đạt được sung sướng chúng con không vui thích và không có tâm bực bội trong những khổ đau, chúng con được quân bình trong mọi trường hợp là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 1076Theo lộ trình mà bậc Toàn Giác (quá khứ) đã khẳng định về pháp (giải thoát), thì đấng Đại Hiền Trí đã đạt đến sự Giác Ngộ sau khi trải qua an lạc và khổ đau.
BJT 1077Bạch đấng Phạm Thiên, bậc Toàn Giác, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Gotama, Ngài với chúng con đã có nhiều lần gặp gỡ với các đấng Bảo Hộ Thế Gian khác.
BJT 1078Bạch đấng Đại Hiền Trí, nhiều hành động hướng thượng của chúng con là nhằm mục đích về Ngài. Chúng con là những nữ tỳ của Ngài trong lúc Ngài tầm cầu Phật Pháp.”
BJT 1079Vào thuở bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp, bậc Đại Anh Hùng, vị Lãnh Đạo Thế Gian Dīpaṅkara đã hiện khởi.
BJT 1080Sau khi đã thỉnh mời đức Như Lai, những người ở khu vực vùng biên địa làm sạch sẽ con đường đi đến của Ngài với tâm hoan hỷ.
BJT 1081Vào thời điểm ấy, người ấy đã là vị Bà-la-môn tên Sumedha, và đã sửa soạn con đường của đấng Toàn Tri đang đi đến.
BJT 1082Vào thời điểm ấy, tất cả chúng con đã có xuất thân là Bà-la-môn. Chúng con đã mang đến cuộc tụ hội những đóa hoa mọc trên đất liền và dưới nước.
BJT 1083Vào lúc ấy, đức Phật Dīpaṅkara, bậc Đại Hùng có danh tiếng vĩ đại ấy đã chú nguyện cho vị ẩn sĩ có tâm ý hướng thượng.
BJT 1084Trong khi tuyên dương hành động của vị ẩn sĩ có tâm ý hướng thượng ấy, quả đất (đã) lay chuyển, gào thét, rung động cùng với Thiên giới.
BJT 1085Các tiên nữ và loài người, luôn cả chúng con cùng với chư Thiên đã dâng lên phẩm vật cúng dường khác nhau rồi đã ước nguyện.
BJT 1086Đức Phật tên Jotidīpa (Dīpaṅkara) đã chú nguyện cho các vị ấy rằng: “Những điều đã được ước nguyện vào ngày hôm nay sẽ trở thành hiện thực.”
BJT 1087Ấy là điều đức Phật đã chú nguyện cho chúng con trước đây vô lượng kiếp. Trong khi tùy hỷ lời nói ấy, chúng con đã là những người hành động như thế.
BJT 1088Tại nơi ấy, chúng con đã có tâm tịnh tín đối với việc làm đã được thực hiện tốt đẹp ấy. Chúng con đã sanh vào bản thể trời và người với số lần không thể đếm được.
BJT 1089Chúng con đã trải qua an lạc và khổ đau ở các cõi trời và loài người. Khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, chúng con đã sanh ra trong gia tộc Sakya.
BJT 1090Chúng con có sắc đẹp, có của cải, do đó có danh vọng và giới hạnh. Chúng con có sự thành tựu vẹn toàn thân thể, được vô cùng kính trọng ở các gia đình.
BJT 1091Lợi lộc, danh vọng, cung kính, sự hội tụ của các pháp thế gian, và tâm bị khổ não là không có, chúng con sống không sợ hãi.
BJT 1092Khi ấy, điều này đã được đức Thế Tôn nói ra ở trong kinh thành của đức vua (Suddhodana). Và đấng Anh Hùng đã chỉ ra việc hỗ trợ trước đây của các vị Sát-đế-lỵ:
BJT 1093“Người nữ nào là hữu ân, người nữ nào cùng chung vui sướng khổ đau, người nữ nào nói lời hữu ích, và người nữ nào có lòng thương tưởng, –
BJT 1094– thời hãy thực hành pháp thiện hạnh, chớ thực hành ác hạnh ấy. Người thực hành Giáo Pháp thọ hưởng an lạc ở đời này và đời sau.”
BJT 1095Sau khi từ bỏ gia đình, chúng con đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Chưa đạt đến nửa tháng, chúng con đã chạm đến bốn Sự Thật.
BJT 1096Nhiều người đem đến cho chúng con y phục, vật thực, thuốc men, và chỗ nằm ngồi tợ như các làn sóng của biển cả.
BJT 1097Các phiền não của chúng con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), chúng con sống không còn lậu hoặc.
BJT 1098Quả vậy, chúng con đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 1099Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được chúng con đắc chứng; chúng con đã thực hành lời dạy của đức Phật.
BJT 1100Như vậy là có khổ đau đa dạng và thành công nhiều hình thức. Được đạt đến trạng thái thanh tịnh, chúng con nhận lãnh mọi sự thành tựu.
BJT 1101Những nàng nào bố thí chính bản thân mình vì mục đích phước báu của vị đại ẩn sĩ là có sự thành tựu về bạn hữu, còn vị thế Niết Bàn là không còn tạo tác.
BJT 1102“Quá khứ, hiện tại, và vị lai đãđược cạn kiệt, tất cả nghiệp của chúng con đã được cạn kiệt. Bạch đấng Hữu Nhãn, chúng con xin đảnh lễ ở bàn chân (Ngài).”
BJT 1103“Ta sẽ nói điều gì hơn nữa về các nàng là những người đang tiến đến Niết Bàn? Bởi vì các nàng đã đạtđược vị thế Bất Tử, (là cảnh giới mà) sự tạo tác và điều sai trái đã được tịnh lặng.”
Mười tám ngàn vị tỳ khưu ni đứng đầu là Yasodharā trước mặt đức Thế Tôn đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về mười tám ngàn vị tỳ khưu ni có Yasodharā đứng đầu là phần thứ mười.
Phẩm Kuṇḍalakesī là phẩm thứ ba.
TÓM LƯỢC CỦA PHẨM NÀY:
Vị ni Kuṇḍalā, vị ni Kisāgotamī, luôn cả vị ni Dhammadinnā, vị ni Sakulā, vị ni Nandā cao quý, vị ni Soṇā, vị ni Bhaddākāpilānī, vị ni Yasodharā, mười ngàn tỳ khưu ni, và mười tám ngàn vị ni, (tổng cộng) là bốn trăm bảy mươi sáu câu kệ cả thảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Aṭṭhārasasahassāni, sabbā honti mahiddhikā;
Vandantī munino pāde, ārocenti yathābalaṃ.
The eighteen thousand were all of great psychic power; worshipping at the Sage's feet, they declared according to their ability.
“Tất cả mười tám ngàn vị đều là những người có được đại thần thông. Các vị ấy đảnh lễ đôi chân của bậc Ẩn Sĩ và trình lên (lời thỉnh cầu) tùy theo khả năng.
428.
428.
428.
‘‘‘Jāti khīṇā jarā byādhi, maraṇañca mahāmuni;
Anāsavaṃ padaṃ santaṃ, amataṃ yāma nāyaka.
O Great Sage, birth, old age, sickness, and death are destroyed. O Leader, we go to the taintless, peaceful, deathless state.
Thưa bậc Đại Muni, sanh, già, bệnh, và cả sự chết đã được đoạn tận. Thưa bậc Đạo Sư, chúng con sẽ đi đến trạng thái bất tử, tịch tịnh, vô lậu.
429.
429.
429.
‘‘‘Khalitañce pure atthi, sabbāsampi mahāmuni;
Aparādhamajānantī, khama amhaṃ vināyaka.
O Great Sage, if there was any fault of ours in the past, of all of us who were unknowing of the offense, forgive us, O Leader.
Thưa bậc Đại Muni, nếu như trước đây có điều gì sai sót, đối với tất cả chúng con, vì không biết lỗi lầm, xin bậc Đạo Sư hãy tha thứ cho chúng con.
430.
430.
430.
‘‘‘Iddhiñcāpi nidassetha, mama sāsanakārikā;
Parisānañca sabbāsaṃ, kaṅkhaṃ chindatha yāvatā.
You who carry out my teaching, display your psychic power; and for all the assemblies, cut off whatever doubt there is.
Này các vị thực hành giáo pháp của ta, hãy thị hiện thần thông, và hãy đoạn trừ mọi nghi ngờ của tất cả các hội chúng.
431.
431.
431.
‘‘‘Yasodharā mahāvīra, manāpā piyadassanā;
Sabbā tuyhaṃ mahāvīra, agārasmiṃ pajāpati.
O Great Hero, Yasodharā and those led by her are pleasing and lovely to behold. O Great Hero, they were all your consorts in the palace.
Thưa bậc Đại Hùng, công nương Da-du-đà-la (Yasodharā) và tất cả (chúng con) đều khả ái, đáng yêu. Thưa bậc Đại Hùng, tất cả chúng con đều là vợ của Ngài trong cung điện.
432.
432.
432.
‘‘‘Thīnaṃ satasahassānaṃ, navutīnaṃ chaduttari;
Agāre te mayaṃ vīra, pāmokkhā sabbā issarā.
Among ninety-six hundred thousand women, O Hero, we were the foremost in your home, all of us sovereigns.
Thưa bậc Dũng Tấn, trong cung điện của Ngài, chúng con là những người đứng đầu, là chủ của tất cả chín mươi sáu trăm ngàn (9,600,000) phụ nữ.
433.
433.
433.
‘‘‘Rūpācāraguṇūpetā, yobbanaṭṭhā piyaṃvadā;
Sabbā no apacāyanti, devatā viya mānusā.
Endowed with the virtues of beauty and conduct, established in youth, speaking pleasingly; all the women revere us, just as humans revere devas.
Chúng con được phú bẩm các phẩm chất về sắc đẹp và đức hạnh, đang trong tuổi thanh xuân, lời nói khả ái. Tất cả (các cung nữ khác) đều tôn kính chúng con, như loài người tôn kính chư thiên.
434.
434.
434.
‘‘‘Aṭṭhārasasahassāni, sabbā sākiyasambhavā;
Yasodharāsahassāni, pāmokkhā issarā tadā.
There were eighteen thousand women, all born of the Sakyan clan; at that time, the thousands led by Yasodharā were foremost and sovereign.
Mười tám ngàn người, tất cả đều xuất thân từ dòng tộc Thích-ca (Sākiya). Khi ấy, một ngàn người với công nương Da-du-đà-la (Yasodharā) làm thủ lĩnh, là những người đứng đầu và cai quản.
435.
435.
435.
‘‘‘Kāmadhātumatikkamma, saṇṭhitā rūpadhātuyā;
Rūpena sadisā natthi, sahassānaṃ mahāmuni.
Having transcended the sense-sphere realm, we are established in the form-sphere realm; O Great Sage, among the thousands, there is none equal to us in beauty.
Thưa bậc Đại Muni, (chúng con) đã vượt qua cõi Dục, an trú trong cõi Sắc. Về sắc đẹp, trong số hàng ngàn người, không ai có thể sánh bằng.
436.
436.
436.
‘‘‘Sambuddhaṃ abhivādetvā, iddhiṃ dassaṃsu satthuno;
Nekā nānāvidhākārā, mahāiddhīpi dassayuṃ.
Having paid homage to the Fully Enlightened One, they displayed their psychic power to the Teacher; in many and various ways, they also displayed great psychic power.
Sau khi đảnh lễ bậc Chánh Đẳng Giác, các vị ấy đã thị hiện thần thông cho bậc Đạo Sư. Các vị ấy đã biểu diễn đại thần thông qua nhiều hình thức khác nhau, đa dạng.
437.
437.
437.
‘‘‘Cakkavāḷasamaṃ kāyaṃ, sīsaṃ uttarato kuru;
Ubho pakkhā duve dīpā, jambudīpaṃ sarīrato.
The body became equal to a Cakkavāḷa, the head to the continent of Uttarakuru; the two wings became the two continents, and the torso became Jambudīpa.
Thân hình ngang bằng thế giới luân xa (cakkavāḷa), đầu bằng châu Bắc-câu-lô (Uttarakuru). Hai cánh là hai châu (Đông và Tây), thân mình là châu Diêm-phù-đề (Jambudīpa).
438.
438.
438.
‘‘‘Dakkhiṇañca saraṃ piñchaṃ, nānāsākhā tu pattakā;
Candañca sūriyañcakkhi, merupabbatato sikhaṃ.
The tail feathers became the southern ocean, and the wing feathers were like various branches; the eyes became the moon and the sun, and the crest became Mount Meru.
Đuôi là biển phía nam, lông vũ như các cành cây khác nhau. Mắt là mặt trăng và mặt trời, mào là núi Tu-di (Meru).
439.
439.
439.
‘‘‘Cakkavāḷagiriṃ tuṇḍaṃ, jamburukkhaṃ samūlakaṃ;
Bījamānā upāgantvā, vandantī lokanāyakaṃ.
The beak became the Cakkavāḷa mountain range; having uprooted the Jambu tree and fanning with it, they approached and worshipped the Leader of the World.
Mỏ là dãy núi Thiết-vi (Cakkavāḷa). Nhổ cả gốc cây Diêm-phù (Jambu), vừa dùng nó để quạt, các vị ấy vừa đến gần và đảnh lễ bậc Lãnh Đạo Thế Gian.
440.
440.
440.
‘‘‘Hatthivaṇṇaṃ tathevassaṃ, pabbataṃ jaladhiṃ tathā;
Candañca sūriyaṃ meruṃ, sakkavaṇṇañca dassayuṃ.
They displayed the form of an elephant, and likewise a horse, a mountain, and the ocean; also the moon, the sun, Mount Meru, and the form of Sakka.
Các vị ấy đã thị hiện hình tướng voi, cũng như hình tướng ngựa, núi, biển, và cả mặt trăng, mặt trời, núi Tu-di (Meru), và hình tướng của Đế-thích (Sakka).
441.
441.
441.
‘‘‘Yasodharā mayaṃ vīra, pāde vandāma cakkhuma;
Tava cirapabhāvena, nipphannā naranāyaka.
We, led by Yasodharā, O Hero, O One with the Eye, worship your feet. O Leader of Men, through your long-standing influence, we are accomplished.
Thưa bậc Dũng Tấn, chúng con là Da-du-đà-la (Yasodharā) (và các quyến thuộc), chúng con đảnh lễ đôi chân của Ngài, ôi bậc Thiên Nhãn. Thưa bậc Lãnh Đạo Nhân Loại, nhờ vào ảnh hưởng lâu dài của Ngài mà chúng con được thành tựu.
442.
442.
442.
‘‘‘Iddhīsu ca vasī homa, dibbāya sotadhātuyā;
Cetopariyañāṇassa, vasī homa mahāmune.
We are masters of the psychic powers and of the divine ear element; O Great Sage, we are masters of the knowledge of others' minds.
Thưa bậc Đại Muni, chúng con đã thuần thục các thần thông, và thiên nhĩ thông. Chúng con cũng đã thuần thục tha tâm thông.
443.
443.
443.
‘‘‘Pubbenivāsaṃ jānāma, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Sabbāsavaparikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
We know our past lives, our divine eye is purified; all our taints are destroyed, now there is no further becoming.
Chúng con biết được các đời sống quá khứ, thiên nhãn đã được thanh tịnh. Tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, nay không còn tái sanh nữa.
444.
444.
444.
‘‘‘Atthadhammaniruttīsu, paṭibhāne tatheva ca;
Ñāṇaṃ amhaṃ mahāvīra, uppannaṃ tava santike.
In the analytical knowledges of meaning, Dhamma, and language, and likewise in that of inspiration, O Great Hero, this knowledge has arisen in us in your presence.
Thưa bậc Đại Hùng, trí tuệ về nghĩa, pháp, từ ngữ, và biện tài đã khởi sanh nơi chúng con, ngay tại sự hiện diện của Ngài.
445.
445.
445.
‘‘‘Pubbānaṃ lokanāthānaṃ, saṅgamaṃ no nidassitaṃ;
Adhikārā bahū amhaṃ, tuyhatthāya mahāmune.
The assembly of the past Lords of the World has been shown to us; O Great Sage, for your sake we have made many aspirations.
Ngài đã chỉ cho chúng con thấy cuộc hội ngộ với các bậc Lãnh Đạo Thế Gian trong quá khứ. Thưa bậc Đại Muni, vì lợi ích của Ngài, chúng con đã thực hiện nhiều sự phát nguyện.
446.
446.
446.
‘‘‘Yaṃ amhaṃ pūritaṃ kammaṃ, kusalaṃ sarase mune;
Tuyhatthāya mahāvīra, puññānupacitāni no.
O Sage, remember whatever wholesome deed of ours has been fulfilled. O Great Hero, for your sake have we accumulated merits.
Thưa bậc Hiền Triết, xin Ngài hãy nhớ đến nghiệp thiện lành mà chúng con đã viên mãn. Thưa bậc Đại Hùng, vì lợi ích của Ngài, chúng con đã tích lũy các công đức.
447.
447.
447.
‘‘‘Abhabbaṭṭhāne vajjetvā, vārayimha anācaraṃ;
Tuyhatthāya mahāvīra, cattāni jīvitāni no †.
Having avoided what is unsuitable and warded off unbecoming conduct, for your sake, O Great Hero, our lives have been given up.
Chúng con đã tránh những nơi không thích hợp, đã ngăn ngừa hành vi sai trái. Thưa bậc Đại Hùng, vì lợi ích của Ngài, chúng con đã từ bỏ mạng sống của mình.
448.
448.
448.
‘‘‘Nekakoṭisahassāni, bhariyatthāyadāsi no;
Na tattha vimanā homa, tuyhatthāya mahāmune.
For many thousands of koṭis of aeons, he gave us away for the purpose of being a wife; in that, we were not discontent, for your sake, O Great Sage.
Trong vô số ngàn vạn kiếp, Ngài đã cho chúng con đi làm vợ (người khác). Thưa bậc Đại Muni, vì lợi ích của Ngài, chúng con đã không hề có tâm bất mãn về điều đó.
449.
449.
449.
‘‘‘Nekakoṭisahassāni, upakārāyadāsi no;
Na tattha vimanā homa, tuyhatthāya mahāmune.
For many thousands of koṭis of aeons, he gave us away for the purpose of rendering service; in that, we were not discontent, for your sake, O Great Sage.
Trong vô số ngàn vạn kiếp, Ngài đã cho chúng con đi để phục vụ. Thưa bậc Đại Muni, vì lợi ích của Ngài, chúng con đã không hề có tâm bất mãn về điều đó.
450.
450.
450.
‘‘‘Nekakoṭisahassāni, bhojanatthāyadāsi no;
Na tattha vimanā homa, tuyhatthāya mahāmune.
For many thousands of koṭis of aeons, he gave us away for the sake of food; in that, we were not discontent, for your sake, O Great Sage.
Trong vô số ngàn vạn kiếp, Ngài đã cho chúng con đi để làm thức ăn. Thưa bậc Đại Muni, vì lợi ích của Ngài, chúng con đã không hề có tâm bất mãn về điều đó.
451.
451.
451.
‘‘‘Nekakoṭisahassāni, jīvitāni cajimhase †;
Bhayamokkhaṃ karissāma, jīvitāni cajimhase.
Throughout many thousands of koṭis of lives, we relinquished our lives; thinking, 'We shall bring about release from danger,' we have indeed relinquished our lives.
Trong vô số ngàn vạn kiếp, chúng con đã từ bỏ mạng sống. Với ý nghĩ: 'Chúng ta sẽ tạo ra sự giải thoát khỏi sợ hãi', chúng con đã từ bỏ mạng sống.
452.
452.
452.
‘‘‘Aṅgagate alaṅkāre, vatthe nānāvidhe bahū;
Itthibhaṇḍe na gūhāma, tuyhatthāya mahāmune.
Limbs, ornaments, many various garments, and women's articles—we did not hide them, for your sake, O Great Sage.
Thưa bậc Đại Muni, vì lợi ích của Ngài, chúng con đã không che giấu các bộ phận thân thể, đồ trang sức, nhiều loại y phục khác nhau, và các vật dụng của phụ nữ.
453.
453.
453.
‘‘‘Dhanadhaññapariccāgaṃ, gāmāni nigamāni ca;
Khettaṃ puttā ca dhītā ca, pariccattā mahāmune.
Wealth and grain, villages and towns, fields, sons, and daughters have been relinquished, O Great Sage.
Thưa bậc Đại Muni, sự từ bỏ của cải và ngũ cốc, các làng mạc và thị trấn, ruộng đồng, các con trai và con gái, (tất cả) đã được từ bỏ.
454.
454.
454.
‘‘‘Hatthī assā gavā cāpi, dāsiyo paricārikā;
Tuyhatthāya mahāvīra, pariccattaṃ asaṅkhiyaṃ.
Elephants, horses, and cattle, and also female slaves who are attendants—these innumerable things have been relinquished for your sake, O Great Hero.
Voi, ngựa, và cả bò, các nữ tỳ và người hầu cận; thưa bậc Đại Hùng, vì lợi ích của Ngài, vô số (những thứ ấy) đã được từ bỏ.
455.
455.
455.
‘‘‘Yaṃ amhe paṭimantesi, dānaṃ dassāma yācake;
Vimanaṃ no na passāma, dadato dānamuttamaṃ.
When he consults with us, saying, 'We shall give gifts to beggars,' we perceive no discontent in ourselves as he gives the supreme gift.
Khi Ngài hỏi ý chúng con: 'Ta sẽ bố thí cho những người khất thực', chúng con không thấy nơi mình có tâm bất mãn khi Ngài thực hành sự bố thí tối thượng.
456.
456.
456.
‘‘‘Nānāvidhaṃ bahuṃ dukkhaṃ, saṃsāre ca bahubbidhe;
Tuyhatthāya mahāvīra, anubhuttaṃ asaṅkhiyaṃ.
O Great Hero, for your sake, much suffering of many kinds has been experienced innumerably in the diverse cycle of existence.
Nhiều nỗi khổ đau đa dạng, trong vòng luân hồi muôn vẻ; thưa bậc Đại Hùng, vì lợi ích của Ngài, chúng con đã trải qua vô số lần.
457.
457.
457.
‘‘‘Sukhappattānumodāma, na ca dukkhesu dummanā;
Sabbattha tulitā homa, tuyhatthāya mahāmune.
Having attained happiness, we rejoice; and we are not downcast because of sufferings. In all things, we are balanced, for your sake, O Great Sage.
Khi đạt được hạnh phúc, chúng con hoan hỷ; và trong đau khổ, chúng con không buồn rầu. Thưa bậc Đại Muni, vì lợi ích của Ngài, chúng con luôn giữ tâm quân bình trong mọi hoàn cảnh.
458.
458.
458.
‘‘‘Anumaggena sambuddho, yaṃ dhammaṃ abhinīhari;
Anubhotvā sukhaṃ dukkhaṃ, patto bodhiṃ mahāmune.
O Great Sage, by the appropriate path, the Fully Enlightened One brought forth the Dhamma. Having experienced pleasure and pain, he has attained enlightenment.
Kính bạch bậc Đại Mâu-ni, bậc Chánh Đẳng Giác đã hướng đến Pháp nào bằng con đường tương ứng; sau khi đã trải qua lạc và khổ, Ngài đã đạt đến sự Giác Ngộ.
459.
459.
459.
‘‘‘Brahmadevañca sambuddhaṃ, gotamaṃ lokanāyakaṃ;
Aññesaṃ lokanāthānaṃ, saṅgamaṃ tehi no bahū.
With the Sambuddha Brahmadatta, with Gotama the Leader of the World, and with other Lords of the World, our association has been frequent.
Đối với đức Chánh Đẳng Giác Brahmadeva, và đức Gotama, bậc Lãnh Đạo thế gian; và dưới sự hiện diện của các bậc Hộ Trì thế gian khác, sự gặp gỡ của chúng con với các Ngài đã rất nhiều.
460.
460.
460.
‘‘‘Adhikāraṃ bahuṃ amhe, tuyhatthāya mahāmune;
Gavesato buddhadhamme, mayaṃ te paricārikā.
Much meritorious action has been done by us for your sake, O Great Sage. We are the attendants of you who are seeking the qualities of a Buddha.
Kính bạch bậc Đại Mâu-ni, vì lợi ích của Ngài, chúng con đã thực hiện nhiều công đức. Trong khi Ngài tìm cầu các Phật pháp, chúng con là những người phục vụ Ngài.
461.
461.
461.
‘‘‘Kappe ca satasahasse, caturo ca asaṅkhiye;
Dīpaṅkaro mahāvīro, uppajji lokanāyako.
Four incalculables and one hundred thousand aeons ago, the Great Hero, Dīpaṅkara, the Leader of the World, arose.
Sau bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp, đức Phật Dīpaṅkara, bậc Đại Hùng, bậc Lãnh Đạo thế gian, đã xuất hiện.
462.
462.
462.
‘‘‘Paccantadesavisaye, nimantetvā tathāgataṃ;
Tassa āgamanaṃ maggaṃ, sodhenti tuṭṭhamānasā.
In a border region, having invited the Tathāgata, they, with joyful hearts, cleared the path for his arrival.
Tại vùng biên địa, sau khi đã thỉnh mời đức Như Lai, họ dọn dẹp con đường mà Ngài sẽ đến với tâm hoan hỷ.
463.
463.
463.
‘‘‘Tena kālena so āsi, sumedho nāma brāhmaṇo;
Maggañca paṭiyādesi, āyato sabbadassino.
At that time, he was a brahmin named Sumedha; he prepared the path for the coming of the All-Seeing One.
Vào thời ấy, Ngài là vị Bà-la-môn tên là Sumedha; Ngài cũng đã chuẩn bị con đường cho bậc Toàn Giác đang đến.
464.
464.
464.
‘‘‘Tena kālena ahumha, sabbā brāhmaṇasambhavā;
Thalūdajāni pupphāni, āharimha samāgamaṃ.
At that time, we were all of brahmin birth. We brought land-grown and water-grown flowers to the assembly.
Vào thời ấy, tất cả chúng con đều sanh trong dòng dõi Bà-la-môn; chúng con đã mang những loài hoa mọc trên cạn đến nơi hội chúng.
465.
465.
465.
‘‘‘Tasmiṃ so samaye buddho, dīpaṅkaro mahāyaso;
Viyākāsi mahāvīro, isimuggatamānasaṃ.
At that time, the Buddha Dīpaṅkara, of great fame, the Great Hero, made a prophecy to the ascetic with an uplifted mind.
Vào thời điểm ấy, đức Phật Dīpaṅkara, bậc Đại Danh Vọng, bậc Đại Hùng, đã thọ ký cho vị ẩn sĩ có tâm phấn khởi.
466.
466.
466.
‘‘‘Calatī ravatī puthavī, saṅkampati sadevake;
Tassa kammaṃ pakittente, isimuggatamānasaṃ.
The earth quakes and roars, the world with its devas trembles violently, when the deed of that ascetic with an uplifted mind is proclaimed.
Mặt đất rung chuyển, gầm vang, chấn động cùng với cõi trời, khi nghiệp của vị ẩn sĩ có tâm phấn khởi ấy được tuyên dương.
467.
467.
467.
‘‘‘Devakaññā manussā ca, mayañcāpi sadevakā;
Nānāpūjanīyaṃ bhaṇḍaṃ, pūjayitvāna patthayuṃ.
Celestial maidens and humans, and we also with the devas, having made offerings with various venerable items, made aspirations.
Các thiên nữ và loài người, và cả chúng con cùng với chư thiên, sau khi cúng dường những vật phẩm đa dạng, đã cùng nhau phát nguyện.
468.
468.
468.
‘‘‘Tesaṃ buddho viyākāsi, jotidīpa sanāmako;
Ajja ye patthitā atthi, te bhavissanti sammukhā.
The Buddha named Jotidīpa prophesied to them: 'Those who have made aspirations today, they will be in the presence of the future Buddha.'
Đức Phật, có danh hiệu là Jotidīpa, đã thọ ký cho họ rằng: 'Những ai đã phát nguyện hôm nay, họ sẽ có mặt (trước đức Phật Gotama trong tương lai).'
469.
469.
469.
‘‘‘Aparimeyye ito kappe, yaṃ no buddho viyākari;
Taṃ vācamanumodentā, evaṃkārī ahumha no.
In an incalculable aeon from this one, rejoicing in that word of prophecy which the Buddha declared for us, we became ones who acted accordingly.
Vào những kiếp không thể đếm được kể từ đây, đối với lời thọ ký mà đức Phật đã ban cho chúng con, chúng con đã hoan hỷ với lời nói ấy và đã hành động đúng như vậy.
470.
470.
470.
‘‘‘Tassa kammassa sukatassa, tassa cittaṃ pasādayuṃ;
Devamānusikaṃ yoniṃ, anubhotvā asaṅkhiyaṃ.
On account of that well-done deed, their minds became serene, having experienced countless divine and human existences.
Do nghiệp thiện đã được làm, tâm của họ đã tịnh tín nơi Ngài; sau khi đã trải qua vô số kiếp trong các cảnh giới trời và người,
471.
471.
471.
‘‘‘Sukhadukkhenubhotvāna, devesu mānusesu ca;
Pacchime bhave sampatte, jātāmha sākiye kule.
Having experienced pleasure and pain among devas and humans, upon reaching our final existence, we were born in the Sākiya clan.
Sau khi đã trải qua lạc và khổ trong cõi trời và cõi người, khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, chúng con đã sanh vào dòng họ Sākya.
472.
472.
472.
‘‘‘Rūpavatī bhogavatī, yasasīlavatī tato;
Sabbaṅgasampadā homa, kulesu abhisakkatā.
We are beautiful, wealthy, renowned, and virtuous; therefore, we are endowed with all perfections and honored in our families.
Chúng con có sắc đẹp, có tài sản, có danh tiếng và giới hạnh; do đó, chúng con có đầy đủ tất cả các chi phần, và được tôn kính trong các gia tộc.
473.
473.
473.
‘‘‘Lābhaṃ silokaṃ sakkāraṃ, lokadhammasamāgamaṃ;
Cittañca dukkhitaṃ natthi, vasāma akutobhayā.
We receive gain, fame, and honor. When encountering the worldly conditions, our minds are not afflicted; we dwell without fear from any quarter.
Chúng con nhận được lợi lộc, danh tiếng, và sự tôn trọng. Khi gặp phải các pháp thế gian, tâm chúng con không bị đau khổ; chúng con sống không sợ hãi từ bất cứ đâu.
474.
474.
474.
‘‘‘Vuttañhetaṃ bhagavatā, rañño antepure tadā;
Khattiyānaṃ pure vīra †, upakārañca niddisi.
This was said by the Blessed One at that time in the king's inner palace, in the city of the Khattiyas; O Hero, you pointed out my helpfulness.
Điều này đã được đức Thế Tôn nói, vào lúc đó, trong cung của nhà vua. Hỡi bậc Anh Hùng, trong thành của dòng Sát-đế-lỵ, Ngài đã chỉ ra sự giúp đỡ (của bà ấy).
475.
475.
475.
‘‘‘Upakārā ca yā nārī, yā ca nārī sukhe dukhe;
Atthakkhāyī ca yā nārī, yā ca nārīnukampikā.
The woman who is helpful, the woman who is the same in happiness and sorrow, the woman who speaks of what is beneficial, and the woman who is compassionate—
Người phụ nữ nào là người giúp đỡ, người phụ nữ nào (đồng hành) trong lạc và khổ, người phụ nữ nào là người nói lên điều lợi ích, và người phụ nữ nào là người có lòng bi mẫn.
476.
476.
476.
‘‘‘Dhammaṃ care sucaritaṃ, na naṃ duccaritaṃ care;
Dhammacārī sukhaṃ seti, asmiṃ loke paramhi ca.
One should practice good conduct, not misconduct. One who practices the Dhamma dwells happily in this world and in the next.
Hãy thực hành Pháp, hành vi tốt đẹp; không nên thực hành hành vi xấu xa. Người thực hành Pháp ngủ an lạc, ở đời này và cả ở đời sau.
477.
477.
477.
‘‘‘Agāraṃ vijahitvāna, pabbajimhanagāriyaṃ;
Aḍḍhamāse asampatte, catusaccaṃ phusimha no.
Having abandoned the home, we went forth into homelessness; before half a month had passed, we attained the Four Truths.
Sau khi từ bỏ đời sống gia đình, chúng con đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Chưa đến nửa tháng, chúng con đã chứng ngộ Tứ Diệu Đế.
478.
478.
478.
‘‘‘Cīvaraṃ piṇḍapātañca, paccayaṃ sayanāsanaṃ;
Upanenti bahū amhe, sāgarasseva ūmiyo.
Robes, almsfood, requisites, and lodging—many people bring these to us, like the waves of the ocean.
Y phục, vật thực khất thực, dược phẩm, và chỗ ở, nhiều người mang đến cho chúng con, giống như những con sóng của đại dương.
479.
479.
479.
‘‘‘Kilesā jhāpitā amhaṃ †, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgīva bandhanaṃ chetvā, viharāma anāsavā.
Our defilements are burnt up, all existences are uprooted; like a female elephant that has cut its bonds, we dwell free from taints.
Các phiền não của chúng con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được nhổ sạch. Giống như voi cái đã bứt đứt dây trói, chúng con sống không còn lậu hoặc.
480.
480.
480.
‘‘‘Svāgataṃ vata no āsi, mama buddhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, our coming into the presence of the Buddha was a good coming! The three knowledges have been attained; the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Thật vậy, sự đến của chúng con là một sự đến tốt đẹp, đến sự hiện diện của đức Phật của con. Tam Minh đã được chứng đắc, giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.
481.
481.
481.
‘‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’.
The four analytical knowledges, and these eight liberations; the six super-knowledges have been realized, the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích, và tám giải thoát này, Lục Thông đã được chứng ngộ; giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.
482.
482.
482.
‘‘Evaṃ bahuvidhaṃ dukkhaṃ, sampattī ca bahubbidhā;
Visuddhabhāvaṃ sampattā, labhāma sabbasampadā.
Thus, having experienced manifold suffering and manifold attainments, and having attained a state of purity, we obtain all accomplishments.
Như vậy, (trải qua) nhiều loại khổ đau và nhiều loại thành tựu, chúng con đã đạt đến trạng thái thanh tịnh, chúng con nhận được tất cả sự toàn hảo.
483.
483.
483.
‘‘Yā dadanti sakattānaṃ, puññatthāya mahesino;
Sahāyasampadā honti, nibbānapadamasaṅkhataṃ.
Those who give of themselves for the sake of merit for the Great Seer attain the accomplishment of companionship; it is the path to the unconditioned state of Nibbāna.
Những người nữ nào đã dâng hiến bản thân mình vì công đức cho bậc Đại Ẩn Sĩ, họ trở thành người bạn đồng hành toàn hảo, (và đạt đến) trạng thái Niết-bàn, vô vi.
484.
484.
484.
‘‘Parikkhīṇaṃ atītañca, paccuppannaṃ anāgataṃ;
Sabbakammampi no khīṇaṃ, pāde vandāma cakkhuma.
Past kamma is exhausted, present and future kamma are exhausted; all our kamma is exhausted. We venerate the feet of the One with Vision.
Quá khứ đã được tận trừ, hiện tại và vị lai (cũng vậy). Tất cả nghiệp của chúng con cũng đã được đoạn tận. Kính bạch bậc Pháp Nhãn, chúng con đảnh lễ đôi chân của Ngài.
485.
485.
485.
‘‘Nibbānāya vadantīnaṃ, kiṃ vo vakkhāma uttari;
Santasaṅkhatadosañhi, pappotha † amataṃ padaṃ’’.
To you who speak for the sake of Nibbāna, what more shall I say? Indeed, you shall attain the deathless state, which is peaceful and free from the fault of the conditioned.
(Đức Phật phán): 'Đối với các ngươi đang xin phép nhập Niết-bàn, Ta sẽ nói gì thêm nữa? Hãy đạt đến trạng thái bất tử, nơi lỗi lầm của các pháp hữu vi được lắng dịu.'
Itthaṃ sudaṃ yasodharāpamukhāni aṭṭhārasabhikkhunīsahassāni bhagavato sammukhā imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, it is said, the eighteen thousand bhikkhunīs, with Yasodharā as their chief, spoke these verses in the presence of the Blessed One.
Như vậy, nghe nói rằng mười tám ngàn vị Tỳ-khưu-ni, với ngài Yasodharā là vị đứng đầu, đã nói lên những câu kệ này trước sự hiện diện của đức Thế Tôn.
Yasodharāpamukhaaṭṭhārasabhikkhunīsahassāpadānaṃ dasamaṃ.
The Apadāna of the Eighteen Thousand Bhikkhunīs headed by Yasodharā, the Tenth.
Trưởng Lão Ni Kệ của Mười Tám Ngàn Vị Tỳ-khưu-ni với Yasodharā là vị đứng đầu, phẩm thứ mười.
The Kuṇḍalakesī Chapter, the Third.
Phẩm Kuṇḍalakesī thứ ba.
Tassuddānaṃ –
The summary:
Phần kệ tóm tắt:
Kuṇḍalā gotamī ceva, dhammadinnā ca sakulā;
Varanandā ca soṇā ca, kāpilānī yasodharā.
Kuṇḍalā and Gotamī, Dhammadinnā and Sakulā, Varanandā and Soṇā, Kāpilānī and Yasodharā.
Kuṇḍalā, và Gotamī, Dhammadinnā, và Sakulā, Varanandā, và Soṇā, Kāpilānī, Yasodharā.
Dasasahassabhikkhunī, aṭṭhārasasahassakā;
Gāthāsatāni cattāri, cha ca sattatimeva ca †.
There were ten thousand bhikkhunīs and eighteen thousand [others]; the verses are four hundred and seventy-six.
Mười ngàn vị tỳ-khưu-ni, mười tám ngàn vị khác; các kệ ngôn là bốn trăm bảy mươi sáu câu.