Bản dịch
THI -ap28 — Ký Sự về Yasodharā
Yasodharātherīapadāna
BJT 952Vào một thuở nọ, đấng Lãnh Đạo nhân loại đang ngự tại một sườn núi cao quý ở thành Rājagaha đáng yêu, trù phú.
BJT 953Khi đang cư ngụ tại trú xứ đáng yêu của các tỳ khưu ni ở trong thành phố ấy, đã có suy nghĩ như vầy khởi đến vị tỳ khưu ni Yasodharā rằng:
BJT 954“Nanda, Rāhula hiền thiện, và tương tợ y như thế (hai) vị tối thượng Thinh Văn, đại vương Suddhodana, và bà Pajāpatī Gotamī.
BJT 955Cùng các vị đại trưởng lão đã đạt thắng trí, và các trưởng lão ni có đại thần lực, các vị ấy đã ngự đến nơi an tịnh không còn lậu hoặc, như là tim của cây đèn hết nhiên liệu.
BJT 956Và luôn cả ta nữa cũng sẽ đi đến vị thế an toàn ngay trong khi đấng Lãnh Đạo Thế Gian còn hiện tiền.” Trong khi xem xét tuổi thọ của mình, vị ni đã suy nghĩ như thế.
BJT 957Sau khi xem xét thọ hành sẽ đi đến sự hoại diệt trong chính ngày hôm ấy, vị ni đã cầm lấy bình bát và y rồi đã rời khỏi chốn tịnh cư của mình.
BJT 958Vị ni có đại thần lực có đại trí tuệ ấy đã dẫn đầu một trăm ngàn vị tỳ khưu ni đi đến bậc Toàn Giác.
BJT 959Sau khi đảnh lễ bậc Toàn Giác, vị ni ấy đã ngồi xuống ở một bên và đã nói lời nói này với bậc Đạo Sư là vị có dấu hiệu bánh xe:
BJT 960“Bạch đấng Đại Hiền Trí, con đã bảy mươi tám tuổi. Giai đoạn cuối cùng của tuổi tác đang tiến đến. Con đã đạt đến ngay ở sườn dốc, con xin thưa rõ.
BJT 961Sự tiêu hoại của con đã chín muồi, mạng sống của con còn chút ít. Rời bỏ Ngài, con sẽ ra đi. Sự nương nhờ của bản thân đã được con thực hiện.
BJT 962Chính ở thời điểm cuối cùng, sự chết chận đứng tuổi thọ. Bạch đấng Đại Hùng, hôm nay vào ban đêm con sẽ thành tựu Niết Bàn.
BJT 963Bạch đấng Hiền Trí, (Niết Bàn) là nơi không có sự sanh, sự già, sự bệnh và sự chết. Bạch đấng Anh Hùng, nơi nào khi đã đi đến là không còn được nhìn thấy thì con đi đến nơi ấy.
BJT 964Bạch đấng Hiền Trí, cho đến nhóm người của bậc Đạo Sư ngồi chung ở nơi đây (nếu) nhận biết lỗi lầm (nào của tôi), xin quý vị hãy tha thứ ở trước mặt.
BJT 965Và sau khi đã xoay vần trong vòng luân hồi, nếu có điều sai trái của con đối với Ngài, bạch đấng Đại Hùng con xin thưa rõ, xin Ngài hãy tha thứ lỗi lầm cho con.”
BJT 966Sau khi lắng nghe lời nói của vị ni ấy, đấng Hiền Trí Vương đã nói điều này: “Ta sẽ nói điều gì hơn về nàng là người đang đi đến Niết Bàn?
BJT 967Và nàng cũng nên thị hiện thần thông cho các vị hành theo Giáo Pháp của Ta được thấy. Và hãy chặt đứt sự nghi ngờ về Giáo Pháp cho tất cả các chúng.”
BJT 968Sau khi lắng nghe lời nói của bậc Hiền Trí ấy, vị tỳ khưu ni Yasodharā ấy đã đảnh lễ đấng Hiền Trí Vương ấy và đã nói lời nói này:
BJT 969“Bạch đấng Anh Hùng, con là Yasodharā, ở tại gia là người vợ của Ngài. Được sanh ra trong gia tộc Sakya, con đã duy trì phận sự của người nữ.
BJT 970Bạch đấng Anh Hùng, trong số một trăm chín mươi sáu ngàn phụ nữ ở nhà của Ngài, con là người đứng đầu, là người chủ quản tất cả.
BJT 971Là người có được sắc đẹp, tánh tình, và đức hạnh, ở vào tuổi thanh xuân, có lời nói đáng yêu, tất cả chư Thiên cũng như loài người đều quý trọng con.
BJT 972Con đứng đầu một ngàn thiếu nữ ở trong cung của người con trai dòng Sakya. Các cô ấy cùng vui buồn giống nhau tợ như chư Thiên ở (vườn hoa) Nandana.
BJT 973Con đã vượt lên trên lãnh vực dục tình, được khẳng định về mặt thể hình, không có người tương đương về sắc đẹp ngoại trừ đấng Lãnh Đạo Thế Gian.”
BJT 974Sau khi đã nói như thế, v.v… Yasodharā, với sự cho phép của đức Phật, đã bay lên không trung và đã thị hiện vô số thần thông.
BJT 975(Yasodharā đã thị hiện) cơ thể tương đương với bầu vũ trụ, đầu là (đảo) Kuru ở về phía bắc, hai cánh là hai hòn đảo, thân mình là đảo Jambu.
BJT 976Và đuôi công là cái hồ ở phía nam nhưng các cánh chim là các cành lá khác nhau, mặt trăng và mặt trời là mắt, núi Meru là chóp đỉnh.
BJT 977Ngọn núi của bầu vũ trụ là mỏ chim. Trong lúc phe phẩy cây Jambu cùng với cội rễ (làm cây quạt), vị ni đã đi đến và đảnh lễ đấng Lãnh Đạo Thế Gian.
BJT 978Tương tợ y như thế, vị ni đã thị hiện hình dáng con voi, con ngựa, ngọn núi, và biển cả, rồi mặt trăng, mặt trời, núi Meru, và vóc dáng của vị trời Sakka.
BJT 979“Bạch đấng Anh Hùng, bạch đấng Hữu Nhãn, con là Yasodharā đảnh lễ ở bàn chân (Ngài). Con đã che khuất một ngàn thế giới bằng đóa sen nở rộ.”
BJT 980Và sau khi hóa hiện ra vóc dáng của đấng Brahma, vị ni đã thuyết giảng Giáo Pháp về không tánh. “Bạch đấng Anh Hùng, bạch đấng Hữu Nhãn, con là Yasodharā xin đảnh lễ ở bàn chân (Ngài).
BJT 981Bạch đấng Đại Hiền Trí, con đã có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, con đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
BJT 982Con biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 983Bạch đấng Đại Hùng, trí của con về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.
BJT 984Sự gặp gỡ đối với chư Phật là các đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã được Ngài nhìn thấy rõ. Bạch đấng Đại Hiền Trí, có nhiều hành động hướng thượng của con là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 985Bạch đấng Hiền Trí, xin Ngài nhớ lại thiện nghiệp trước đây của con. Bạch đấng Đại Hùng, phước báu đã được con tích lũy là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 986Bạch đấng Đại Hùng, sau khi đã tránh xa những nơi không thích hợp và đã ngăn trừ điều không giới hạnh, mạng sống đã được con hy sinh là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 987Bạch đấng Đại Hiền Trí, Ngài đã bố thí con nhằm mục đích làm vợ (kẻ khác) nhiều ngàn koṭi lần. Con không có bất bình về điều ấy là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 988Bạch đấng Đại Hiền Trí, Ngài đã bố thí con vì sự hỗ trợ (kẻ khác) nhiều ngàn koṭi lần. Con không có bất bình về điều ấy là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 989Bạch đấng Đại Hiền Trí, Ngài đã bố thí con nhằm mục đích vật thực (cho kẻ khác) nhiều ngàn koṭi lần. Con không có bất bình về điều ấy là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 990Con đã từ bỏ nhiều ngàn koṭi mạng sống. Con từ bỏ mạng sống của con (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ thực hiện sự giải thoát khỏi nỗi sợ hãi.’
BJT 991Bạch đấng Đại Hiền Trí, con không cất giấu các đồ trang sức được dùng cho cơ thể, nhiều vải vóc các loại, các vật dụng của phụ nữ là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 992Con đã dứt bỏ tài sản, lúa gạo, các làng, và các phố chợ. Bạch đấng Đại Hiền Trí, các ruộng vườn, những người con trai, và con gái là đã được dứt bỏ.
BJT 993Bạch đấng Đại Hùng, không thể đếm được những con voi, ngựa, trâu bò, luôn cả các nữ tỳ và tớ gái đã được dứt bỏ là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 994Về việc Ngài bảo con rằng: ‘Ta sẽ cho vật thí đến người hành khất,’ con không nhìn thấy sự bất bình của con trong khi Ngài bố thí vật thí tối thượng.
BJT 995Bạch đấng Đại Hùng và con đã trải qua nhiều khổ đau khác loại không thể đếm được, ở nhiều hình thức trong sự luân hồi là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 996Bạch đấng Đại Hiền Trí, đạt được sung sướng con không vui thích và không có tâm bực bội trong những khổ đau, con được quân bình trong mọi trường hợp là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 997Theo lộ trình mà bậc Toàn Giác (quá khứ) đã khẳng định về pháp (giải thoát), thì đấng Đại Hiền Trí đã đạt đến sự Giác Ngộ sau khi trải qua an lạc và khổ đau.
BJT 998Bạch đấng Phạm Thiên, bậc Toàn Giác, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Gotama, Ngài với con đã có nhiều lần gặp gỡ với các đấng Bảo Hộ Thế Gian khác.
BJT 999Bạch đấng Đại Hiền Trí, nhiều hành động hướng thượng của con là nhằm mục đích về Ngài. Con là nữ tỳ của Ngài trong lúc Ngài tầm cầu Phật Pháp.”
BJT 1000Vào thuở bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp, bậc Đại Anh Hùng, vị Lãnh Đạo Thế Gian Dīpaṅkara đã hiện khởi.
BJT 1001Sau khi đã thỉnh mời đức Như Lai, những người ở khu vực vùng biên địa làm sạch sẽ con đường đi đến của Ngài với tâm hoan hỷ.
BJT 1002Vào thời điểm ấy, người ấy đã là vị Bà-la-môn tên Sumedha, và đã sửa soạn con đường của đấng Toàn Tri đang đi đến.
BJT 1003Vào thời điểm ấy, con đã là người thiếu nữ xuất thân Bà-la-môn tên Sumittā. Con đã đi đến cuộc tụ hội.
BJT 1004Con đã cầm tám nắm hoa sen nhằm mục đích cúng dường đến bậc Đạo Sư. Con đã nhìn thấy vị ẩn sĩ được nổi bậc ở giữa đám người.
BJT 1005Sau khi nhìn thấy con người đang ngồi khoác áo vỏ cây vô cùng đáng yêu quyến rũ đang ngồi, khi ấy con đã nghĩ rằng: ‘Mạng sống của ta là có kết quả.’
BJT 1006Khi ấy, con đã nhìn thấy sự nỗ lực ấy của vị ẩn sĩ là có được kết quả. Do nghiệp quá khứ, tâm của con cũng đã tịnh tín vào đấng Toàn Giác.
BJT 1007Con đã có tâm tịnh tín hơn nữa đối với vị ẩn sĩ có tâm ý hướng thượng. (Con đã nói rằng): ‘Này vị ẩn sĩ, tôi không nhìn thấy vật nào khác nên được dâng cúng, tôi cho ông các đóa hoa.
BJT 1008Này vị ẩn sĩ, hãy là của ông năm nắm, hãy là của tôi ba nắm. Này vị ẩn sĩ, như thế sự thành tựu hãy là bằng nhau đối với mục đích giác ngộ của Ngài.’
Tụng phẩm thứ tư.
BJT 1009Sau khi cầm lấy các đóa hoa, vị ẩn sĩ ở giữa đám người đã cúng dường đến bậc Đại Ẩn Sĩ có danh tiếng vĩ đại đang đi đến nhằm mục đích giác ngộ.
BJT 1010Bậc Đại Hiền Trí Dīpaṅkara, đấng Đại Hùng đã nhìn thấy ở giữa đám người và đã chú nguyện cho vị ẩn sĩ có tâm ý hướng thượng rằng:
BJT 1011Lābhaṁ silokaṁ sakkāraṁ lokadhammasamāgamaṁ,
cittañca dukkhitaṁ natthi vasāmi akutobhayā.
BJT 1012‘Này vị đại ẩn sĩ, (người nữ này) sẽ có tâm tương đương, có nghiệp tương đương, có hành động tương đương, sẽ trở thành người vợ do nghiệp báu đối với mục đích của ngươi.’
BJT 1013(Người nữ này) có dáng nhìn xinh đẹp, vô cùng đáng yêu, vui vẻ, có lời nói đáng mến, sẽ trở thành người vợ yêu quý, người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy.
BJT 1014Cũng giống như các người chủ gìn giữ cái rương của cải, người nữ này sẽ hộ trì như thế ấy đối với các thiện pháp.
BJT 1015Trong khi thương tưởng đến ngươi đây, (người nữ này) sẽ làm tròn đủ các pháp toàn hảo, sẽ đạt được quả vị giác ngộ tương tợ như con sư tử phá vỡ cái chuồng.’
BJT 1016Ấy là điều đức Phật đã chú nguyện cho con trước đây vô lượng kiếp. Trong khi tùy hỷ lời nói ấy, con đã là người có hành động như vậy.
BJT 1017Tại nơi ấy, con đã có tâm tịnh tín đối với việc làm đã được thực hiện tốt đẹp ấy. Con đã sanh vào bản thể trời và người với số lần không thể đếm được.
BJT 1018Con đã trải qua lạc và khổ ở các cõi trời và ở loài người. Khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, con đã sanh ra trong gia tộc Sakya.
BJT 1019Con có sắc đẹp, có của cải, có danh vọng và giới hạnh tương tợ như thế. Con có sự thành tựu vẹn toàn thân thể, được vô cùng kính trọng về các điều lành.
BJT 1020Lợi lộc, danh vọng, cung kính, sự hội tụ của các pháp thế gian, và tâm bị khổ não là không có, con sống không sợ hãi.
BJT 1021Con đã nhàm chán các sự luân hồi và đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Sau khi xuất gia cùng với một ngàn người hầu cận, con không có gì.
BJT 1022Sau khi từ bỏ gia đình, con đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Khi chưa đạt đến nửa tháng, con đã đạt được bốn Sự Thật.
BJT 1023Nhiều người, không phải một, đem lại y phục, vật thực, thuốc men, và chỗ nằm ngồi tợ như các làn sóng của biển cả.
BJT 1024Các phiền não của con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), con sống không còn lậu hoặc.
BJT 1025Quả vậy, con đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 1026Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được con đắc chứng; con đã thực hành lời dạy của đức Phật.
BJT 1027Như vậy là có khổ đau đa dạng và thành công nhiều hình thức. Được đạt đến trạng thái thanh tịnh, con nhận lãnh mọi sự thành tựu.
BJT 1028Nàng ấy bố thí chính bản thân mình vì mục đích phước báu của vị đại ẩn sĩ. Họ có sự thành tựu về bạn hữu. Vị thế Niết Bàn là không còn tạo tác.
BJT 1029“Quá khứ, hiện tại, và vị lai đã được cạn kiệt, tất cả nghiệp của con đã được cạn kiệt. Bạch đấng Hữu Nhãn, con xin đảnh lễ ở bàn chân (Ngài).”
Tỳ khưu ni Yasodharā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Yasodharā là phần thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. Yasodharātherīapadānaṃ
8. The Apadāna of Yasodharā Therī
8. Trưởng Lão Ni Kệ Sự của ngài Yasodharā
314.
314.
314.
Ekasmiṃ samaye ramme, iddhe rājagahe pure;
Pabbhāramhi varekamhi, vasante naranāyake.
At one time, in the delightful and prosperous city of Rājagaha, while the leader of men was dwelling on a certain excellent mountain slope.
Vào một thời, khi bậc Lãnh Đạo loài người đang ngự tại thành Rājagaha khả ái, thịnh vượng, ở một sườn núi cao quý.
315.
315.
315.
Vasantiyā tamhi nagare, ramme bhikkhunupassaye;
Yasodharābhikkhuniyā, evaṃ āsi vitakkitaṃ.
While the bhikkhunī Yasodharā was residing in that delightful city, in the pleasant bhikkhunīs’ residence, this thought occurred to her.
Khi đang trú tại tu viện ni khả ái trong thành phố ấy, Tỳ-khưu-ni Yasodharā đã khởi lên suy nghĩ như sau:
316.
316.
316.
‘‘Suddhodano mahārājā, gotamī ca pajāpatī;
Abhiññātā mahātherā, theriyo ca mahiddhikā.
“King Suddhodana and Pajāpatī Gotamī, the renowned great male elders and the female elders of great psychic power,
‘Đại vương Suddhodana, và Gotamī Pajāpatī, các vị Đại Trưởng lão danh tiếng, và các vị Trưởng lão ni có đại thần lực.
317.
317.
317.
‘‘Santiṃ gatāva āsuṃ te, dīpaccīva nirāsavā;
Lokanāthe dharanteva, ahampi ca sivaṃ padaṃ.
they have gone to peace, free from taints, like the flame of a lamp. While the Lord of the World is still living, I too will reach the blissful state.”
‘Các vị ấy, những bậc vô lậu, đã đi đến nơi tịch tịnh, giống như ngọn lửa của cây đèn; trong khi bậc Lãnh Đạo Thế Gian còn tại thế, tôi cũng sẽ (đạt đến) trạng thái an lành.
318.
318.
318.
‘‘Gamissāmīti cintetvā, passantī āyumattano;
Passitvā āyusaṅkhāraṃ, tadaheva khayaṃ gataṃ.
Thinking, 'I will go,' she examined the extent of her life. Having seen her life-determination, she saw it would come to an end that very day.
‘Suy nghĩ rằng: ‘Ta sẽ ra đi,’ vị ấy xem xét mạng sống của mình; sau khi thấy được hành mạng sẽ kết thúc ngay trong ngày hôm ấy.
319.
319.
319.
‘‘Pattacīvaramādāya, nikkhamitvā sakassamā;
Purakkhatā bhikkhunībhi, satehi sahassehi sā †.
Taking bowl and robe, she left her own monastery, escorted by hundreds of thousands of bhikkhunīs.
Sau khi lấy y bát, vị ấy đã đi ra khỏi tu viện của mình; được vây quanh bởi một trăm ngàn vị Tỳ-khưu-ni.
320.
320.
320.
‘‘Mahiddhikā mahāpaññā, sambuddhaṃ upasaṅkami;
Sambuddhaṃ abhivādetvā, satthuno cakkalakkhaṇe;
Nisinnā ekamantamhi, idaṃ vacanamabravi.
Of great psychic power and great wisdom, she approached the Sambuddha. Having paid homage to the Sambuddha, at the Teacher’s wheel-marked feet, she sat to one side and spoke these words:
Vị có đại thần lực, có đại trí tuệ, đã đi đến yết kiến bậc Chánh Đẳng Giác. Sau khi đảnh lễ bậc Chánh Đẳng Giác, vị ấy ngồi xuống một bên, gần nơi bàn chân có dấu hiệu bánh xe của bậc Đạo Sư, và đã nói lên lời này.
321.
321.
321.
‘‘‘Aṭṭhasattativassāhaṃ, pacchimo vattate vayo †;
Pabbhāramhi anuppattā, ārocemi mahāmuni.
“I am seventy-eight years old; my final age is now occurring. Having reached the slope of life, O Great Sage, I announce this.
‘Con đã bảy mươi tám tuổi, đang ở vào tuổi cuối cùng; đã đạt đến giai đoạn lưng còng, con xin trình lên bậc Đại-muni.
322.
322.
322.
‘‘‘Paripakko vayo mayhaṃ, parittaṃ mama jīvitaṃ;
Pahāya vo gamissāmi, kataṃ me saraṇamattano.
My age is ripe, my life is short. I shall depart, abandoning you. I have made a refuge for myself.
‘Tuổi của con đã chín muồi, mạng sống của con còn lại ít ỏi; con sẽ ra đi, từ bỏ các Ngài; con đã tự mình tạo nên nơi nương tựa.
323.
323.
323.
‘‘‘Vayamhi pacchime kāle, maraṇaṃ uparuddhati;
Ajjarattiṃ mahāvīra, pāpuṇissāmi nibbutiṃ.
In this final stage of life, death oppresses. Tonight, O Great Hero, I shall attain extinguishment.
‘Trong giai đoạn cuối của cuộc đời, cái chết đang áp bức; đêm nay, thưa bậc Đại Hùng, con sẽ đạt đến sự tịch tịnh.
324.
324.
324.
‘‘‘Natthi jāti jarā byādhi, maraṇañca mahāmune;
Ajarāmaraṇaṃ puraṃ, gamissāmi asaṅkhataṃ.
Where there is no birth, aging, sickness, and death, O Great Sage, to that unconditioned, ageless, and deathless city, I shall go.
‘Không có sanh, già, bệnh, và chết, thưa bậc Đại-muni; con sẽ đi đến thành trì bất lão, bất tử, vô vi.
325.
325.
325.
‘‘‘Yāvatā parisā nāma, samupāsanti satthuno;
Aparādhamajānantī †, khamantaṃ sammukhā mune.
Whatever assemblies attend upon the Teacher, may they forgive, in your presence, O Sage, any offense committed unknowingly.
‘Đối với tất cả hội chúng phụng sự bậc Đạo Sư, nếu con đã có lỗi lầm nào mà không hay biết, xin Ngài, bậc-Muni, hãy tha thứ cho con trước mặt Ngài.
326.
326.
326.
‘‘‘Saṃsaritvā ca saṃsāre, khalitañce mamaṃ tayi;
Ārocemi mahāvīra, aparādhaṃ khamassu me’.
Having wandered in saṃsāra, if there has been any fault of mine towards you, I declare it, O Great Hero. Forgive my offense.”
‘Sau khi đã luân hồi trong vòng sinh tử, nếu con có lỗi lầm nào đối với Ngài; con xin trình lên, thưa bậc Đại Hùng, xin Ngài hãy tha thứ lỗi lầm ấy cho con’.
327.
327.
327.
‘‘Sutvāna vacanaṃ tassā, munindo idamabravi;
‘Kimuttaraṃ te vakkhāmi, nibbānāya vajantiyā.
Having heard her words, the Lord of Sages said this: ‘What more shall I say to you, who are going to Nibbāna?’
Sau khi nghe lời của vị ấy, bậc Chúa Tể-Muni đã nói lên lời này: ‘Ta sẽ nói lời hồi đáp nào với con, người đang đi đến Niết-bàn.
328.
328.
328.
‘‘‘Iddhiñcāpi nidassehi, mama sāsanakārike;
Parisānañca sabbāsaṃ, kaṅkhaṃ chindassu yāvatā’.
‘Display your psychic power, you who follow my teaching, and cut off the doubt of all the assemblies.’
‘Này người thực hành giáo huấn của ta, hãy thị hiện thần thông; và hãy đoạn trừ sự nghi ngờ của tất cả các hội chúng’.
329.
329.
329.
‘‘Sutvā taṃ munino vācaṃ, bhikkhunī sā yasodharā;
Vanditvā munirājaṃ taṃ, idaṃ vacanamabravi.
Having heard the sage's words, the bhikkhunī Yasodharā, having paid homage to that king of sages, spoke these words:
Sau khi nghe lời nói ấy của bậc-Muni, vị Tỳ-khưu-ni Yasodharā ấy, sau khi đảnh lễ bậc Vua-Muni, đã nói lên lời này.
330.
330.
330.
‘‘‘Yasodharā ahaṃ vīra, agāre te pajāpati;
Sākiyamhi kule jātā, itthiaṅge patiṭṭhitā.
‘I am Yasodharā, O Hero, your consort in the palace. Born in the Sākyan clan, I was established in the noble qualities of womanhood.
‘Con là Yasodharā, thưa bậc Đại Hùng, là hiền thê của Ngài khi ở tại gia; sanh ra trong dòng dõi Sākiya, được an lập trong các tướng tốt của người phụ nữ.
331.
331.
331.
‘‘‘Thīnaṃ satasahassānaṃ, navutīnaṃ chaduttari;
Agāre te ahaṃ vīra, pāmokkhā sabbā issarā.
‘In your palace, O Hero, among one hundred thousand women and another five hundred and forty, I was the foremost, sovereign over them all.
‘Trong cung điện của Ngài, thưa bậc Đại Hùng, con là người đứng đầu và cai quản tất cả, trong số hàng trăm ngàn cung nữ.
332.
332.
332.
‘‘‘Rūpācāraguṇūpetā, yobbanaṭṭhā piyaṃvadā;
Sabbā maṃ apacāyanti, devatā viya mānusā.
‘Endowed with the qualities of beauty and conduct, youthful and sweet-spoken, all revered me, just as humans revere a goddess.
‘Tất cả các cung nữ, những người có đủ phẩm hạnh về sắc đẹp và tư cách, đang trong tuổi thanh xuân, nói lời ái ngữ, đã tôn kính con, giống như loài người tôn kính chư thiên.
333.
333.
333.
‘‘‘Kaññāsatasahassapamukhā, sakyaputtanivesane;
Samānasukhadukkhatā, devatā viya nandane.
‘As the chief of one hundred thousand maidens in the palace of the Sākyan prince, sharing with them equal happiness and sorrow, I rejoiced like the deities in the Nandana grove.
‘Là người đứng đầu của một trăm ngàn thiếu nữ, trong cung điện của hoàng tử dòng Sākya; con đã hoan hỷ với niềm vui và nỗi buồn như nhau, giống như chư thiên trong vườn Nandana.
334.
334.
334.
‘‘‘Kāmadhātumatikkamma †, saṇṭhitā rūpadhātuyā;
Rūpena sadisā natthi, ṭhapetvā lokanāyakaṃ.
‘Having surpassed the form of the sense-sphere realm, I am established in the form of the form-sphere realm. In form, there is no one similar, except for the Leader of the World.
‘Vượt qua cả Dục giới, con được an lập trong Sắc giới; về phương diện sắc đẹp, không có ai sánh bằng, ngoại trừ bậc Lãnh Đạo Thế Gian.
335.
335.
335.
‘‘‘Sambuddhaṃ abhivādetvā, iddhiṃ dassesi satthuno;
Nekā nānāvidhākārā, mahāiddhīpi dassayī †.
‘Having respectfully paid homage to the Fully Awakened One, I displayed to the Teacher many great psychic powers of various and diverse kinds.
Sau khi đảnh lễ bậc Chánh Đẳng Giác, vị ấy đã thị hiện thần thông cho bậc Đạo Sư; vị ấy đã phô diễn nhiều loại thần thông vĩ đại, với nhiều hình thức khác nhau.
336.
336.
336.
‘‘‘Cakkavāḷasamaṃ kāyaṃ, sīsaṃ uttarato kuru;
Ubho pakkhā duve dīpā, jambudīpaṃ sarīrato.
‘The body was as large as a world-system; the head, as large as the continent of Uttarakuru. Both wings were as the two continents, and the torso was as the continent of Jambudīpa.
‘Thân bằng với Chuyển Luân Vi, đầu bằng với châu Uttarakuru; hai cánh bằng với hai châu lục, thân mình bằng với châu Jambudīpa.
337.
337.
337.
‘‘‘Dakkhiṇañca saraṃ piñchaṃ, nānāsākhā tu pattakā;
Candañca sūriyañcakkhi, merupabbatato sikhaṃ.
‘The tail-plume was as the southern ocean, and the feathers were like various branches. The eyes were as the moon and the sun; the crest was as high as Mount Meru.
‘Đuôi là biển phương nam, và lông cánh như các cành cây khác nhau; mắt là mặt trăng và mặt trời, mào là núi Meru.
338.
338.
338.
‘‘‘Cakkavālagiriṃ tuṇḍaṃ, jamburukkhaṃ samūlakaṃ;
Bījamānā upāgantvā, vandantī lokanāyakaṃ.
‘The beak was as the world-encircling mountain range. Uprooting the Jambu tree with its roots and fanning with it, I approached and paid homage to the Leader of the World.
‘Mỏ là dãy núi Chuyển Luân Vi, nhổ cây Jambu lên cả gốc; vừa quạt vừa đi đến, vị ấy đảnh lễ bậc Lãnh Đạo Thế Gian.
339.
339.
339.
‘‘‘Hatthivaṇṇaṃ tathevassaṃ, pabbataṃ jaladhiṃ tathā;
Candimaṃ sūriyaṃ meruṃ, sakkavaṇṇañca dassayi.
‘I displayed the form of an elephant, and likewise a horse, a mountain, and the ocean; and also the moon, the sun, Meru, and the form of Sakka.
‘Vị ấy đã thị hiện hình tướng voi, cũng như ngựa, núi, và biển; mặt trăng, mặt trời, núi Meru, và cả hình tướng của Sakka.
340.
340.
340.
‘‘‘Yasodharā ahaṃ vīra, pāde vandāmi cakkhuma;
Sahassalokadhātūnaṃ, phullapadmena chādayi.
‘O Hero, O Possessor of the Five Eyes, I, Yasodharā, worship your feet. With a blooming lotus, I covered a thousand world-systems.
‘Con là Yasodharā, thưa bậc Đại Hùng, con đảnh lễ đôi chân Ngài, bậc có Thiên Nhãn; con đã che phủ một ngàn thế giới bằng một đóa sen nở.
341.
341.
341.
‘‘‘Brahmavaṇṇañca māpetvā, dhammaṃ desesi suññataṃ;
Yasodharā ahaṃ vīra, pāde vandāmi cakkhuma.
‘Having created the form of a Brahmā, I taught the Dhamma concerning emptiness. O Hero, O Possessor of the Five Eyes, I, Yasodharā, worship your feet.
‘Sau khi hóa hiện thành hình tướng Phạm thiên, con đã thuyết giảng về pháp tánh không; con là Yasodharā, thưa bậc Đại Hùng, con đảnh lễ đôi chân Ngài, bậc có Thiên Nhãn.
342.
342.
342.
‘‘‘Iddhīsu ca vasī homi, dibbāya sotadhātuyā;
Cetopariyañāṇassa, vasī homi mahāmuni.
‘I have mastery over psychic powers and the divine ear element. I have mastery over the knowledge of others' minds, O Great Sage.
‘Con đã thuần thục các thần thông, và thiên nhĩ giới; con đã thuần thục tha tâm thông, thưa bậc Đại-muni.
343.
343.
343.
‘‘‘Pubbenivāsaṃ jānāmi, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Sabbāsavaparikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
‘I know my past lives; my divine eye is purified. All my taints are destroyed; there is no more rebirth for me now.
‘Con biết được các kiếp quá khứ, thiên nhãn đã được thanh tịnh; tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, nay không còn tái sanh nữa.
344.
344.
344.
‘‘‘Atthadhammaniruttīsu, paṭibhāne tatheva ca;
Ñāṇaṃ mayhaṃ mahāvīra, uppannaṃ tava santike.
‘In meaning, doctrine, and language, and likewise in ready wit, this knowledge has arisen in me, O Great Hero, in your presence.
‘Về nghĩa, pháp, và ngữ, và cũng như về biện tài; thưa bậc Đại Hùng, trí tuệ của con đã khởi sanh nơi sự hiện diện của Ngài.
345.
345.
345.
‘‘‘Pubbānaṃ lokanāthānaṃ, saṅgamaṃ te nidassitaṃ †;
Adhikāraṃ bahuṃ mayhaṃ, tuyhatthāya mahāmune.
‘The meeting with the past Lords of the World was shown by you. My great aspiration, O Great Sage, was for your sake.
Hỡi bậc Đại Mune, vì lợi ích cho ngài, con đã có nhiều sự nguyện cầu; ngài đã chỉ dạy về sự hội ngộ với các đấng Lãnh Đạo Thế Gian trong quá khứ.
346.
346.
346.
‘‘‘Yaṃ mayhaṃ pūritaṃ kammaṃ, kusalaṃ sarase mune;
Tuyhatthāya mahāvīra, puññaṃ upacitaṃ mayā.
‘O Sage, may you remember the wholesome kamma that was fulfilled by me. O Great Hero, for your sake, merit was accumulated by me.
Hỡi bậc Mune, xin ngài hãy ghi nhớ nghiệp thiện lành mà con đã viên mãn. Hỡi bậc Đại Anh Hùng, vì lợi ích cho ngài, công đức đã được con tích lũy.
347.
347.
347.
‘‘‘Abhabbaṭṭhāne vajjetvā, vārayitvā anācaraṃ;
Tuyhatthāya mahāvīra, sañcattaṃ jīvitaṃ mayā.
‘Having avoided what is unfit and having restrained from misconduct, for your sake, O Great Hero, my life was relinquished by me.
Hỡi bậc Đại Anh Hùng, sau khi đã tránh xa các cảnh giới không thích hợp, sau khi đã ngăn ngừa việc làm không đúng đắn, vì lợi ích cho ngài, mạng sống đã được con từ bỏ.
348.
348.
348.
‘‘‘Nekakoṭisahassāni, bhariyatthāyadāsi maṃ;
Na tattha vimanā homi, tuyhatthāya mahāmuni.
‘For many thousands of koṭis of lifetimes, you gave me away for the sake of being a wife. In that, O Great Sage, I was not discontent, for it was for your sake.
Hỡi bậc Đại Mune, trong vô số ngàn vạn ức kiếp, ngài đã cho con đi vì mục đích làm vợ (cho người khác); trong việc ấy, con không hề có tâm thoái chuyển, (tất cả là) vì lợi ích cho ngài.
349.
349.
349.
‘‘‘Nekakoṭisahassāni, upakārāyadāsi maṃ;
Na tattha vimanā homi, tuyhatthāya mahāmuni.
‘For many thousands of koṭis of lifetimes, you gave me away for your benefit. In that, O Great Sage, I was not discontent, for it was for your sake.
Hỡi bậc Đại Mune, trong vô số ngàn vạn ức kiếp, ngài đã cho con đi vì mục đích giúp đỡ (cho người khác); trong việc ấy, con không hề có tâm thoái chuyển, (tất cả là) vì lợi ích cho ngài.
350.
350.
350.
‘‘‘Nekakoṭisahassāni, bhojanatthāyadāsi maṃ;
Na tattha vimanā homi, tuyhatthāya mahāmuni.
‘For many thousands of koṭis of lifetimes, you gave me away for the sake of food; in that, O Great Sage, I was not discontent, for it was for your sake.
Hỡi bậc Đại Mune, trong vô số ngàn vạn ức kiếp, ngài đã cho con đi vì mục đích làm thức ăn (cho chúng sanh); trong việc ấy, con không hề có tâm thoái chuyển, (tất cả là) vì lợi ích cho ngài.
351.
351.
351.
‘‘‘Nekakoṭisahassāni, jīvitāni pariccajiṃ;
Bhayamokkhaṃ karissanti, dadāmi mama jīvitaṃ.
‘For many thousands of koṭis of lifetimes, I have given up my lives. Bringing about freedom from fear, I give my life.
Trong vô số ngàn vạn ức kiếp, con đã từ bỏ các mạng sống. Con đã cho đi mạng sống của mình với ý nghĩ: ‘(Họ) sẽ được giải thoát khỏi sự sợ hãi.’
352.
352.
352.
‘‘‘Aṅgagate † alaṅkāre, vatthe nānāvidhe bahū;
Itthimaṇḍe na gūhāmi, tuyhatthāya mahāmuni.
‘Ornaments on my limbs, many various garments, and women's adornments, I do not conceal, O Great Sage, for your sake.
Hỡi bậc Đại Mune, vì lợi ích cho ngài, con không cất giấu các đồ trang sức trên thân thể, nhiều loại y phục khác nhau, và các đồ trang điểm của phụ nữ.
353.
353.
353.
‘‘‘Dhanadhaññapariccāgaṃ, gāmāni nigamāni ca;
Khettaṃ puttā ca dhītā ca, pariccattā mahāmuni.
‘The giving up of wealth and grain, villages and market towns, fields, sons, and daughters—these have been relinquished, O Great Sage.
Hỡi bậc Đại Mune, tài sản và lúa gạo đã được từ bỏ, các làng mạc, thị trấn, ruộng đất, các con trai và con gái cũng đã được từ bỏ.
354.
354.
354.
‘‘‘Hatthī assā gavā cāpi, dāsiyo paricārikā;
Tuyhatthāya mahāvīra, pariccattā asaṅkhiyā.
‘Elephants, horses, and cattle, as well as female slaves and attendants—for your sake, O Great Hero, they were relinquished, innumerable.
Hỡi bậc Đại Anh Hùng, vì lợi ích cho ngài, voi, ngựa, và cả bò, các nữ tỳ và người hầu gái đã được từ bỏ, nhiều không kể xiết.
355.
355.
355.
‘‘‘Yaṃ mayhaṃ paṭimantesi †, dānaṃ dassāmi yācake;
Vimanaṃ me na passāmi, dadato dānamuttamaṃ.
‘When you consulted me, saying, “I shall give a gift to supplicants,” I perceived no discontent in myself as you gave that supreme gift.
Khi ngài bàn với con rằng: ‘Ta sẽ bố thí cho những người cầu xin,’ con không thấy nơi con có tâm thoái chuyển, trong lúc ngài đang thực hiện sự bố thí tối thượng.
356.
356.
356.
‘‘‘Nānāvidhaṃ bahuṃ dukkhaṃ, saṃsāre ca bahubbidhe;
Tuyhatthāya mahāvīra, anubhuttaṃ asaṅkhiyaṃ.
‘For your sake, O Great Hero, I have innumerably experienced much varied suffering in the manifold saṃsāra.
Hỡi bậc Đại Anh Hùng, vì lợi ích cho ngài, nhiều nỗi khổ đau đa dạng trong vòng luân hồi muôn vẻ đã được trải qua, nhiều không kể xiết.
357.
357.
357.
‘‘‘Sukhappattānumodāmi, na ca dukkhesu dummanā;
Sabbattha tulitā homi, tuyhatthāya mahāmuni.
‘Having attained happiness, I rejoice; and I am not disheartened by sufferings. In all circumstances, I am balanced, O Great Sage, for your sake.
Hỡi bậc Đại Mune, khi đạt được an lạc, con tùy hỷ; và trong đau khổ, con không buồn rầu. Trong mọi hoàn cảnh, con đều giữ tâm quân bình, (tất cả là) vì lợi ích cho ngài.
358.
358.
358.
‘‘‘Anumaggena sambuddho, yaṃ dhammaṃ abhinīhari;
Anubhotvā sukhaṃ dukkhaṃ, patto bodhiṃ mahāmuni.
‘Through the appropriate path, the Sambuddha brought forth that Dhamma; having experienced happiness and suffering, the Great Sage has attained Awakening.
Hỡi bậc Đại Mune, bậc Chánh Đẳng Giác đã hướng đến Pháp nào bằng con đường tương ứng, sau khi đã trải qua an lạc và khổ đau, ngài đã đạt đến sự Giác Ngộ.
359.
359.
359.
‘‘‘Brahmadevañca sambuddhaṃ, gotamaṃ lokanāyakaṃ;
Aññesaṃ lokanāthānaṃ, saṅgamaṃ te bahuṃ mayā.
‘In the presence of the Sambuddha Brahmadeva, Gotama the World-Leader, and other Lords of the World, my meetings with you have been many.
(Trước đức Phật) Chánh Đẳng Giác Brahmadeva, và đức Gotama, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, và các đấng Lãnh Đạo Thế Gian khác, sự hội ngộ của ngài và con đã có rất nhiều lần.
360.
360.
360.
‘‘‘Adhikāraṃ bahuṃ mayhaṃ, tuyhatthāya mahāmuni;
Gavesato buddhadhamme, ahaṃ te paricārikā.
‘I have made great aspirations for your sake, O Great Sage. Of you, who were seeking the qualities of a Buddha, I am the attendant.
Hỡi bậc Đại Mune, vì lợi ích cho ngài, con đã có nhiều sự nguyện cầu. Con là người hầu cận của ngài, trong khi ngài đang tìm cầu các Phật pháp.
361.
361.
361.
‘‘‘Kappe ca satasahasse, caturo ca asaṅkhiye;
Dīpaṅkaro mahāvīro, uppajji lokanāyako.
‘Four incalculable and one hundred thousand aeons ago, Dīpaṅkara, the Great Hero, the leader of the world, arose.
Cách đây bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp, đức Phật Dīpaṅkara, bậc Đại Anh Hùng, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, đã xuất hiện.
362.
362.
362.
‘‘‘Paccantadesavisaye, nimantetvā tathāgataṃ;
Tassa āgamanaṃ maggaṃ, sodhenti tuṭṭhamānasā.
‘In a border region, having invited the Tathāgata, they, with joyful hearts, clear the path for his arrival.
Tại một vùng biên địa, sau khi đã thỉnh mời đức Như Lai, với tâm ý hoan hỷ, họ dọn dẹp con đường cho sự quang lâm của ngài.
363.
363.
363.
‘‘‘Tena kālena so āsi, sumedho nāma brāhmaṇo;
Maggañca paṭiyādesi, āyato † sabbadassino.
‘At that time, he was a brahmin named Sumedha; he prepared the path of the All-Seeing One who was coming.
Vào thời điểm ấy, ngài là một vị Bà-la-môn tên là Sumedha; và ngài đã chuẩn bị con đường cho đấng Toàn Giác đang quang lâm.
364.
364.
364.
‘‘‘Tena kālenahaṃ āsiṃ, kaññā brāhmaṇasambhavā;
Sumittānāma nāmena, upagacchiṃ samāgamaṃ.
‘At that time, I was a maiden born of a brahmin family, named Sumittā by name; I went to the assembly.
Vào thời điểm ấy, con là một thiếu nữ sinh trong dòng dõi Bà-la-môn, tên là Sumittā. Con đã đi đến nơi hội họp.
365.
365.
365.
‘‘‘Aṭṭha uppalahatthāni, pūjanatthāya satthuno;
Ādāya janasaṃmajjhe, addasaṃ isi muggataṃ.
‘For the purpose of honoring the Teacher, having taken eight water lilies, in the midst of the people I saw the exalted ascetic.
Vì mục đích cúng dường đến bậc Đạo Sư, sau khi đã cầm lấy tám đóa hoa sen, giữa đám đông dân chúng, con đã nhìn thấy vị ẩn sĩ nổi bật.
366.
366.
366.
‘‘‘Cirānugataṃ dayitaṃ †, atikkantaṃ manoharaṃ;
Disvā tadā amaññissaṃ, saphalaṃ jīvitaṃ mama.
‘Having seen him, long-followed, beloved, and exceedingly heart-stealing, at that time I thought, “My life is fruitful.”’
Khi nhìn thấy vị ấy, người thương mến đã được theo đuổi từ lâu, người vô cùng khả ái, lúc ấy con đã nghĩ rằng: ‘Sự sống của ta thật là kết quả.’
367.
367.
367.
‘‘‘Parakkamaṃ taṃ saphalaṃ, addasaṃ isino tadā;
Pubbakammena sambuddhe, cittañcāpi pasīdi me.
At that time, I saw the sage striving for his own benefit. Due to past wholesome kamma, my mind also gained faith in the Fully Enlightened One.
Lúc ấy, con đã nhìn thấy sự nỗ lực thành tựu của vị ẩn sĩ. Do nghiệp quá khứ, tâm của con cũng trở nên tịnh tín nơi đức Chánh Đẳng Giác.
368.
368.
368.
‘‘‘Bhiyyo cittaṃ pasādesiṃ, ise uggatamānase;
Deyyaṃ aññaṃ na passāmi, demi pupphāni te isi.
I made my mind exceedingly serene towards the sage with an uplifted mind. O sage, seeing no other gift to offer, I give these flowers to you.
Con đã làm cho tâm càng thêm tịnh tín nơi vị ẩn sĩ có tâm ý cao thượng. Hỡi vị ẩn sĩ, con không thấy vật gì khác để dâng tặng, con xin cúng dường những đóa hoa này đến ngài.
369.
369.
369.
‘‘‘Pañcahatthā tava hontu, tayo hontu mamaṃ ise;
Tena saddhiṃ samā hontu, bodhatthāya tavaṃ ise’.
‘O sage, may five handfuls be for you, and may three be for me. O sage, for the sake of your enlightenment, may I be in union with you.’
Hỡi vị ẩn sĩ, xin năm đóa hoa này hãy là của ngài, và ba đóa hoa hãy là của con. Hỡi vị ẩn sĩ, vì sự Giác Ngộ của ngài, nguyện cho con được tương đồng cùng với ngài.
Catutthaṃ bhāṇavāraṃ.
The Fourth Recitation Section.
Phẩm Tụng Thứ Tư.
370.
370.
370.
‘‘Isi gahetvā pupphāni, āgacchantaṃ mahāyasaṃ;
Pūjesi janasaṃmajjhe, bodhatthāya mahāisi.
The great sage, having taken the flowers, honored the one of great fame who was approaching in the midst of the people, for the sake of enlightenment.
Vị đại ẩn sĩ, vì mục đích Giác Ngộ, sau khi đã nhận lấy những đóa hoa, đã cúng dường đến đấng Đại Danh Vọng đang quang lâm, ở giữa đám đông dân chúng.
371.
371.
371.
‘‘Passitvā janasaṃmajjhe, dīpaṅkaro mahāmuni;
Viyākāsi mahāvīro, isi muggatamānasaṃ.
Having seen the sage with an uplifted mind in the midst of the people, Dīpaṅkara, the Great Sage, the Great Hero, made this prediction:
Đức Dīpaṅkara, bậc Đại Mune, bậc Đại Anh Hùng, sau khi nhìn thấy vị ẩn sĩ có tâm ý cao thượng ở giữa đám đông dân chúng, đã thọ ký.
372.
372.
372.
‘‘Aparimeyye ito kappe, dīpaṅkaro mahāmuni;
Mama kammaṃ viyākāsi, ujubhāvaṃ mahāmuni.
Dīpaṅkara, the Great Sage, made a prediction concerning my upright deed: ‘In an incalculable aeon from this one, he will become a Great Sage.’
Hỡi bậc Đại Mune, đức Dīpaṅkara, bậc Đại Mune, đã thọ ký về hành động của con, về sự ngay thẳng của con, (rằng ngài sẽ thành Phật) trong một đại kiếp không thể đo lường kể từ đây.
373.
373.
373.
‘‘‘Samacittā samakammā, samakārī bhavissati;
Piyā hessati kammena, tuyhatthāya mahāisi †.
‘Of equal mind, of equal kamma, and acting in concert she will be. For your benefit, O great sage, she will be dear to you through her actions.
(Và ngài đã thọ ký cho con rằng:) ‘Nàng sẽ có cùng tâm ý, cùng hành động, sẽ là người cùng thực hiện. Nàng sẽ được yêu mến bởi hành động của mình, vì lợi ích cho ngài, hỡi vị đại ẩn sĩ.’
374.
374.
374.
‘‘‘Sudassanā supiyā ca, manāpā piyavādinī;
Tassa dhammesu dāyādā, viharissati iddhikā.
‘Fair to see, very dear, pleasing to the heart, and speaking pleasant words, she will dwell as an heir to his Dhamma, endowed with spiritual power.
‘Nàng có dung sắc xinh đẹp, rất đáng yêu mến, khả ái, và nói lời ái ngữ; là người thừa tự trong các Pháp của Ngài, có đại thần lực, nàng sẽ an trú.
375.
375.
375.
‘‘‘Yathāpi bhaṇḍasāmuggaṃ, anurakkhati sāmino;
Evaṃ kusaladhammānaṃ, anurakkhissate ayaṃ.
‘Just as one guards a master’s treasure chest, so too will this one guard the wholesome qualities.
‘Ví như người vợ gìn giữ hộp đựng tài sản của chồng; cũng vậy, người thiếu nữ này sẽ gìn giữ các thiện pháp.
376.
376.
376.
‘‘‘Tassa te † anukampantī, pūrayissati pāramī;
Sīhova pañjaraṃ bhetvā †, pāpuṇissati bodhiyaṃ’.
‘Having compassion for you, she will fulfill the perfections; like a lion breaking its cage, she will attain the enlightenment of a disciple.’
‘Với lòng thương tưởng đến ngươi, nàng sẽ làm viên mãn các pháp ba-la-mật; giống như sư tử phá lồng, nàng sẽ đạt đến sự giác ngộ’.
377.
377.
377.
‘‘Aparimeyye ito kappe, yaṃ maṃ buddho viyākarī;
Taṃ vācaṃ anumodentī, evaṃkārī bhaviṃ ahaṃ.
Rejoicing in that word the Buddha predicted for me in an incalculable aeon from this one, I became one who acted in that very way.
Vào vô số kiếp không thể đếm được kể từ đây, đức Phật đã thọ ký cho tôi điều gì; tôi đã hoan hỷ với lời nói ấy, và đã trở thành người thực hành như vậy.
378.
378.
378.
‘‘Tassa kammassa sukatassa, tattha cittaṃ pasādayiṃ;
Devamanussakaṃ yoniṃ, anubhotvā asaṅkhiyaṃ.
By the power of that well-done deed, I gained faith in him there. For an innumerable time, having experienced existences among devas and humans,
Tôi đã làm cho tâm tịnh tín nơi Ngài; do năng lực của nghiệp thiện ấy, sau khi đã hưởng thụ vô số lần tái sanh trong cảnh giới trời và người.
379.
379.
379.
‘‘Sukhadukkhenubhotvāhaṃ, devesu mānusesu ca;
Pacchime bhave sampatte, ajāyiṃ sākiye kule.
Having experienced pleasure and pain among devas and humans, upon reaching my final existence, I was born in the Sakyan clan.
Sau khi đã hưởng thụ lạc và khổ trong cõi trời và cõi người, khi đã đạt đến kiếp sống cuối cùng, tôi đã sanh ra trong dòng dõi Sākya.
380.
380.
380.
‘‘Rūpavatī bhogavatī, yasasīlavatī tato;
Sabbaṅgasampadā homi, kulesu abhisakkatā.
I was beautiful, wealthy, famous, and virtuous; endowed with perfection in all my limbs, I was highly honored among the clans.
Tôi có sắc đẹp, có tài sản, có danh tiếng và giới hạnh; tôi có đầy đủ tất cả các chi phần của cơ thể, và được các gia tộc hết mực tôn kính.
381.
381.
381.
‘‘Lābhaṃ silokaṃ sakkāraṃ, lokadhammasamāgamaṃ;
Cittañca dukkhitaṃ natthi, vasāmi akutobhayā.
I receive gain, fame, and honor. Even when encountering these worldly conditions, my mind is not afflicted with sorrow; I dwell free from any fear.
Tôi nhận được lợi lộc, danh tiếng, và sự cúng dường; dù gặp phải các pháp thế gian, tâm tôi không bị đau khổ, tôi sống không sợ hãi từ bất cứ đâu.
382.
382.
382.
‘‘Vuttañhetaṃ bhagavatā, rañño antepure tadā;
Khattiyānaṃ pure vīra, upakārañca niddisi.
Indeed, this was spoken by the Blessed One at that time in the king's inner palace. O Hero, in the city of the Khattiyas, he also pointed out the great help.
Điều này đã được đức Thế Tôn nói ra, khi ấy ở trong cung điện của nhà vua; hỡi bậc Anh Hùng, trong thành của dòng Sát-đế-lỵ, Ngài cũng đã chỉ ra những sự giúp đỡ.
383.
383.
383.
‘‘Upakārā ca yā nārī, yā ca nārī sukhe dukhe;
Atthakkhāyī ca yā nārī, yā ca nārīnukampikā.
The woman who is helpful, the woman who is there in happiness and sorrow, the woman who speaks of what is beneficial, and the woman who is compassionate.
Người phụ nữ nào hay giúp đỡ, người phụ nữ nào đồng hành trong vui và khổ; người phụ nữ nào thường nói điều lợi ích, và người phụ nữ nào có lòng thương tưởng.
384.
384.
384.
‘‘Pañcakoṭisatā buddhā, navakoṭisatāni ca;
Etesaṃ devadevānaṃ, mahādānaṃ pavattayiṃ.
There were five hundred crores of Buddhas, and nine hundred crores. To these devas of devas, I made a great offering.
Năm trăm ức chư Phật, và chín trăm ức vị khác; đối với các vị Thiên Trung Thiên ấy, tôi đã thực hiện đại thí.
385.
385.
385.
‘‘Adhikāraṃ mahā † mayhaṃ, dhammarāja suṇohi me;
Ekādasakoṭisatā, buddhā dvādasa koṭiyo †.
O King of Dhamma, listen to my great aspiration. There were eleven hundred crores of Buddhas, and twelve crores.
Sự phát nguyện của tôi thật vĩ đại, hỡi Pháp Vương, xin hãy lắng nghe tôi; một ngàn một trăm ức chư Phật, và mười hai ức vị khác.
386.
386.
386.
‘‘Etesaṃ devadevānaṃ, mahādānaṃ pavattayiṃ;
Adhikāraṃ mahā mayhaṃ, dhammarāja suṇohi me.
To these devas of devas, I made a great offering. O King of Dhamma, listen to my great aspiration.
Đối với các vị Thiên Trung Thiên ấy, tôi đã thực hiện đại thí; sự phát nguyện của tôi thật vĩ đại, hỡi Pháp Vương, xin hãy lắng nghe tôi.
387.
387.
387.
‘‘‘Vīsakoṭisatā buddhā, tiṃsakoṭisatāni ca;
Etesaṃ devadevānaṃ, mahādānaṃ pavattayiṃ.
There were two thousand crores of Buddhas, and three thousand crores. To these devas of devas, I made a great offering.
‘Hai ngàn ức chư Phật, và ba ngàn ức vị khác; đối với các vị Thiên Trung Thiên ấy, tôi đã thực hiện đại thí.
388.
388.
388.
‘‘‘Adhikāraṃ mahā mayhaṃ, dhammarāja suṇohi me;
Cattālīsakoṭisatā, paññāsa koṭisatāni ca.
O King of Dhamma, listen to my great aspiration. There were four thousand crores, and five thousand crores.
‘Sự phát nguyện của tôi thật vĩ đại, hỡi Pháp Vương, xin hãy lắng nghe tôi; bốn ngàn ức chư Phật, và năm ngàn ức vị khác.
389.
389.
389.
‘‘‘Etesaṃ devadevānaṃ, mahādānaṃ pavattayiṃ;
Adhikāraṃ mahā mayhaṃ, dhammarāja suṇohi me.
To these devas of devas, I made a great offering. O King of Dhamma, listen to my great aspiration.
‘Đối với các vị Thiên Trung Thiên ấy, tôi đã thực hiện đại thí; sự phát nguyện của tôi thật vĩ đại, hỡi Pháp Vương, xin hãy lắng nghe tôi.
390.
390.
390.
‘‘‘Saṭṭhikoṭisatā buddhā, sattatikoṭisatāni ca;
Etesaṃ devadevānaṃ, mahādānaṃ pavattayiṃ.
There were six thousand crores of Buddhas, and seven thousand crores. To these devas of devas, I made a great offering.
‘Sáu ngàn ức chư Phật, và bảy ngàn ức vị khác; đối với các vị Thiên Trung Thiên ấy, tôi đã thực hiện đại thí.
391.
391.
391.
‘‘‘Adhikāraṃ mahā mayhaṃ, dhammarāja suṇohi me;
Asītikoṭisatā buddhā, navutikoṭisatāni ca.
O King of Dhamma, listen to my great aspiration. There were eight thousand crores of Buddhas, and nine thousand crores.
‘Sự phát nguyện của tôi thật vĩ đại, hỡi Pháp Vương, xin hãy lắng nghe tôi; tám ngàn ức chư Phật, và chín ngàn ức vị khác.
392.
392.
392.
‘‘‘Etesaṃ devadevānaṃ, mahādānaṃ pavattayiṃ;
Adhikāraṃ mahā mayhaṃ, dhammarāja suṇohi me.
To these devas of devas, I made a great offering. O King of Dhamma, listen to my great aspiration.
‘Đối với các vị Thiên Trung Thiên ấy, tôi đã thực hiện đại thí; sự phát nguyện của tôi thật vĩ đại, hỡi Pháp Vương, xin hãy lắng nghe tôi.
393.
393.
393.
‘‘‘Koṭisatasahassāni, honti lokagganāyakā;
Etesaṃ devadevānaṃ, mahādānaṃ pavattayiṃ.
There were one hundred thousand crores of foremost leaders of the world. To these devas of devas, I made a great offering.
‘Một trăm ngàn ức vị Lãnh Đạo Tối Thượng của thế gian đã có; đối với các vị Thiên Trung Thiên ấy, tôi đã thực hiện đại thí.
394.
394.
394.
‘‘‘Adhikāraṃ mahā mayhaṃ, dhammarāja suṇohi me;
Navakoṭisahassāni, apare lokanāyakā.
O King of Dhamma, listen to my great aspiration. There were ninety thousand crores of other leaders of the world.
‘Sự phát nguyện của tôi thật vĩ đại, hỡi Pháp Vương, xin hãy lắng nghe tôi; chín ngàn ức vị Lãnh Đạo thế gian khác đã có.
395.
395.
395.
‘‘‘Etesaṃ devadevānaṃ, mahādānaṃ pavattayiṃ;
Adhikāraṃ mahā mayhaṃ, dhammarāja suṇohi me.
To these devas of devas, I made a great offering. O King of Dhamma, listen to my great aspiration.
‘Đối với các vị Thiên Trung Thiên ấy, tôi đã thực hiện đại thí; sự phát nguyện của tôi thật vĩ đại, hỡi Pháp Vương, xin hãy lắng nghe tôi.
396.
396.
396.
‘‘‘Koṭisatasahassāni, pañcāsītimahesinaṃ;
Pañcāsītikoṭisatā, sattatiṃsā ca koṭiyo.
There were one hundred thousand crores, eighty-five great sages, eighty-five hundred crores, and thirty-seven crores.
‘Một trăm ngàn ức vị, tám mươi lăm vị Đại Sĩ; tám ngàn năm trăm ức vị, và ba mươi bảy ức vị khác.
397.
397.
397.
‘‘‘Etesaṃ devadevānaṃ, mahādānaṃ pavattayiṃ;
Adhikāraṃ mahā mayhaṃ, dhammarāja suṇohi me.
To these devas of devas, I made a great offering. O King of Dhamma, listen to my great aspiration.
‘Đối với các vị Thiên Trung Thiên ấy, tôi đã thực hiện đại thí; sự phát nguyện của tôi thật vĩ đại, hỡi Pháp Vương, xin hãy lắng nghe tôi.
398.
398.
398.
‘‘‘Paccekabuddhā vītarāgā †, aṭṭhaṭṭhamakakoṭiyo †;
Adhikāraṃ mahā mayhaṃ, dhammarāja suṇohi me.
There were sixty-four crores of Paccekabuddhas, free from passion. O King of Dhamma, listen to my great aspiration.
‘Sáu mươi bốn ức vị Phật Độc Giác, đã đoạn trừ tham ái; sự phát nguyện của tôi thật vĩ đại, hỡi Pháp Vương, xin hãy lắng nghe tôi.
399.
399.
399.
‘‘‘Khīṇāsavā vītamalā, asaṅkhiyā buddhasāvakā;
Adhikāraṃ mahā mayhaṃ, dhammarāja suṇohi me.
With taints exhausted, free from stains, innumerable are the disciples of the Buddha. O King of Dhamma, please listen to my great aspiration.
‘Vô số đệ tử của chư Phật, những vị đã tận trừ lậu hoặc, đã lìa cấu uế; sự phát nguyện của tôi thật vĩ đại, hỡi Pháp Vương, xin hãy lắng nghe tôi.
400.
400.
400.
‘‘‘Evaṃ dhamme suciṇṇānaṃ, sadā dhammassa cārinaṃ;
Dhammacārī sukhaṃ seti, asmiṃ loke paramhi ca.
For those who have practiced well in the Dhamma, always living in accordance with the Dhamma, the practitioner of Dhamma dwells happily in this world and in the next.
‘Như vậy, đối với những người đã thực hành tốt trong Pháp, những người luôn sống theo Pháp, người thực hành Pháp sống an lạc ở đời này và đời sau.
401.
401.
401.
‘‘‘Dhammaṃ care sucaritaṃ, na naṃ duccaritaṃ care;
Dhammacārī sukhaṃ seti, asmiṃ loke paramhi ca.
One should practice the Dhamma that is well-practiced; one should not practice it badly. The practitioner of Dhamma sleeps happily in this world and in the next.
‘Nên thực hành Pháp một cách tốt đẹp, không nên thực hành Pháp một cách xấu ác; người thực hành Pháp sống an lạc ở đời này và đời sau.
402.
402.
402.
‘‘‘Nibbinditvāna saṃsāre, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Sahassaparivārena, pabbajitvā akiñcanā.
Having become disenchanted with saṃsāra, I went forth into the homeless life. With a retinue of a thousand, having gone forth, we were without impediments.
‘Tôi đã nhàm chán trong vòng luân hồi, và đã xuất gia vào đời sống không nhà; sau khi xuất gia không còn vướng bận cùng với một ngàn tùy tùng.
403.
403.
403.
‘‘‘Agāraṃ vijahitvāna, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Aḍḍhamāse asampatte, catusaccamapāpuṇiṃ.
Having abandoned the home, I went forth into the homeless life. Before half a month had passed, I attained the Four Truths.
‘Sau khi từ bỏ nhà cửa, tôi đã xuất gia vào đời sống không nhà; trước khi nửa tháng trôi qua, tôi đã đạt đến Bốn Sự Thật.
404.
404.
404.
‘‘‘Cīvaraṃ piṇḍapātañca, paccayaṃ sayanāsanaṃ;
Upanenti bahū janā, sāgareyeva ūmiyo.
Robes, almsfood, requisites, and lodging—many people bring these, like waves in the ocean.
“Y phục, vật thực khất thực, dược phẩm, sàng tọa và trú xứ; nhiều người đã dâng cúng, (nhiều) như là các ngọn sóng ở biển cả.
405.
405.
405.
‘‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
My defilements are burned up... I dwell free from taints.
“‘Các phiền não của tôi đã được đốt cháy ... (vân vân) ... tôi trú ngụ không còn các lậu hoặc.
406.
406.
406.
‘‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming... The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“‘Sự đến của tôi quả là khéo đến ... (vân vân) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
407.
407.
407.
‘‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’.
The four analytical knowledges... The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“‘Bốn Tuệ Phân Tích ... (vân vân) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành’.
408.
408.
408.
‘‘Evaṃ bahuvidhaṃ dukkhaṃ, sampattī ca bahubbidhā;
Visuddhibhāvaṃ sampattā, labhāmi sabbasampadā.
Thus, having experienced suffering of many kinds and prosperity of many kinds, having reached the state of purity, I obtain all accomplishments.
“Như thế, (trải qua) nhiều loại khổ đau và nhiều loại thành công khác nhau, tôi đã đạt được trạng thái thanh tịnh, tôi đã thành tựu được tất cả các sự thành tựu.
409.
409.
409.
‘‘Yā dadāti sakattānaṃ, puññatthāya mahesino;
Sahāyasampadā honti, nibbānapadamasaṅkhataṃ.
She who gives of herself to the great sage for the sake of merit, for her there are the accomplishments of companionship; she attains the unconditioned state of Nibbāna.
“Vị nữ nhân nào dâng tặng bản thân mình vì phước thiện cho bậc Đại Ẩn Sĩ, vị ấy có được sự thành tựu về bạn đồng hành và (đạt đến) trạng thái Niết-bàn vô vi.
410.
410.
410.
‘‘Parikkhīṇaṃ atītañca, paccuppannaṃ anāgataṃ;
Sabbakammaṃ mamaṃ khīṇaṃ, pāde vandāmi cakkhuma’’.
My past kamma is exhausted, and so is the present and the future. All my kamma is destroyed. O One with Vision, I venerate your feet.
“(Nghiệp) quá khứ, hiện tại, và vị lai đã được đoạn tận. Tất cả nghiệp của tôi đã được tiêu trừ. Thưa bậc Thiên Nhãn, con xin đảnh lễ đôi chân của Ngài”.
Itthaṃ sudaṃ yasodharā bhikkhunī bhagavato sammukhā imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the bhikkhunī Yasodharā recited these verses in the presence of the Blessed One.
Như vậy, được biết rằng Tỳ-khưu-ni Yasodharā đã nói lên những câu kệ này ở trước sự hiện diện của đức Thế Tôn.
Yasodharātheriyāpadānaṃ aṭṭhamaṃ.
The Apadāna of Yasodharā Therī is the eighth.
Phần Thạnh đức của Trưởng lão ni Yasodharā, chương thứ tám.