Bản dịch
THI -ap27 — Ký Sự về Bhaddākāpilānī
Bhaddākāpilānītherīapadāna
BJT 882Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 883Khi ấy, ở tại Haṁsavatī có người triệu phú tên là Videha có rất nhiều châu báu. Tôi đã là vợ của người ấy.
BJT 884Có lần nọ, người ấy cùng nhóm tùy tùng đã đi đến đấng Mặt Trời của nhân loại và đã lắng nghe Giáo Pháp đưa đến sự diệt tận tất cả khổ đau của đức Phật.
BJT 885Đấng Lãnh Đạo đã ngợi khen vị Thinh Văn đứng đầu trong số các vị thuyết về sự giũ bỏ (pháp đầu-đà). Sau khi lắng nghe, chồng tôi đã dâng cúng vật thí đến đức Phật như thế ấy trong bảy ngày.
BJT 886Chồng tôi trong khi làm hội chúng vui vẻ đã quỳ xuống đê đầu ở bàn chân và đã ước nguyện vị thế ấy. Chính vào khi ấy, đấng Cao Quý của loài người –
BJT 887– vì lòng thương tưởng đến người triệu phú, đã nói những lời kệ này: “Này con trai, ngươi sẽ đạt được vị thế đã ước nguyện rồi ngươi hãy Niết Bàn.
BJT 888Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 889Ngươi sẽ trở thành nam Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Kassapa.”
BJT 890Nghe được điều ấy, chồng tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái chồng tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.
BJT 891Vị (Phật) ấy đã làm chói sáng Giáo Pháp, đã chế phục các ngoại đạo, đã hướng dẫn những ai đáng được hướng dẫn, rồi đã Niết Bàn cùng các vị Thinh Văn.
BJT 892Khi đấng Cao Cả của thế gian ấy đã Niết Bàn, nhằm mục đích cúng dường đến bậc Đạo Sư chồng tôi đã tập hợp các bạn bè quyến thuộc, rồi cùng với những người ấy đã cho xây dựng –
BJT 893– ngôi bảo tháp làm bằng châu báu cao bảy do-tuần, chói sáng như là trăm ánh hào quang, được tỏa rộng ra như là bông hoa sālā chúa.
BJT 894Tại nơi ấy, chồng tôi đã cho thực hiện bảy trăm ngàn chiếc đĩa nhỏ bằng chính bảy loại châu báu, chúng đang chói sáng như là ngọn lửa của cây sậy.
BJT 895Chồng tôi đã cho đổ đầy với dầu thơm rồi đã cho thắp sáng các ngọn đèn tại nơi ấy nhằm mục đích cúng dường đến bậc Đại Ẩn Sĩ, đấng Bi Mẫn của mọi sanh linh.
BJT 896Chồng tôi đã cho thực hiện bảy trăm ngàn chậu đầy đặn được chứa đầy với thuần các loại châu báu nhằm mục đích cúng dường đến bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 897Ở giữa của mỗi nhóm tám chậu là những vật giá trị như vàng được chất đống. Chúng sáng rực với màu sắc tợ như ánh mặt trời vào mùa thu.
BJT 898Chiếu sáng ở bốn cửa là các vòm cổng làm bằng châu báu. Chiếu sáng là những tấm ván xinh xắn làm bằng châu báu được dựng đứng.
BJT 899Chói sáng là các lẳng hoa khéo tạo ra được đặt vòng quanh. Chói sáng là các cờ xí bằng châu báu được dựng đứng.
BJT 900Và ngôi bảo tháp làm bằng ngọc quý này khéo được tô màu, khéo được thực hiện, sáng rực với màu sắc tợ như mặt trời vào lúc hoàng hôn.
BJT 901Ngôi bảo tháp có ba bệ thờ. Chồng tôi đã chất đầy một bệ với đá màu vàng, một bệ với đá màu đỏ, và một bệ với đá màu đen.
BJT 902Sau khi đã cho thực hiện việc cúng dường đáng yêu như thế ấy đến bậc Thuyết Giảng cao quý, chồng tôi đã dâng cúng vật thí đến Hội Chúng tùy theo năng lực cho đến hết cuộc đời.
BJT 903Sau khi đã cùng với người triệu phú ấy thực hiện toàn bộ những việc phước báu ấy cho đến hết cuộc đời, tôi đã đi đến nhàn cảnh cùng với chính người ấy.
BJT 904Sau khi đã thọ hưởng sự thành công ở bản thể chư Thiên rồi nhân loại, tôi đã luân hồi cùng với chính người ấy như là hình bóng với xác thân vậy.
BJT 905Trước đây chín mươi mốt kiếp, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī, vị có ánh mắt thu hút, bậc thấy rõ tất cả các pháp đã hiện khởi
BJT 906Khi ấy ở tại Bandhumatī, người này là vị Bà-la-môn được công nhận là tốt lành, dồi dào về việc thâu đạt kiến thức, và đã bị lâm vào cảnh vô cùng khó khăn về tài sản.
BJT 907Cũng vào khi ấy, với tâm ý tương đồng tôi đã là nữ Bà-la-môn (vợ) của người ấy. Có lần, người Bà-la-môn cao quý ấy đã đi đến bậc Đại Hiền Trí.
BJT 908(Đức Phật) ngồi ở đám người đang thuyết giảng về vị thế Bất Tử. Sau khi nghe Pháp, được hoan hỷ người ấy đã dâng cúng một tấm vải choàng.
BJT 909Quay về lại nhà với một mảnh vải, người ấy đã nói với tôi điều này: “Nàng hãy tùy hỷ việc phước lớn lao; tấm vải choàng đã được dâng đến đức Phật.”
BJT 910Khi ấy, được hài lòng xiết bao tôi đã chắp tay lên nói lời tùy hỷ rằng: “Phu quân à, tấm vải choàng là đã khéo được dâng đến đức Phật tối thượng như thế ấy.”
BJT 911Được an vui, trở nên gắn bó, trong khi luân hồi cõi này cõi khác, người ấy đã trở thành đức vua, vị lãnh chúa ở thành phố Bārāṇasī đáng yêu.
BJT 912Khi ấy, tôi trở thành chánh hậu của người ấy, là tối cao trong đám nữ nhân. Tôi đã được cảm tình rất mực của người ấy do sự yêu mến trước đây của chồng.
BJT 913Sau khi nhìn thấy tám vị Lãnh Đạo Độc Giác đang đi quanh để khất thực, người ấy đã trở nên hoan hỷ và đã dâng vật thực vô cùng giá trị.
BJT 914Sau khi thỉnh mời lần nữa, người ấy đã thực hiện mái che bằng châu báu. Lọng che bằng vàng (rộng) trăm cánh tay đã được những người thợ rèn kiến thiết.
BJT 915Sau khi đã hướng dẫn tất cả các ngài ấy tiến vào các chỗ ngồi bằng vàng, được tịnh tín người ấy đã tự tay mình dâng cúng vật thí đến các ngài ấy.
BJT 916Khi ấy, tôi cũng đã dâng cúng vật thí ấy cùng với đức vua xứ Kāsi. Tôi đã được sanh ra ở Bārāṇasī lần nữa, tại ngôi làng nhỏ ngoại thành.
BJT 917(Sanh ra) ở trong gia đình giàu có thịnh vượng, người ấy được an lạc, có em trai. Tôi đã là người vợ vô cùng chung thủy của người anh cả.
BJT 918Sau khi nhìn thấy vị Phật Độc Giác, người em gái của chồng tôi đã dâng phần cơm đến vị ấy, và đã thuật lại khi chồng tôi đi đến.
BJT 919Chồng tôi không hoan hỷ với việc dâng cúng. Do đó, tôi đã lấy lại phần cơm ấy từ bình bát rồi đã trao cho chồng. Chồng tôi đã dâng cúng (phần cơm ấy) một lần nữa đến chính vị Phật ấy.
BJT 920Khi ấy, tôi đã quăng bỏ đi phần cơm ấy và đã độc ác đối với đức Phật. Tôi đã dâng bình bát ấy chứa đầy bùn đến vị Phật như thế ấy.
BJT 921Về vật cho cũng như việc nhận giống như là vật không trong sạch và đóa hoa sen, khi ấy tôi đã nhìn khuôn mặt có tâm bình thản và đã vô cùng chấn động.
BJT 922Sau khi nhận lại bình bát, tôi đã làm sạch bằng chất thơm, rồi với tâm tịnh tín, tôi đã chứa đầy với bơ lỏng và đã dâng lên một cách cung kính.
BJT 923Ở bất cứ nơi đâu tôi được sanh ra, tôi đều có sắc xinh đẹp do sự bố thí và có mùi hôi do lời nói và do thái độ không phải phép đối với đức Phật.
BJT 924Lần khác, khi ngôi bảo tháp của đấng Chiến Thắng Kassapa đang được hoàn tất, được hoan hỷ tôi đã dâng cúng phiến ngói cao quý bằng vàng.
BJT 925Tôi đã tẩm phiến ngói ấy bằng hương thơm sanh lên từ bốn nguồn. Tôi đã được thoát khỏi khuyết điểm về mùi hôi thối và đã được thành tựu tốt đẹp về toàn bộ các phần thân thể.
BJT 926(Chồng tôi) đã cho thực hiện bảy ngàn cái đĩa bằng chính bảy loại châu báu, được chứa đầy bơ lỏng và hàng ngàn tim đèn.
BJT 927Với tâm ý thanh tịnh, sau khi đã đặt (tim đèn) vào và thắp sáng, người ấy đã xếp thành bảy hàng nhằm mục đích cúng dường đến bậc Bảo Hộ Thế Gian.
BJT 928Khi ấy, tôi cũng có phần đóng góp đặc biệt trong việc phước thiện ấy. Người ấy đã được sanh ra ở xứ Kāsi lần nữa, được nổi danh là Sumitta.
BJT 929Tôi đã là vợ của người ấy, được an vui, được gắn bó, được yêu quý. Khi ấy, người ấy cũng đã dâng đến vị Hiền Trí Độc Giác tấm vải choàng bền chắc.
BJT 930Tôi đã hoan hỷ về việc bố thí tối thượng và cũng đã có phần trong việc ấy. Vị ấy cũng đã sanh ra lần nữa trong quốc độ Kāsi thuộc dòng dõi Koliya.
BJT 931Khi ấy, cùng với năm trăm người con trai dòng Koliya, người ấy đã hộ độ năm trăm vị Phật Độc Giác.
BJT 932Và sau khi đã làm hài lòng (chư Phật Độc Giác) trong ba tháng, người ấy đã dâng ba y. Khi ấy, đi theo lộ trình của nghiệp phước thiện tôi đã là vợ của người ấy.
BJT 933Từ nơi ấy chết đi, người ấy đã trở thành vị vua tên là Nanda có danh tiếng vĩ đại. Tôi cũng đã trở thành chánh hậu của người ấy, có sự thành tựu về tất cả các điều dục lạc.
BJT 934Và khi ấy, người ấy đã trở thành vị lãnh chúa Brahmadatta. Khi ấy, những người con trai của bà Padumavatī đã trở thành các bậc Hiền Trí Độc Giác.
BJT 935Người ấy đã hộ độ năm trăm vị không thiếu vị nào cho đến hết cuộc đời. Chư Phật Độc Giác đã cư ngụ tại vườn hoa của đức vua rồi đã Niết Bàn, và người ấy đã cúng dường.
BJT 936Và sau khi cho xây dựng các ngôi bảo tháp, cả hai chúng tôi đã xuất gia. Sau khi tu tập các vô lượng (tâm), chúng tôi đã đi đến cõi Phạm Thiên.
BJT 937Từ nơi ấy chết đi, người ấy đã khéo được sanh ra tại Mahātittha (tên) là Pipphalāyana Mẹ là Sumanadevī, cha là người Bà-la-môn dòng tộc Kosiya.
BJT 938Tôi đã là người con gái của vị Bà-la-môn Kapila, mẹ là Sucīmatī, ở tại kinh thành Sāgalā trong xứ sở Madda.
BJT 939Sau khi tạo ra tôi với hình tượng bằng vàng khối, người cha đã gã tôi cho bậc trí Kassapa là người đã kiêng cử các dục.
BJT 940Lần nọ, con người có lòng bi mẫn ấy đã đi xem xét công việc làm. Sau khi nhìn thấy các sinh vật bị những loài như là quạ, v.v… ăn thịt, người ấy đã bị động tâm.
BJT 941Và tôi ở nhà, sau khi nhìn thấy những cây mè mọc lên trong sự thiêu đốt của ánh nắng mặt trời và loài sâu bọ bị các con quạ ăn thịt, khi ấy tôi đã có sự động tâm.
BJT 942Lúc bấy giờ, con người trí tuệ ấy đã xuất gia. Tôi đã xuất gia theo vị ấy. Tôi đã sống theo hạnh du sĩ ngoại đạo trong năm năm.
BJT 943Đến khi bà Gotamī người nuôi dưỡng đấng Chiến Thắng đã được xuất gia, khi ấy tôi đã đi theo bà ấy và đã được chỉ dạy bởi đức Phật.
BJT 944Trong thời gian không bao lâu tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. Ôi, tính chất bạn hữu tốt lành đối với vị Kassapa vinh quang!
BJT 945Kassapa là con trai, là người thừa tự của đức Phật, khéo được định tĩnh, nhìn thấy được cõi trời và địa ngục, và là vị đã biết được đời sống trước đây.
BJT 946Rồi (vị ấy) đã đạt đến sự diệt tận của sự sanh, là vị hiền trí được hoàn hảo về thắng trí, với ba sự hiểu biết ấy trở thành vị Bà-la-môn có tam minh.
BJT 947Tương tợ như thế ấy, Bhaddā Kāpilānī là vị ni có tam minh, có sự dứt bỏ Tử Thần, mang thân mạng cuối cùng sau khi đã chiến thắng Ma Vương cùng với đạo quân binh.
BJT 948Sau khi nhìn thấy điều tai hại ở thế gian, cả hai chúng tôi đã xuất gia. Chúng tôi đây có các lậu hoặc đã cạn kiệt, đã được huấn luyện, đã có được trạng thái mát mẻ, đã được Niết Bàn.
BJT 949Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 950Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 951Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Bhaddākāpilānī đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Bhaddākāpilānī là phần thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Bhaddakāpilānītherīapadānaṃ
7. The Apadāna of Bhaddakāpilānī Therī
7. Phần Thạnh đức ký của Trưởng lão ni Bhaddākāpilānī
244.
244.
244.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū †;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
A hundred thousand aeons ago, the Conqueror named Padumuttara, gone beyond all phenomena, the Leader, arose.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, bậc Chiến Thắng tên là Padumuttara, bậc Lãnh Đạo, người đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp, đã xuất hiện.
245.
245.
245.
‘‘Tadāhu haṃsavatiyaṃ, videho nāma nāmato †;
Seṭṭhī pahūtaratano, tassa jāyā ahosahaṃ.
At that time, in Haṃsavatī, there was a treasurer named Videha, who had abundant treasures. I was his wife.
Khi ấy, ở thành phố Haṃsavatī, có vị trưởng giả tên là Videha, người có nhiều của cải. Tôi đã là vợ của vị ấy.
246.
246.
246.
‘‘Kadāci so narādiccaṃ, upecca saparijjano;
Dhammamassosi buddhassa, sabbadukkhabhayappahaṃ †.
Once, he, with his retinue, approached the Sun among Men and heard the Dhamma of the Buddha, which dispels all suffering and fear.
Có một lần, vị ấy cùng với đoàn tùy tùng đã đi đến yết kiến bậc Mặt Trời của nhân loại và đã nghe Pháp của đức Phật, là Pháp đoạn trừ mọi khổ đau và sợ hãi.
247.
247.
247.
‘‘Sāvakaṃ dhutavādānaṃ, aggaṃ kittesi nāyako;
Sutvā sattāhikaṃ dānaṃ, datvā buddhassa tādino.
The Leader praised a disciple as foremost among those who speak on the ascetic practices. Having heard this, and having given alms to the Buddha, the Steadfast One, for seven days,
Bậc Lãnh Đạo đã tán dương một vị đệ tử là bậc tối thượng trong số những vị thuyết về hạnh đầu-đà. Sau khi nghe vậy, tôi đã cúng dường đến đức Phật, bậc Tādī, trong suốt bảy ngày.
248.
248.
248.
‘‘Nipacca sirasā pāde, taṃ ṭhānamabhipatthayiṃ;
Sa hāsayanto parisaṃ, tadā hi narapuṅgavo.
Bowing with my head at his feet, I aspired to that position. Then that bull among men, making the assembly smile,
Sau khi cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài, tôi đã phát nguyện về địa vị ấy. Khi ấy, bậc Ngưu Vương giữa loài người, trong khi làm cho hội chúng hoan hỷ,
249.
249.
249.
‘‘Seṭṭhino anukampāya, imā gāthā abhāsatha;
‘Lacchase patthitaṃ ṭhānaṃ, nibbuto hohi puttaka.
Out of compassion for the treasurer, he spoke these verses: ‘You shall obtain the position you have aspired to; be at peace, my son.’
đã nói lên những lời kệ này vì lòng bi mẫn đối với vị trưởng giả: ‘Này người con, con sẽ đạt được địa vị đã được mong cầu. Hãy được an tịnh.’
250.
250.
250.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
“‘A hundred thousand aeons from this one, born in the Okkāka clan, a Teacher named Gotama by clan will appear in the world.
‘Cách đây một trăm ngàn kiếp, vị Đạo Sư sanh trong dòng dõi Okkāka, có tên tộc là Gotama, sẽ có mặt ở trên đời.’
251.
251.
251.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādo, oraso dhammanimmito;
Kassapo nāma gottena, hessati satthu sāvako’.
‘An heir in his Dhamma, a true son created by the Dhamma, Kassapa by name, will be a disciple of the Teacher.’
‘Vị ấy sẽ là người thừa tự trong các Pháp của vị Đạo Sư ấy, là người con ruột, được sanh ra từ Pháp, có tên tộc là Kassapa, sẽ là vị đệ tử của bậc Đạo Sư.’
252.
252.
252.
‘‘Taṃ sutvā mudito hutvā, yāvajīvaṃ tadā jinaṃ;
Mettacitto paricari, paccayehi vināyakaṃ.
Hearing that, becoming joyful, for as long as life lasted I then served the Conqueror, the Leader, with the requisites, my mind filled with loving-kindness.
Sau khi nghe điều ấy, tôi trở nên hoan hỷ và đã phục vụ bậc Chiến Thắng, bậc Lãnh Đạo, với tâm từ và với các vật dụng cho đến trọn đời.
253.
253.
253.
‘‘Sāsanaṃ jotayitvāna, so madditvā kutitthiye;
Veneyyaṃ vinayitvā ca, nibbuto so sasāvako.
He, having caused the Dispensation to shine, having crushed the contemptible heretics, and having trained those who could be trained, attained Parinibbāna together with his disciples.
Sau khi làm cho giáo pháp được tỏa sáng, sau khi nhiếp phục các người theo tà kiến, và sau khi giáo hóa chúng sanh cần được giáo hóa, vị ấy cùng với các đệ tử đã nhập Niết-bàn.
254.
254.
254.
‘‘Nibbute tamhi lokagge, pūjanatthāya satthuno;
Ñātimitte samānetvā, saha tehi akārayi.
When that Foremost in the World had attained Parinibbāna, for the purpose of honoring the Teacher, having gathered relatives and friends, together with them I caused to be made…
Khi bậc Tối Thắng trong thế gian ấy nhập Niết-bàn, nhằm mục đích cúng dường đến bậc Đạo Sư, tôi đã tập hợp quyến thuộc và bạn bè lại, rồi cùng với họ đã thực hiện việc xây cất.
255.
255.
255.
‘‘Sattayojanikaṃ thūpaṃ, ubbiddhaṃ ratanāmayaṃ;
Jalantaṃ sataraṃsiṃva, sālarājaṃva phullitaṃ.
…a stupa seven yojanas high, lofty, made of jewels, blazing like the hundred-rayed sun, like a sāla tree king in full bloom.
một bảo tháp cao bảy do-tuần, được làm bằng các loại ngọc báu, tỏa sáng như mặt trời, giống như cây sala chúa đang nở rộ hoa.
256.
256.
256.
‘‘Sattasatasahassāni, pātiyo † tattha kārayi;
Naḷaggī viya jotantī †, rataneheva sattahi.
There I caused seven hundred thousand bowls to be made from the seven kinds of jewels, shining like a reed fire.
Tại nơi ấy, tôi đã cho làm bảy trăm ngàn cái bát, chúng tỏa sáng như ngọn lửa trên cây sậy, chỉ bằng bảy loại ngọc báu.
257.
257.
257.
‘‘Gandhatelena pūretvā, dīpānujjalayī tahiṃ;
Pūjanatthāya † mahesissa, sabbabhūtānukampino.
Having filled them with fragrant oil, I lit the lamps there for the purpose of honoring the Great Sage, the one compassionate to all beings.
Sau khi đổ đầy dầu thơm, tôi đã thắp sáng các ngọn đèn ở nơi ấy, nhằm mục đích cúng dường đến bậc Đại Sĩ, người có lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sanh.
258.
258.
258.
‘‘Sattasatasahassāni, puṇṇakumbhāni kārayi;
Rataneheva puṇṇāni, pūjanatthāya mahesino.
I caused seven hundred thousand full pots to be made, filled with jewels, for the purpose of honoring the Great Sage.
Con đã cho làm bảy trăm ngàn bình nước đầy, chứa đầy châu báu, để cúng dường bậc Đại Sĩ.
259.
259.
259.
‘‘Majjhe aṭṭhaṭṭhakumbhīnaṃ, ussitā kañcanagghiyo;
Atirocanti vaṇṇena, saradeva divākaro.
In the middle of every eight pots, raised golden archways shone exceedingly in beauty, like the sun in autumn.
Ở giữa mỗi tám bình, những chiếc bình bằng vàng được dựng lên, tỏa sáng rực rỡ với màu sắc như mặt trời mùa thu.
260.
260.
260.
‘‘Catudvāresu sobhanti, toraṇā ratanāmayā;
Ussitā phalakā rammā, sobhanti ratanāmayā.
At the four gates, jeweled archways shone. Raised, delightful, jeweled door-leaves also shone.
Ở bốn cổng, những cổng chào bằng châu báu trông thật đẹp đẽ; những tấm ván bằng châu báu đáng vui thích được dựng lên cũng trông thật đẹp đẽ.
261.
261.
261.
‘‘Virocanti parikkhittā †, avaṭaṃsā sunimmitā;
Ussitāni paṭākāni, ratanāni virocare.
Surrounding them, well-made garlands shone. Raised jeweled banners also shone.
Những vòng hoa trang điểm được khéo làm, được bao quanh, tỏa sáng rực rỡ; những lá cờ phướn bằng châu báu được dựng lên cũng tỏa sáng rực rỡ.
262.
262.
262.
‘‘Surattaṃ sukataṃ cittaṃ, cetiyaṃ ratanāmayaṃ;
Atirocati vaṇṇena, sasañjhova † divākaro.
The deep red, well-made, variegated, jeweled shrine shone exceedingly in beauty, like the sun at twilight.
Bảo tháp bằng châu báu, màu đỏ đẹp, được làm khéo, lộng lẫy, tỏa sáng rực rỡ với màu sắc như mặt trời lúc hoàng hôn.
263.
263.
263.
‘‘Thūpassa vediyo tisso, haritālena pūrayi;
Ekaṃ manosilāyekaṃ, añjanena ca ekikaṃ.
I filled the three terraces of the stupa: one with yellow orpiment, one with realgar, and one with collyrium.
Ba lan can của bảo tháp, con đã lấp đầy một cái bằng hùng hoàng, một cái bằng thư hoàng, và một cái nữa bằng bột chì.
264.
264.
264.
‘‘Pūjaṃ etādisaṃ rammaṃ, kāretvā varavādino;
Adāsi dānaṃ saṅghassa, yāvajīvaṃ yathābalaṃ.
Having caused such a delightful offering to be made, I gave gifts to the Saṅgha of the one of excellent speech for as long as life lasted, according to my ability.
Sau khi cho làm sự cúng dường đáng vui thích như vậy, con đã dâng cúng đến Tăng chúng của bậc Thuyết Giảng Tối Thượng, suốt đời, tùy theo sức của mình.
265.
265.
265.
‘‘Sahāva seṭṭhinā tena, tāni puññāni sabbaso;
Yāvajīvaṃ karitvāna, sahāva sugatiṃ gatā.
Together with that merchant, having performed all those meritorious deeds for as long as life lasted, together we went to a happy destination.
Cùng với vị trưởng giả ấy, sau khi đã làm tất cả những công đức ấy suốt đời, chúng tôi đã cùng nhau đi đến cõi lành.
266.
266.
266.
‘‘Sampattiyonubhotvāna, devatte atha mānuse;
Chāyā viya sarīrena, saha teneva saṃsariṃ.
Having experienced prosperity in the divine state and then in the human state, I wandered through saṃsāra together with him, like a shadow with the body.
Sau khi đã hưởng thụ tài sản ở cõi trời và cõi người, con đã luân hồi cùng với vị ấy, như bóng với hình.
267.
267.
267.
‘‘Ekanavutito kappe, vipassī nāma nāyako;
Uppajji cārudassano, sabbadhammavipassako.
Ninety-one aeons from this one, the Leader named Vipassī arose, one of pleasing appearance, who had insight into all things.
Cách đây chín mươi mốt kiếp, bậc Đạo Sư tên là Vipassī, có tướng mạo khả ái, thấu suốt tất cả các pháp, đã xuất hiện.
268.
268.
268.
‘‘Tadāyaṃ bandhumatiyaṃ, brāhmaṇo sādhusammato;
Aḍḍho santo guṇenāpi †, dhanena ca suduggato.
At that time, in the city of Bandhumatī, he was a brahmin, esteemed as virtuous, rich and serene in qualities, but very poor in wealth.
Khi ấy, vị ấy ở tại thành Bandhumatī, là một vị Bà-la-môn được xem là người tốt, giàu có về đức hạnh nhưng lại rất nghèo khó về tài sản.
269.
269.
269.
‘‘Tadāpi tassāhaṃ āsiṃ, brāhmaṇī samacetasā;
Kadāci so dijavaro, saṅgamesi mahāmuniṃ.
At that time also, I was his brahmin wife, of harmonious mind. Once, that noble brahmin approached the Great Sage.
Khi ấy, con là người vợ Bà-la-môn có cùng tâm ý với vị ấy. Một hôm, vị Bà-la-môn ưu tú ấy đã đến gần bậc Đại Mâu-ni.
270.
270.
270.
‘‘Nisinnaṃ janakāyamhi, desentaṃ amataṃ padaṃ;
Sutvā dhammaṃ pamudito, adāsi ekasāṭakaṃ.
He was seated amidst an assembly of people, teaching the Deathless State. Having heard the Dhamma, overjoyed, he gave a single outer cloth.
(Ngài) đang ngồi giữa đám đông, thuyết giảng con đường bất tử. Sau khi nghe Pháp, ông vui mừng và đã cúng dường một tấm y.
271.
271.
271.
‘‘Gharamekena vatthena, gantvānetaṃ sa mabravi †;
‘Anumoda mahāpuññaṃ †, dinnaṃ buddhassa sāṭakaṃ’.
Having gone home with a single cloth, he said this to me: ‘Rejoice in this great merit! An outer cloth has been given to the Buddha.’
Sau khi đi về nhà chỉ với một tấm y, ông ấy đã nói lời này: ‘Này người có phước lớn, tấm y đã được cúng dường đến Đức Phật, nàng hãy tùy hỷ’.
272.
272.
272.
‘‘Tadāhaṃ añjaliṃ katvā, anumodiṃ supīṇitā †;
‘Sudinno sāṭako sāmi, buddhaseṭṭhassa tādino’.
Then, making the gesture of reverence, I rejoiced, being greatly pleased: ‘Well given is the outer cloth, my lord, to the noblest Buddha, the Steadfast One.’
Khi ấy, con chắp tay, vô cùng hoan hỷ và đã tùy hỷ: ‘Thưa phu quân, tấm y đã được khéo cúng dường đến bậc Phật Tối Thượng, bậc Tādī’.
273.
273.
273.
‘‘Sukhito sajjito hutvā, saṃsaranto bhavābhave;
Bārāṇasipure ramme, rājā āsi mahīpati.
Wandering through existence after existence, happy and adorned, he became a king, a lord of the earth, in the delightful city of Bārāṇasī.
Khi luân hồi trong các cõi, được an lạc và được trang điểm, vị ấy đã là một vị vua, người làm chủ đất đai, tại thành Bārāṇasī xinh đẹp.
274.
274.
274.
‘‘Tadā tassa mahesīhaṃ, itthigumbassa uttamā;
Tassāti dayitā † āsiṃ, pubbasnehena bhattuno †.
At that time, I was his chief queen, the foremost among the assembly of women. I was exceedingly dear to him, my husband, due to past affection.
Khi ấy, con là hoàng hậu của vị vua ấy, là người cao quý nhất trong đám cung nữ. Do tình thương từ kiếp trước của người chồng, con đã rất được vị ấy yêu quý.
275.
275.
275.
‘‘Piṇḍāya vicarante te †, aṭṭha paccekanāyake;
Disvā pamudito hutvā, datvā piṇḍaṃ mahārahaṃ.
Seeing those eight Pacceka Buddhas wandering for alms-food, he, being overjoyed, gave alms-food of great value.
Sau khi nhìn thấy tám vị Bích-chi Phật ấy đang đi khất thực, vị ấy trở nên vui mừng và đã cúng dường vật thực quý giá.
276.
276.
276.
‘‘Puno nimantayitvāna, katvā ratanamaṇḍapaṃ;
Kammārehi kataṃ pattaṃ †, sovaṇṇaṃ vata tattakaṃ.
Having invited them again, and having made a jeweled pavilion, he had golden bowls made by artisans, as many as there were Pacceka Buddhas.
Sau khi lại thỉnh mời các vị, làm một gian मंडप bằng châu báu, (vị ấy đã cho chuẩn bị) những chiếc bát bằng vàng, được làm bởi những người thợ, quả thật, có số lượng tương ứng (là tám chiếc).
277.
277.
277.
‘‘Samānetvāna te sabbe, tesaṃ dānamadāsi so;
Soṇṇāsane paviṭṭhānaṃ, pasanno sehi pāṇibhi.
Having brought all those bowls, he, with a serene mind, gave the gift with his own hands to them who had entered and were seated on golden seats.
Sau khi mang tất cả những chiếc bát ấy lại, vị vua ấy, với tâm hoan hỷ, đã cúng dường bằng chính đôi tay của mình cho các vị ấy, những người đã vào ngồi trên ghế vàng.
278.
278.
278.
‘‘Tampi dānaṃ sahādāsiṃ, kāsirājenahaṃ tadā;
Punāhaṃ bārāṇasiyaṃ, jātā kāsikagāmake.
At that time, I too gave that gift together with the king of Kāsi. Again, I was born in a village of Kāsi, in the region of Bārāṇasī.
Khi ấy, con cũng đã cúng dường vật thí ấy cùng với vua xứ Kāsi. Lần khác, con đã sanh ra tại làng Kāsi ở Bārāṇasī.
279.
279.
279.
‘‘Kuṭumbikakule phīte, sukhito so sabhātuko;
Jeṭṭhassa bhātuno jāyā, ahosiṃ supatibbatā.
In a prosperous householder's family, he was reborn and lived in comfort, together with his brother. I became the wife of the elder brother, a very devoted spouse.
Trong một gia đình gia chủ thịnh vượng, vị ấy (sanh ra) cùng với em trai, được an lạc. Con đã là người vợ hết lòng chung thủy của người anh cả.
280.
280.
280.
‘‘Paccekabuddhaṃ disvāna, kaniyassa mama bhattuno †;
Bhāgannaṃ tassa datvāna, āgate tamhi pāvadiṃ.
Having seen a Pacceka Buddha, I gave him the share of food belonging to my husband's younger brother. When that brother-in-law arrived, he scolded me.
Sau khi nhìn thấy một vị Bích-chi Phật, con đã cúng dường phần cơm của người em chồng cho vị ấy. Khi người em chồng đến, vị ấy đã mắng nhiếc con.
281.
281.
281.
‘‘Nābhinandittha so dānaṃ, tato tassa adāsahaṃ;
Ukhā † āniya taṃ annaṃ, puno tasseva so adā.
He did not rejoice in that gift. Then I, having brought that food from the pot, gave it to him. He, in turn, gave it to that very same Pacceka Buddha.
Vị ấy đã không hoan hỷ việc cúng dường. Do đó, con mang cơm từ nồi ra đưa cho vị ấy. Vị ấy lại đem cúng dường cho chính vị Bích-chi Phật ấy.
282.
282.
282.
‘‘Tadannaṃ chaḍḍayitvāna, duṭṭhā buddhassahaṃ tadā;
Pattaṃ kalalapuṇṇaṃ taṃ, adāsiṃ tassa tādino.
Having discarded that food, I then, with a corrupt mind towards the Pacceka Buddha, filled that bowl with mud and gave it to him, the Steadfast One.
Khi ấy, con sân hận với vị Bích-chi Phật, sau khi vứt bỏ cơm đó, con đã làm cho chiếc bát đầy bùn và cúng dường cho bậc Tādī ấy.
283.
283.
283.
‘‘Dāne ca gahaṇe ceva, apace padusepi ca;
Samacittamukhaṃ disvā, tadāhaṃ saṃvijiṃ bhusaṃ.
Seeing his even mind and countenance, both in giving and receiving, both towards one who reveres and one who harms, I was then greatly agitated.
Sau khi nhìn thấy vị Bích-chi Phật có tâm và nét mặt bình thản, cả khi cúng dường và khi thọ nhận, cả với người tôn kính và với người xúc phạm, khi ấy con đã vô cùng kinh hãi.
284.
284.
284.
‘‘Puno pattaṃ gahetvāna, sodhayitvā sugandhinā;
Pasannacittā pūretvā, saghataṃ sakkaraṃ adaṃ.
Again, taking the bowl, I cleaned it with fragrant water; with a devout mind, I filled it with sugar together with ghee and offered it.
Sau khi lại lấy chiếc bát, rửa sạch bằng nước thơm, với tâm trong sạch, con đã làm cho đầy đường và bơ sữa rồi cúng dường.
285.
285.
285.
‘‘Yattha yatthūpapajjāmi, surūpā homi dānato;
Buddhassa apakārena, duggandhā vadanena ca.
In whatever existence I am born, because of that gift, I am beautiful; but because of my offense against the Pacceka Buddha, my mouth has a foul smell.
Bất cứ nơi nào con tái sanh, do quả của việc cúng dường, con có dung sắc xinh đẹp; nhưng do việc xúc phạm đến vị Bích-chi Phật, miệng của con có mùi hôi.
286.
286.
286.
‘‘Puna kassapavīrassa, nidhāyantamhi cetiye;
Sovaṇṇaṃ iṭṭhakaṃ varaṃ, adāsiṃ muditā ahaṃ.
Again, when the cetiya of the heroic Kassapa was being established, I joyfully gave an excellent golden brick.
Lần khác, khi bảo tháp của Đức Phật Dũng Mãnh Kassapa đang được xây dựng, con đã vui mừng cúng dường một viên gạch bằng vàng quý giá.
287.
287.
287.
‘‘Catujjātena gandhena, nicayitvā tamiṭṭhakaṃ;
Muttā duggandhadosamhā, sabbaṅgasusamāgatā.
Having coated that brick with the four kinds of fragrances, I was freed from the fault of a foul smell and became endowed with all perfect limbs.
Sau khi bao phủ viên gạch đó với bốn loại hương thơm (và cúng dường), con đã thoát khỏi lỗi lầm có mùi hôi và có được đầy đủ các tướng tốt.
288.
288.
288.
‘‘Sattapātisahassāni, rataneheva sattahi;
Kāretvā ghatapūrāni, vaṭṭīni † ca sahassaso.
Having had seven thousand bowls made with the seven kinds of gems, and having had them filled with ghee, and also wicks by the thousand…
Bảy ngàn cái chén đã được cho làm bằng bảy loại báu vật, đã được cho làm đầy bơ lỏng, và cả ngàn tim đèn.
289.
289.
289.
‘‘Pakkhipitvā padīpetvā, ṭhapayiṃ sattapantiyo;
Pūjanatthaṃ lokanāthassa, vippasannena cetasā.
…having inserted the wicks and lit the lamps, I arranged seven rows for the purpose of venerating the Lord of the World with an especially devout mind.
Sau khi bỏ (tim đèn) vào và thắp sáng, tôi đã sắp đặt thành bảy hàng, với tâm ý vô cùng trong sạch để cúng dường đến bậc Lãnh Đạo Thế Gian.
290.
290.
290.
‘‘Tadāpi tamhi puññamhi, bhāginīyi visesato;
Puna kāsīsu sañjāto, sumittā iti vissuto.
At that time also, I was especially a sharer in that merit. Again, in the Kāsī country, he was well born, renowned as Sumitta.
Ngay cả khi ấy, tôi đã có phần đặc biệt trong phước thiện ấy. Lại nữa, (chồng tôi) đã sanh ra ở xứ Kāsi, nổi tiếng với tên gọi Sumitta.
291.
291.
291.
‘‘Tassāhaṃ bhariyā āsiṃ, sukhitā sajjitā piyā;
Tadā paccekamunino, adāsiṃ ghanaveṭhanaṃ.
I was his wife—happy, adorned, and beloved. At that time, he gave a thick head-wrapping to a Paccekabuddha.
Tôi đã là người vợ được sung sướng, được trang điểm, được yêu mến của vị ấy. Khi ấy, (vị ấy) đã cúng dường khăn vấn đầu dày đặc đến vị Phật Độc Giác.
292.
292.
292.
‘‘Tassāpi bhāginī āsiṃ, moditvā dānamuttamaṃ;
Punāpi kāsiraṭṭhamhi, jāto koliyajātiyā.
Rejoicing in his supreme gift, I was also a sharer. Again, in the Kāsī country, he was born into the Koliyan clan.
Do đã hoan hỷ với sự cúng dường cao thượng, tôi cũng đã có phần trong việc ấy. Lại nữa, (vị ấy) đã sanh ra trong dòng dõi Koliya ở xứ Kāsi.
293.
293.
293.
‘‘Tadā koliyaputtānaṃ, satehi saha pañcahi;
Pañcapaccekabuddhānaṃ, satāni samupaṭṭhahi.
At that time, together with five hundred Koliyan sons, he attended upon five hundred Paccekabuddhas.
Khi ấy, cùng với năm trăm vị con trai dòng Koliya, (họ) đã phục vụ chu đáo năm trăm vị Phật Độc Giác.
294.
294.
294.
‘‘Temāsaṃ tappayitvāna †, adāsi ca ticīvare †;
Jāyā tassa tadā āsiṃ, puññakammapathānugā.
Having satisfied them for the three months of the rains-retreat, they also gave the three robes. At that time, I was his wife, a follower on the path of meritorious deeds.
Sau khi làm cho các vị ấy hài lòng trong suốt ba tháng, (họ) cũng đã cúng dường ba y. Khi ấy, tôi đã là vợ của vị ấy, người đi theo con đường phước nghiệp.
295.
295.
295.
‘‘Tato cuto ahu rājā, nando nāma mahāyaso;
Tassāpi mahesī āsiṃ, sabbakāmasamiddhinī.
Having passed away from there, he became a king named Nanda, of great renown. I was also his chief queen, endowed with all sensual pleasures.
Sau khi mệnh chung từ đó, (vị ấy) đã trở thành vị vua tên là Nanda, có danh tiếng lớn. Tôi cũng đã là hoàng hậu của vị ấy, người được thành tựu tất cả các dục lạc.
296.
296.
296.
‘‘Tadā rājā bhavitvāna, brahmadatto mahīpati;
Padumavatīputtānaṃ, paccekamuninaṃ tadā.
At that time, he became King Brahmadatta, lord of the earth. Then, of the Paccekabuddhas who were the sons of Padumavatī,
Khi ấy, sau khi trở thành vị vua Brahmadatta, bậc chúa tể của đất đai, khi ấy đối với các vị Phật Độc Giác là những người con của (hoàng hậu) Padumavatī,
297.
297.
297.
‘‘Satāni pañcanūnāni, yāvajīvaṃ upaṭṭhahiṃ;
Rājuyyāne nivāsetvā, nibbutāni ca pūjayiṃ.
I attended upon four hundred and ninety-five for their entire lives, having had them reside in the royal park; and I also venerated those who had attained final extinguishment.
Năm trăm vị không thiếu, sau khi cho các vị ấy an trú trong vườn của nhà vua, tôi đã phục vụ trọn đời, và tôi đã cúng dường các vị đã tịch diệt.
298.
298.
298.
‘‘Cetiyāni ca kāretvā, pabbajitvā ubho mayaṃ;
Bhāvetvā appamaññāyo, brahmalokaṃ agamhase.
And having had cetiyas made, we both went forth. Having developed the immeasurables, we went to the Brahma world.
Và sau khi cho làm các bảo tháp, cả hai chúng tôi đã xuất gia; sau khi tu tập các Vô Lượng Tâm, chúng tôi đã đi đến cõi Phạm Thiên.
299.
299.
299.
‘‘Tato cuto mahātitthe, sujāto pipphalāyano;
Mātā sumanadevīti, kosigotto dijo pitā.
Having passed away from there, he was well born in Mahātittha as Pipphalāyana. His mother was named Sumanadevī, and his father was a brahmin of the Kosiga clan.
Sau khi mệnh chung từ đó, (vị ấy) đã được sanh tốt đẹp ở Mahātittha, là thanh niên Pipphalāyana. Mẹ tên là Sumanādevī, cha là vị Bà-la-môn thuộc dòng dõi Kosiya.
300.
300.
300.
‘‘Ahaṃ madde janapade, sākalāya puruttame;
Kappilassa dijassāsiṃ, dhītā mātā sucīmati.
I was in the Madda country, in the excellent city of Sākala. I was the daughter of the brahmin Kappila; my mother was named Sucīmatī.
Tôi đã là con gái của vị Bà-la-môn Kappila ở xứ Madda, tại thành phố Sākala cao quý; mẹ (tôi) tên là Sucīmatī.
301.
301.
301.
‘‘Ghanakañcanabimbena, nimminitvāna maṃ pitā;
Adā kassapadhīrassa, kāmehi vajjitassamaṃ.
My father, having fashioned a likeness of me from a solid gold image, gave me to the wise Kassapa, who was averse to sensual pleasures.
Cha tôi, sau khi cho làm một hình tượng bằng vàng khối (giống như) tôi, đã gả tôi cho Kassapa bậc hiền trí, người đã từ bỏ các dục lạc.
302.
302.
302.
‘‘Kadāci so kāruṇiko, gantvā kammantapekkhako;
Kākādikehi khajjante, pāṇe disvāna saṃviji.
Once, that compassionate one, having gone to inspect the work, seeing living beings being eaten by crows and the like, was deeply moved.
Có một khi, vị ấy, người có lòng bi mẫn, đã đi đến để xem xét công việc; sau khi nhìn thấy các sinh vật đang bị ăn bởi quạ và các loài khác, vị ấy đã cảm thấy chấn động.
303.
303.
303.
‘‘Gharevāhaṃ tile jāte, disvānātapatāpane;
Kimi kākehi khajjante, saṃvegamalabhiṃ tadā.
At home, seeing worms that had appeared in the sesame seeds drying in the sun being eaten by crows, I then gained a sense of spiritual urgency.
Còn tôi, ngay tại nhà, sau khi nhìn thấy những con sâu sanh ra trong hạt vừng đang được phơi nắng bị quạ ăn, khi ấy tôi đã có được sự chấn động.
304.
304.
304.
‘‘Tadā so pabbajī dhīro, ahaṃ tamanupabbajiṃ;
Pañcavassāni nivasiṃ, paribbājavate † ahaṃ.
Then that wise one went forth, and I went forth after him. For five years I lived following the wanderers’ practice.
Khi ấy, bậc hiền trí ấy đã xuất gia, tôi đã xuất gia theo vị ấy. Tôi đã sống trong hạnh của du sĩ trong năm năm.
305.
305.
305.
‘‘Yadā pabbajitā āsi, gotamī jinaposikā;
Tadāhaṃ tamupagantvā, buddhena anusāsitā.
When Gotamī, the foster-mother of the Conqueror, had gone forth, I approached her and was instructed by the Buddha.
Khi bà Gotamī, người nuôi dưỡng bậc Chiến Thắng, đã xuất gia, khi ấy tôi đã đi đến gần vị ấy, và đã được đức Phật giáo huấn.
306.
306.
306.
‘‘Na cireneva kālena, arahattamapāpuṇiṃ;
Aho kalyāṇamittattaṃ, kassapassa sirīmato.
Before long, I attained Arahantship. Oh, the good friendship of the glorious Kassapa!
Trong một thời gian không lâu, tôi đã chứng đắc A-la-hán. Ôi, thật là thiện hữu của Kassapa, bậc có phước đức!
307.
307.
307.
‘‘Suto buddhassa dāyādo, kassapo susamāhito;
Pubbenivāsaṃ yo vedi, saggāpāyañca passati.
Kassapa, the well-composed son and heir of the Buddha, knows his past abodes and sees heaven and the states of deprivation.
Kassapa, người con, người thừa tự của đức Phật, có định tâm vững chắc, vị ấy biết được các kiếp sống quá khứ, và nhìn thấy các cõi trời và cõi khổ.
308.
308.
308.
‘‘Atho jātikkhayaṃ patto, abhiññāvosito muni;
Etāhi tīhi vijjāhi, tevijjo hoti brāhmaṇo.
Furthermore, the sage has reached the destruction of birth and has perfected the higher knowledges. With these three knowledges, he is a brāhmaṇa possessing the threefold knowledge.
Hơn nữa, bậc mâu-ni đã hoàn thiện các thắng trí, đã đạt đến sự đoạn tận của sanh. Với ba minh này, vị ấy là bậc Bà-la-môn có tam minh.
309.
309.
309.
‘‘Tatheva bhaddakāpilānī †, tevijjā maccuhāyinī;
Dhāreti antimaṃ dehaṃ, jitvā māraṃ savāhanaṃ.
Likewise, Bhaddā Kāpilānī, possessing the threefold knowledge and having abandoned death, bears her final body, having conquered Māra with his host.
Cũng như thế, Bhaddā Kāpilānī có tam minh, đã từ bỏ cái chết. Sau khi chiến thắng Ma vương cùng với quyến thuộc, (tôi) đang mang thân cuối cùng.
310.
310.
310.
‘‘Disvā ādīnavaṃ loke, ubho pabbajitā mayaṃ;
Tyamha khīṇāsavā dantā, sītibhūtāmha nibbutā.
Seeing the danger in the world, we both went forth. We are those whose taints are destroyed, tamed, become cool, and quenched.
Sau khi nhìn thấy sự nguy hại ở trong đời, cả hai chúng tôi đã xuất gia. Chúng tôi là những người đã đoạn tận các lậu hoặc, đã được điều phục; chúng tôi đã trở nên mát mẻ, đã được tịch tịnh.
311.
311.
311.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
My defilements are burned away… I dwell free from taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy... (v.v.)... tôi sống không còn lậu hoặc.
312.
312.
312.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha’s teaching has been done.
Sự đến của tôi thật là khéo đến... (v.v.)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
313.
313.
313.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích... (v.v.)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ bhaddakāpilānī bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the bhikkhunī Bhaddā Kāpilānī spoke these verses.
Quả thật như vậy, Tỳ-khưu-ni Bhaddā Kāpilānī đã nói lên những câu kệ này.
Bhaddakāpilānītheriyāpadānaṃ sattamaṃ.
The seventh: The Apadāna of Bhaddakāpilānī Therī.
Trưởng Lão Ni Kệ Sự của ngài Bhaddā Kāpilānī, phẩm thứ bảy.