Bản dịch
THI -ap26 — Ký Sự về Soṇā
Soṇātherīapadāna
BJT 858Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 859Khi ấy, tôi đã được sanh ra trong gia đình triệu phú, được hạnh phúc, được tôn vinh, yêu quý. Tôi đã đi đến bậc Hiền Trí cao quý ấy và đã lắng nghe lời nói ngọt ngào.
BJT 860Đấng Chiến Thắng đã tán dương vị tỳ khưu ni đứng đầu trong số các vị ni có sự ra sức tinh tấn. Sau khi nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ và tôi đã thể hiện sự thành kính đến bậc Đạo Sư.
BJT 861Khi ấy, tôi đã đảnh lễ bậc Toàn Giác và đã ước nguyện vị thế ấy. Đấng Đại Hùng đã nói lời tùy hỷ rằng: “Ước nguyện của nàng sẽ được thành tựu.
BJT 862Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 863Nàng sẽ trở thành nữ Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Soṇā.”
BJT 864Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.
BJT 865Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 866Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh vào gia đình triệu phú sung túc, thịnh vượng, có tài sản lớn lao ở trong kinh thành Sāvatthī.
BJT 867Và khi đã đạt đến tuổi thanh xuân, tôi đã đi đến nhà người chồng và đã sanh ra mười người con trai, hết thảy đều có vóc dáng hoàn hảo.
BJT 868Và tất cả bọn chúng đều được nuôi dưỡng trong sung sướng, có sự thu hút ánh mắt của mọi người. Ngay cả đối với những kẻ nghịch thù, chúng cũng được ưa thích. Chúng được yêu mến còn hơn cả tôi nữa.
BJT 869Sau đó, với sự không mong muốn của tôi, người chồng ấy của tôi được khích lệ bởi mười người con trai đã xuất gia trong Giáo Pháp của vị Trời của chư Thiên.
BJT 870Khi ấy, còn mỗi một mình tôi đã suy xét rằng: “Đã đủ cho cuộc sống của ta là kẻ bị chồng và những người con trai bỏ rơi, lại già cả, và thảm thương.
BJT 871Ta cũng sẽ đi đến nơi nào mà người chồng của ta đã đạt đến.” Sau khi suy xét như thế, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 872Và sau đó, các vị tỳ khưu ni đã để tôi ở lại tu viện của các tỳ khưu ni như thế rồi đã đi (nghe) giáo giới (bảo rằng): “Bà hãy đun nóng nước.”
BJT 873Khi ấy, tôi đã đem nước lại đổ vào trong nồi, sau đó đặt ở bếp lửa, rồi đã ngồi xuống. Do đó tâm đã được định tĩnh.
BJT 874Sau khi nhìn thấy các uẩn là vô thường, là khổ não, và là vô ngã, tôi đã cắt đứt tất cả các lậu hoặc và đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 875Khi ấy, các vị tỳ khưu ni đã quay lại và đã hỏi về nước nóng. Sau khi chú nguyện vào bản thể của lửa, tôi đã đun nóng nước một cách mau chóng.
BJT 876Ngạc nhiên, các vị ni ấy đã trình lại sự việc này đến đấng Chiến Thắng cao quý. Sau khi nghe điều ấy, được hoan hỷ, đấng Bảo Hộ đã nói lên lời kệ này:
BJT 877“Và người nào đã sống trăm năm, lười biếng, có sự tinh tấn thấp thỏi, cuộc sống một ngày của người đang ra sức tinh tấn một cách bền bĩ là tốt hơn.”
BJT 878Được hài lòng với sự thực hành tốt đẹp của tôi, đấng Đại Hùng, bậc Đại Hiền Trí ấy đã nói tôi là đứng đầu trong số các vị ni có sự ra sức tinh tấn.
BJT 879Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 880Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 881Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Soṇā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Soṇā là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Soṇātherīapadānaṃ
6. The Apadāna of Soṇā Therī
6. Trưởng Lão Ni Kệ của Soṇā
220.
220.
220.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
The Conqueror named Padumuttara, gone beyond all phenomena, arose as the Leader a hundred thousand aeons ago.
Bậc Chiến Thắng tên là Padumuttara, bậc đã đến bờ kia của tất cả các pháp; cách đây một trăm ngàn kiếp, bậc Lãnh Đạo đã xuất hiện.
221.
221.
221.
‘‘Tadā seṭṭhikule jātā, sukhitā pūjitā piyā;
Upetvā taṃ munivaraṃ, assosiṃ madhuraṃ vacaṃ.
Then, born into a treasurer's family, prosperous, revered, and beloved, approaching that noble sage, I heard his sweet words.
Khi ấy, tôi sinh ra trong gia đình trưởng giả, được sung sướng, kính trọng, và yêu mến. Sau khi đến gần vị Thánh nhân cao quý ấy, tôi đã nghe được lời dạy ngọt ngào.
222.
222.
222.
‘‘Āraddhavīriyānaggaṃ, vaṇṇesi † bhikkhuniṃ jino;
Taṃ sutvā muditā hutvā, kāraṃ katvāna satthuno.
The Conqueror praised a bhikkhunī as foremost among those with aroused energy; hearing that, having become joyful, I paid homage to the Teacher.
Bậc Chiến Thắng đã tán dương một vị Tỳ-khưu-ni là bậc tối thượng trong số những người có tinh tấn. Sau khi nghe lời ấy, tôi trở nên hoan hỷ, và sau khi thực hiện sự tôn kính đối với bậc Đạo Sư.
223.
223.
223.
‘‘Abhivādiya sambuddhaṃ, ṭhānaṃ taṃ patthayiṃ tadā;
Anumodi mahāvīro, ‘sijjhataṃ paṇidhī tava.
Having saluted the Fully Awakened One, I then aspired to that position. The Great Hero approved: ‘May your aspiration succeed!’
Sau khi đảnh lễ bậc Chánh Đẳng Giác, khi ấy tôi đã mong cầu vị trí ấy. Bậc Đại Hùng đã tùy hỷ: ‘Mong rằng lời nguyện của ngươi được thành tựu.’
224.
224.
224.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘A hundred thousand aeons hence, sprung from the Okkāka lineage, Gotama by name, he will be the Teacher in the world.
‘Cách đây một trăm ngàn kiếp, một bậc Đạo Sư sẽ xuất hiện trên thế gian, sinh ra trong dòng dõi Okkāka, có họ là Gotama.’
225.
225.
225.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādā, orasā dhammanimmitā;
Soṇāti nāma nāmena, hessati satthu sāvikā’.
‘An heir in his teachings, a true-born child created by the Dhamma, by the name of Soṇā, she will be a female disciple of the Teacher.’
‘Nàng sẽ là người thừa tự trong giáo pháp của vị ấy, người con gái sinh từ ngực, được tạo ra bởi Pháp, một nữ đệ tử của bậc Đạo Sư, với tên là Soṇā’.
226.
226.
226.
‘‘Taṃ sutvā muditā hutvā, yāvajīvaṃ tadā jinaṃ;
Mettacittā paricariṃ, paccayehi vināyakaṃ.
Hearing that, having become joyful, for as long as life lasted I then served the Victor, the Guide, with a mind of loving-kindness and with the requisites.
Sau khi nghe lời ấy, tôi trở nên hoan hỷ, và suốt đời khi ấy, tôi đã phục vụ bậc Chiến Thắng, bậc Lãnh Đạo, với bốn vật dụng và với tâm từ.
227.
227.
227.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done deed, and by my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Bởi nghiệp được làm tốt đẹp ấy, và bởi các ý nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
228.
228.
228.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, jātā seṭṭhikule ahaṃ;
Sāvatthiyaṃ puravare, iddhe phīte mahaddhane.
Now, in my final existence, I was born in the excellent city of Sāvatthī into a prosperous, thriving, and wealthy treasurer's family.
Và bây giờ trong kiếp sống cuối cùng này, tôi đã sinh ra trong một gia đình trưởng giả tại thành phố Sāvatthī tốt đẹp, thịnh vượng, phồn vinh, và có nhiều của cải.
229.
229.
229.
‘‘Yadā ca yobbanappattā, gantvā patikulaṃ ahaṃ;
Dasa puttāni ajaniṃ, surūpāni visesato.
And when I reached youth, having gone to my husband’s family, I bore ten children who were especially handsome.
Và khi tôi đến tuổi thanh xuân, sau khi đến nhà chồng, tôi đã sinh ra mười người con, đặc biệt xinh đẹp.
230.
230.
230.
‘‘Sukhedhitā ca te sabbe, jananettamanoharā;
Amittānampi rucitā, mama pageva te piyā.
All of them were brought up in comfort, captivating the eyes and minds of people. They were pleasing even to their enemies—what more is there to say of how beloved they were to me?
Tất cả chúng đều được nuôi dưỡng trong sung sướng, làm say đắm mắt và tâm của mọi người; ngay cả kẻ thù cũng yêu mến chúng, huống hồ là tình yêu của tôi đối với chúng thì còn nói gì nữa.
231.
231.
231.
‘‘Tato mayhaṃ akāmāya, dasaputtapurakkhato;
Pabbajittha sa me bhattā, devadevassa sāsane.
Then, against my will, my husband, preceded by our ten children, went forth into the teaching of the God of gods.
Khi ấy, dù tôi không mong muốn, người chồng của tôi, cùng với mười người con đi trước, đã xuất gia trong giáo pháp của bậc Thiên Nhân Sư.
232.
232.
232.
‘‘Tadekikā vicintesiṃ, jīvitenālamatthu me;
Cattāya patiputtehi, vuḍḍhāya ca varākiyā.
Then, alone, I thought: ‘Enough of this life for me, an old and wretched woman abandoned by my husband and sons.’
Khi ấy, một mình tôi đã suy nghĩ: ‘Đối với tôi, người đã bị chồng con từ bỏ, lại già nua và khốn khổ, sống còn có ích gì nữa.’
233.
233.
233.
‘‘Ahampi tattha gacchissaṃ, sampatto yattha me pati;
Evāhaṃ cintayitvāna, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
‘I too shall go where my husband has gone.’ Thinking thus, I went forth into homelessness.
‘Nơi nào chồng tôi đã đến, tôi cũng sẽ đến nơi ấy.’ Suy nghĩ như vậy xong, tôi đã xuất gia, sống đời không nhà.
234.
234.
234.
‘‘Tato ca maṃ bhikkhuniyo, ekaṃ bhikkhunupassaye;
Vihāya gacchumovādaṃ, tāpehi udakaṃ iti.
And then the bhikkhunīs, having left me alone in the bhikkhunī residence, went for the exhortation, saying, ‘Heat the water.’
Sau đó, các vị Tỳ-khưu-ni đã để tôi lại một mình trong tu viện của Tỳ-khưu-ni, nói rằng: ‘Hãy đun nước,’ rồi các vị ấy đã đi đến nơi thọ nhận lời giáo huấn.
235.
235.
235.
‘‘Tadā udakamāhitvā, okiritvāna kumbhiyā;
Culle ṭhapetvā āsīnā, tato cittaṃ samādahiṃ.
Then, having fetched water and poured it into a pot, I placed it on the hearth and sat down. Then I composed my mind.
Khi ấy, sau khi lấy nước, đổ vào trong nồi, và đặt lên trên bếp, tôi đã ngồi xuống. Bấy giờ, tôi đã định tâm.
236.
236.
236.
‘‘Khandhe aniccato disvā, dukkhato ca anattato;
Khepetvā āsave sabbe, arahattamapāpuṇiṃ.
Having seen the aggregates as impermanent, as suffering, and as not-self, and having eradicated all the taints, I attained Arahantship.
Sau khi thấy rõ các uẩn là vô thường, là khổ, và là vô ngã, tôi đã tận trừ tất cả các lậu hoặc và đã chứng đắc quả A-la-hán.
237.
237.
237.
‘‘Tadāgantvā bhikkhuniyo, uṇhodakamapucchisuṃ;
Tejodhātumadhiṭṭhāya, khippaṃ santāpayiṃ jalaṃ.
Then the bhikkhunīs came and asked for warm water. Having resolved upon the fire element, I quickly heated the water.
Khi ấy, các vị Tỳ-khưu-ni trở về và hỏi về nước nóng. Tôi đã chú nguyện vào hỏa đại và đã nhanh chóng làm cho nước nóng lên.
238.
238.
238.
‘‘Vimhitā tā jinavaraṃ, etamatthamasāvayuṃ;
Taṃ sutvā mudito nātho, imaṃ gāthaṃ abhāsatha.
Amazed, they reported this matter to the Excellent Conqueror. Having heard it, the Protector, delighted, spoke this verse:
Các vị ấy kinh ngạc, đã trình bày sự việc ấy lên bậc Tối Thắng. Sau khi nghe điều ấy, bậc Lãnh Đạo hoan hỷ và đã nói lên lời kệ này.
239.
239.
239.
‘‘‘Yo ca vassasataṃ jīve, kusīto hīnavīriyo;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo, vīriyamārabhato daḷhaṃ’.
‘Should one live a hundred years, lazy and of feeble energy, a single day’s life is better for one who strives with firm energy.’
‘Người nào sống một trăm năm, biếng nhác và ít tinh tấn, thì cuộc sống một ngày của người có tinh tấn và nỗ lực kiên cố còn tốt hơn.’
240.
240.
240.
‘‘Ārādhito mahāvīro, mayā suppaṭipattiyā;
Āraddhavīriyānaggaṃ, mamāha sa mahāmuni.
The Great Hero was pleased by my good practice. That Great Sage declared me foremost among those with aroused energy.
Bậc Đại Hùng đã được tôi làm cho hài lòng bằng sự thực hành tốt đẹp. Vị Đại Ẩn Sĩ ấy đã tuyên bố tôi là bậc tối thượng trong số những người có tinh tấn đã được khởi lên.
241.
241.
241.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
My defilements are burned away… I dwell free from taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy... (vân vân)... tôi sống không còn lậu hoặc.
242.
242.
242.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Thật vậy, sự đến của tôi là tốt đẹp... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
243.
243.
243.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges have been realized… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ Phân Tích... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ soṇā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed did the bhikkhunī Soṇā speak these verses.
Như vậy, Tỳ-khưu-ni Soṇā đã nói lên những lời kệ này.
Soṇātheriyāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The Sixth Apadāna of Soṇā Therī.
Phần Thạnh đức ký của Trưởng lão ni Soṇā, chương thứ sáu.