Bản dịch
THI -ap25 — Ký Sự về Nandā - Mỹ Nhân của Xứ Sở
5 Nandātherīapadāna
BJT 804Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 805Là vị giáo giới, vị làm cho hiểu rõ, vị hành xử đối với tất cả chúng sanh, là thiện xảo trong việc chỉ dạy, đức Phật đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua.
BJT 806Là bậc Thương Tưởng, đấng Bi Mẫn, vị tầm cầu sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, Ngài đã an trú vào ngũ giới cho tất cả các ngoại đạo đã đi đến.
BJT 807Như thế, được tô điểm với các vị A-la-hán có được năng lực như thế ấy, (thế gian) đã không bị rối loạn và không có các ngoại đạo.
BJT 808Bậc Đại Hiền Trí ấy cao năm mươi tám ratana (14. 50 m) tợ như cây cột trụ bằng vàng, có ba mươi hai quý tướng.
BJT 809Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại như thế, Ngài đã giúp cho nhiều người vượt qua.
BJT 810Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở tại Haṁsavatī, trong gia đình triệu phú được rạng rỡ với vô số loại châu báu, được đầy đủ với những lạc thú lớn lao.
BJT 811Tôi đã đi đến đấng Đại Hùng ấy và đã lắng nghe thuyết giảng Giáo Pháp Bất Tử, có phẩm vị tối thắng, làm rõ về chân lý tuyệt đối.
BJT 812Khi ấy, được tịnh tín tôi đã thỉnh mời đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng và đã tự tay mình dâng cúng đại thí đến vị ấy.
BJT 813Tôi đã quỳ xuống đê đầu đến bậc Anh Hùng đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng, tôi đã ước nguyện vị thế tối thắng trong số các tỳ khưu ni có thiền chứng.
BJT 814Khi ấy, bậc Điều Phục những ai chưa được điều phục, đấng Nương Nhờ của ba cõi, vị Chúa Tể, bậc Nhân Báo đã chú nguyện rằng: “Nàng sẽ đạt được điều đã khéo được ước nguyện ấy.
BJT 815Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 816Nàng sẽ trở thành nữ Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tựGiáo Pháp của vị(Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từGiáo Pháp, có tên là Nandā.”
BJT 817Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.
BJT 818Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 819Mệnh chung từ nơi ấy, tôi đã đi đến cõi trời Dạ Ma, từ đó đã đi đến cõi trời Đẩu Suất, và từ đó đến cõi Hóa Lạc Thiên, rồi từ đó đến cõi Tha Hóa Tự Tại.
BJT 820Do mãnh lực của nghiệp ấy, ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra, tôi đều đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua ở chính tại các nơi ấy.
BJT 821Mệnh chung từ nơi ấy (sanh) vào thân nhân loại, tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các đấng Chuyển Luân Vương và các vị vua cai quản các lãnh thổ.
BJT 822Tôi đã thọ hưởng sự thành đạt ở giữa chư Thiên và loài người, đã được an vui ở tất cả các nơi, và đã luân hồi qua nhiều đại kiếp.
BJT 823Khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, tôi đã là người con gái hoàn hảo của đức vua Suddhodana tại thành phố tên là Kapila.
BJT 824Nhìn thấy (tôi) có nét đẹp vô cùng rạng rỡ, gia đình ấy đã trở nên vui vẻ; vì thế tôi có tên là “Nandā” (vui vẻ). Tôi đã được công nhận là xinh đẹp.
BJT 825Và cũng ở trong thành phố đáng yêu ấy, tôi đã được nổi danh là “Mỹ nhân” trong số tất cả các thiếu nữ ngoại trừ Yasodharā.
BJT 826Người anh trai đầu là đấng Cao Cả của tam giới, cũng vậy người út là vị A-la-hán. Mỗi một mình tôi là người tại gia, tôi đã bị mẹ quở trách rằng:
BJT 827“Này con, được sanh trong gia tộc dòng Sakya (Thích Ca), con là em gái của đức Phật. Con cũng không còn có Nanda nữa, việc gì con lại ở tại gia?
BJT 828Tuổi trẻ có sự già là nơi cư ngụ, xác thân được xem là bất tịnh, sức khỏe cũng có cơn bệnh là điểm cuối cùng, mạng sống có sự chết là nơi chấm dứt.
BJT 829Sắc thân này của con dầu là xinh đẹp, được yêu dấu như là mặt trăng, quyến rũ, có sự trang điểm của những đồ trang sức tợ như được gắn liền với sự rạng rỡ.
BJT 830(Sắc thân này của con) được gộp chung lại thuần sự tinh túy của thế gian, là sự đem lại chất vị cho những con mắt, là sự sản xuất ra danh thơm của các điều phước thiện, là niềm vui của gia tộc Okkāka.
BJT 831Vào thời gian chẳng bao lâu nữa, sự già sẽ ngự trị. Này cô gái trẻ, hãy từ bỏ gia đình. Này cô gái hoàn hảo, hãy thực hành Giáo Pháp.”
BJT 832Được vui thích với sắc đẹp và tuổi thanh xuân, sau khi nghe lời nói của người mẹ, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình bằng thân chứ không phải bằng tâm.
BJT 833Và với sự cố gắng lớn lao, mẹ (tôi đã) nói để thuyết phục tôi gắn bó vào việc tham thiền, nhưng tôi đã không năng nổ về việc ấy.
BJT 834Do đó, bậc Đại Bi, đấng Chiến Thắng, đã nhìn thấy tôi có lòng khao khát về các dục, và đối với tôi ý nghĩa của sự nhàm chán về xác thân là qua lộ trình của mắt.
BJT 835Bằng năng lực tự thân, Ngài đã làm hiện ra người phụ nữ lộng lẫy, đáng nhìn, rất dễ thương, vô cùng xinh đẹp hơn hẳn luôn cả tôi.
BJT 836Sau khi nhìn thấy người nữ có thân thể vô cùng kinh ngạc ấy, tôi đã sửng sốt. Và tôi đã suy nghĩ về sự lợi ích thuộc về nhân gian đối với con mắt rằng: “Có quả báu đến ta.”
BJT 837(Tôi đã nói rằng): “Này em yêu dấu, hãy đến với chị đây. Có cần gì em hãy nói với chị. Hãy nói với chị về gia đình, tên, dòng họ của em nếu em ưng ý.”
BJT 838(Cô gái đáp): “Này chị yêu dấu, không phải là lúc hỏi han. Hãy cho em tựa vào lòng. Tay chân của em như là chìm xuống. Chị hãy ru em ngủ một chốc.”
BJT 839Sau đó, nàng có đôi mắt xinh đẹp ấy đã kê đầu vào hông của tôi rồi đã thiếp đi. Có con nhện vô cùng ghê rợn đã rơi xuống ở trán của nàng.
BJT 840Cùng với sự rơi xuống của con nhện ấy, mụn nhọt đã nổi lên. Chúng đã rò rỉ, vỡ ra, và toàn thân là mủ và máu.
BJT 841Và khuôn mặt đã bị nứt nẻ, thi thể có mùi hôi thối. Toàn thân bị trương lên, đổi sang màu tím, và thối rửa.
BJT 842Với tất cả các chi thể bị run rẩy, chốc chốc lại bị hụt hơi, nàng ấy trong khi cảm nhận sự khổ đau của mình đã than vãn một cách thê lương rằng:
BJT 843“Em bị khổ sở vì nỗi đau đớn, và các cảm thọ được chạm đến, em bị đắm chìm trong nỗi khổ đau lớn lao. Này cô bạn gái, chị hãy là nơi nương nhờ của em.”
BJT 844“Vẻ đẹp ở khuôn mặt của cô đâu rồi? Lỗ mũi cao của cô đâu rồi? Làn môi màu đỏ của trái cây bimba tuyệt hảo của cô, khuôn mặt của cô đã đi đâu rồi?
BJT 845Gương mặt tợ như mặt trăng đâu rồi? Chiếc cổ ba ngần đã đi đâu rồi? Và các lỗ tai run rẩy lung linh của cô đã đi đến tình trạng thay đổi rồi.
BJT 846Bộ ngực có hình dáng đóa hoa sen còn dạng chồi tợ như bầu nước đã trở thành thi thể hôi thối, bị phân rã, có mùi khó chịu.
BJT 847Eo thon, mông đầy đặn bị sưng lên, có sự lở lói và độc hại, trở thành nơi chứa đầy vật không trong sạch; ôi xác thân là không vĩnh viễn!
BJT 848Toàn bộ nguồn gốc của thân thể là có mùi hôi thối, có sự hãi sợ, như là bãi tha ma kinh hoàng, lại là nơi mà những kẻ ngu hứng thú!”
BJT 849Lúc bấy giờ, sau khi nhìn thấy tôi có tâm bị chấn động, đấng Đại Bi, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, người anh trai của tôi, đã nói lên những lời kệ này:
BJT 850“Này Nandā, hãy nhìn thân thể bệnh hoạn, bất tịnh, hôi thối. Em hãy tu tập tâm về đề mục bất mỹ (tử thi) trở thành chuyên nhất, khéo được tập trung.
BJT 851Thân này như thế nào thì xác kia như vậy, xác kia như thế nào thì thân này như vậy, (là vật) có mùi khó chịu hoặc hôi thối lại được hứng thú đối với những kẻ ngu.
BJT 852Trong khi xem xét xác thân này như thế đêm ngày không mệt mỏi, từ đó với niệm với tuệ sau khi đã nhàm chán thì em sẽ nhìn thấy.”
BJT 853Do đó, sau khi nghe được các lời kệ khéo thuyết, tôi đã bị vô cùng chấn động. Đứng tại chỗ ấy, trong lúc quán sát tôi đã đạt được phẩm vị A-la-hán.
BJT 854Ngồi xuống ở bất cứ nơi nào, tôi luôn luôn có mục đích chính là thiền. Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng.
BJT 855Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 856Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 857Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Nandā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Nandā là phần thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Nandātherīapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Nandā
5. Trưởng Lão Ni Kệ của Trưởng Lão Ni Nandā
166.
166.
166.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
The Victor named Padumuttara, gone to the far shore of all phenomena, arose as the Leader a hundred thousand aeons from this one.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, bậc Lãnh Đạo, Chiến Thắng Giả tên là Padumuttara, người đã đến bờ kia của tất cả các pháp, đã xuất hiện.
167.
167.
167.
‘‘Ovādako viññāpako, tārako sabbapāṇinaṃ;
Desanākusalo buddho, tāresi janataṃ bahuṃ.
An advisor, an instructor, a deliverer of all beings, the Buddha, skilled in exposition, carried many people across.
Ngài là bậc giáo huấn, bậc chỉ dạy, bậc cứu độ tất cả chúng sanh. Đức Phật, bậc thiện xảo trong thuyết pháp, đã cứu thoát rất nhiều chúng sanh.
168.
168.
168.
‘‘Anukampako kāruṇiko, hitesī sabbapāṇinaṃ;
Sampatte titthiye sabbe, pañcasīle patiṭṭhapi.
Sympathetic and compassionate, seeking the welfare of all beings, he established all the sectarians who had arrived in the five precepts.
Ngài là bậc bi mẫn, bậc từ bi, người mưu cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh. Ngài đã an lập tất cả các du sĩ ngoại đạo tìm đến trong năm giới.
169.
169.
169.
‘‘Evaṃ nirākulaṃ āsi, suññataṃ titthiyehi ca;
Vicittaṃ arahantehi, vasībhūtehi tādibhi.
Thus it was undisturbed and empty of sectarians. It was resplendent with Arahants who had attained mastery and were steadfast.
Như vậy, (thế gian) trở nên yên ổn, vắng bóng các du sĩ ngoại đạo, và được điểm tô rực rỡ bởi các bậc A-la-hán, những vị đã tự chủ và vững vàng.
170.
170.
170.
‘‘Ratanānaṭṭhapaññāsaṃ, uggatova mahāmuni;
Kañcanagghiyasaṅkāso, bāttiṃsavaralakkhaṇo.
The Great Sage was fifty-eight cubits tall, like a golden pillar, possessing the thirty-two excellent marks.
Bậc Đại Giác cao năm mươi tám cubit, giống như một cột trụ bằng vàng, và mang ba mươi hai tướng tốt cao quý.
171.
171.
171.
‘‘Vassasatasahassāni, āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so, tāresi janataṃ bahuṃ.
At that time, the lifespan was one hundred thousand years. Remaining for that long, that Buddha saved many people.
Vào thời ấy, tuổi thọ là một trăm ngàn năm. Trong suốt thời gian đó, Ngài đã trụ thế và cứu thoát rất nhiều chúng sanh.
172.
172.
172.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, jātā seṭṭhikule ahuṃ;
Nānāratanapajjote, mahāsukhasamappitā.
At that time, I was born in the city of Haṃsavatī into a treasurer's family, one resplendent with various jewels and endowed with great happiness.
Khi ấy, tại thành phố Haṃsavatī, tôi đã sanh ra trong một gia đình trưởng giả rực rỡ với nhiều loại châu báu, và tôi được hưởng nhiều hạnh phúc lớn lao.
173.
173.
173.
‘‘Upetvā taṃ mahāvīraṃ, assosiṃ dhammadesanaṃ;
Amataṃ paramassādaṃ, paramatthanivedakaṃ.
Having approached that Great Hero, I heard the teaching of the Dhamma, which was like the deathless, of supreme delight, and which makes known the ultimate goal.
Sau khi đến gần bậc Đại Hùng ấy, tôi đã lắng nghe bài thuyết pháp, là pháp bất tử, có hương vị tuyệt vời, và chỉ bày ý nghĩa tối thượng.
174.
174.
174.
‘‘Tadā nimantayitvāna, sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ;
Datvā tassa mahādānaṃ, pasannā sehi pāṇibhi.
Then, having invited the Leader of the World together with the Saṅgha, with a serene mind and with my own hands, I gave a great offering to him.
Khi ấy, con đã thỉnh mời bậc Lãnh Đạo Thế Gian cùng Tăng chúng; với tâm hoan hỷ, con đã tự tay dâng cúng đại thí đến Ngài.
175.
175.
175.
‘‘Jhāyinīnaṃ bhikkhunīnaṃ, aggaṭṭhānamapatthayiṃ;
Nipacca sirasā dhīraṃ, sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ.
Having bowed down with my head to the steadfast one, the Leader of the World, together with the Saṅgha, I aspired to the foremost position among the bhikkhunīs who practice jhāna.
Con đã cúi đầu đảnh lễ bậc Kiên Định, bậc Lãnh Đạo Thế Gian cùng Tăng chúng, và đã phát nguyện đạt địa vị tối thắng trong số các vị Tỳ-khưu-ni thiền định.
176.
176.
176.
‘‘Tadā adantadamako, tilokasaraṇo pabhū;
Byākāsi narasārathi, ‘lacchase taṃ supatthitaṃ.
Then the Tamer of the untamed, the Refuge of the three worlds, the Lord, the Guide for men, prophesied: ‘You shall obtain that which you have well-aspired to.’
Khi ấy, bậc Điều Ngự Kẻ Chưa Điều Phục, bậc Quy Y của Ba Cõi, bậc Toàn Năng, bậc Đạo Sư của Nhân Loại đã thọ ký: ‘Ngươi sẽ đạt được điều đã khéo phát nguyện.’
177.
177.
177.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘One hundred thousand kappas from now, one born of the Okkāka clan, named Gotama by clan, a Teacher, will arise in the world.’
‘Một trăm ngàn kiếp nữa kể từ đây, một vị Đạo Sư sẽ xuất hiện trên thế gian, sanh trong dòng dõi Okkāka, mang danh tánh là Gotama.’
178.
178.
178.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādā, orasā dhammanimmitā;
Nandāti nāma nāmena, hessati satthu sāvikā’.
‘An heir to his Dhamma, a true-born child created by the Dhamma, by name she will be called Nandā, and she will be the Teacher’s female disciple.’
‘Vị ấy sẽ là nữ đệ tử của bậc Đạo Sư, tên là Nandā, là người thừa tự trong Giáo pháp của Ngài, là con gái ruột, do Giáo pháp hóa sanh.’
179.
179.
179.
‘‘Taṃ sutvā muditā hutvā, yāvajīvaṃ tadā jinaṃ;
Mettacittā paricariṃ, paccayehi vināyakaṃ.
Having heard that, and becoming joyful, for the rest of my life I served the Conqueror, the Guide, with a mind of loving-kindness and with the four requisites.
Nghe lời ấy, con hoan hỷ, và suốt đời con đã phục vụ bậc Chiến Thắng, bậc Lãnh Đạo, với tâm từ ái và các vật dụng cần thiết.
180.
180.
180.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done kamma, and by my intentions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa realm.
Nhờ nghiệp lành đã tạo, cùng với các tâm tư và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, con đã sanh lên cõi trời Ba Mươi Ba (Tāvatiṃsa).
181.
181.
181.
‘‘Tato cutā yāmamagaṃ, tatohaṃ tusitaṃ gatā †;
Tato ca nimmānaratiṃ, vasavattipuraṃ tato †.
Having passed away from there, I went to the Yāma realm. From there, I went to the Tusita realm. And from there to the Nimmānarati realm, and from there to the Vasavatti realm.
Từ đó mệnh chung, con đến cõi trời Dạ Ma (Yāma); từ đó con đến cõi trời Đâu Suất (Tusita); rồi từ đó đến cõi trời Hóa Lạc (Nimmānarati), và từ đó đến cõi trời Tha Hóa Tự Tại (Vasavatti).
182.
182.
182.
‘‘Yattha yatthūpapajjāmi, tassa kammassa vāhasā;
Tattha tattheva rājūnaṃ, mahesittamakārayiṃ.
Wherever I was reborn, by the power of that kamma, in that very place I became the chief queen of kings.
Bất cứ nơi nào con tái sanh, do năng lực của nghiệp ấy, ngay tại nơi đó, con đã làm hoàng hậu của các vị vua.
183.
183.
183.
‘‘Tato cutā manussatte, rājānaṃ cakkavattinaṃ;
Maṇḍalīnañca rājūnaṃ, mahesittamakārayiṃ.
Having passed away from there, in human existence, I became the chief queen of wheel-turning monarchs and of regional kings.
Từ đó mệnh chung, trong kiếp người, con đã làm hoàng hậu của các vị Chuyển Luân Vương và của các vị vua chư hầu.
184.
184.
184.
‘‘Sampattiṃ anubhotvāna, devesu manujesu ca;
Sabbattha sukhitā hutvā, nekakappesu saṃsariṃ.
Having experienced prosperity among devas and humans, and being happy everywhere, I wandered in saṃsāra for many kappas.
Hưởng thụ tài sản ở cõi trời và cõi người, con luôn được an lạc ở khắp mọi nơi, và đã luân hồi trong nhiều kiếp.
185.
185.
185.
‘‘Pacchime bhave sampatte, suramme † kapilavhaye;
Rañño suddhodanassāhaṃ, dhītā āsiṃ aninditā.
Having reached my final existence, in the delightful city of Kapilavatthu, I was the blameless daughter of King Suddhodana.
Khi đến kiếp sống cuối cùng, tại thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu) xinh đẹp, con đã là người con gái không thể chê trách của vua Tịnh Phạn (Suddhodana).
186.
186.
186.
‘‘Siriyā † rūpiniṃ disvā, nanditaṃ āsi taṃ kulaṃ;
Tena nandāti me nāmaṃ, sundaraṃ pavaraṃ ahu.
Seeing my form and splendor, that family was delighted; therefore, my beautiful and excellent name became Nandā.
Thấy con có dung sắc và vẻ huy hoàng, hoàng tộc đã rất hoan hỷ. Do đó, con có tên là Nandā, một cái tên xinh đẹp và cao quý.
187.
187.
187.
‘‘Yuvatīnañca sabbāsaṃ, kalyāṇīti ca vissutā;
Tasmimpi nagare ramme, ṭhapetvā taṃ yasodharaṃ.
In that delightful city, setting aside Yasodharā, I was renowned among all young women as ‘the beautiful one’.
Trong thành phố xinh đẹp ấy, ngoại trừ công chúa Da-du-đà-la (Yasodharā), con nổi danh là người xinh đẹp nhất trong tất cả các thiếu nữ.
188.
188.
188.
‘‘Jeṭṭho bhātā tilokaggo, pacchimo † arahā tathā;
Ekākinī gahaṭṭhāhaṃ, mātarā paricoditā.
My eldest brother was the foremost in the three worlds, the younger was an Arahant; I, a solitary householder, was urged on by my mother.
Anh cả của con là bậc Tối Thắng trong Ba Cõi, em trai út cũng là một vị A-la-hán. Con sống một mình tại gia, và đã được mẹ con khuyến khích.
189.
189.
189.
‘‘‘Sākiyamhi kule jātā, putte buddhānujā tuvaṃ;
Nandenapi vinā bhūtā, agāre kiṃ nu acchasi.
‘Daughter, you were born in the Sākiyan clan, a younger sister of the Buddha. Being without Nanda as well, why do you remain in the home?’
‘Này con gái, con sanh ra trong dòng dõi Thích-ca (Sākiya), là em gái của Đức Phật. Con cũng đã xa lìa Nanda, tại sao con còn ở lại nhà?’
190.
190.
190.
‘‘‘Jarāvasānaṃ yobbaññaṃ, rūpaṃ asucisammataṃ;
Rogantamapicārogyaṃ, jīvitaṃ maraṇantikaṃ.
‘Youth has old age as its end, form is considered impure, health has disease as its end, and life has death as its end.’
‘Tuổi trẻ kết thúc bằng tuổi già, thân xác được xem là bất tịnh. Sức khỏe kết thúc bằng bệnh tật, và sự sống kết thúc bằng cái chết.’
191.
191.
191.
‘‘‘Idampi te subhaṃ rūpaṃ, sasīkantaṃ manoharaṃ;
Bhūsanānaṃ alaṅkāraṃ, sirisaṅghāṭasannibhaṃ.
‘This beautiful form of yours, lovely as the moon and captivating, adorned with ornaments, like an assemblage of splendors,
‘Thân hình xinh đẹp này của con, đáng yêu như mặt trăng, thật quyến rũ, được trang hoàng bằng các đồ trang sức, giống như một sự kết hợp của vẻ huy hoàng.’
192.
192.
192.
‘‘‘Puñjitaṃ lokasāraṃva, nayanānaṃ rasāyanaṃ;
Puññānaṃ kittijananaṃ, ukkākakulanandanaṃ.
‘Like the heaped-up essence of the world, an elixir for the eyes, bringing fame to the meritorious, the delight of the Okkāka clan—
‘Giống như tinh hoa của thế gian được gom lại, là thuốc bổ cho đôi mắt, mang lại danh tiếng cho người có phước, và làm vui lòng dòng dõi Okkāka.’
193.
193.
193.
‘‘‘Na cireneva kālena, jarā samadhisessati †;
Vihāya gehaṃ kāruññe †, cara dhammamanindite’.
‘In no long time, old age will overwhelm you. O pitiable and blameless one, having abandoned the home, practice the Dhamma.’
‘Không bao lâu nữa, tuổi già sẽ xâm chiếm. Hỡi người con không thể chê trách, đáng thương, hãy từ bỏ gia đình và thực hành Giáo pháp.’
194.
194.
194.
‘‘Sutvāhaṃ mātu vacanaṃ, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Dehena na tu cittena, rūpayobbanalāḷitā.
Having heard my mother’s words, I went forth into homelessness. Infatuated with beauty and youth, I went forth with my body, but not with my mind.
Nghe lời mẹ, con đã xuất gia sống đời không nhà cửa. Nhưng vì say đắm sắc đẹp và tuổi trẻ, con xuất gia bằng thân chứ không bằng tâm.
195.
195.
195.
‘‘Mahatā ca payattena, jhānajjhena paraṃ mama;
Kātuñca vadate mātā, na cāhaṃ tattha ussukā.
And my mother advised me to practice with great effort, to be devoted to the meditation of jhāna, but I was not eager for that.
Mẹ con bảo con phải nỗ lực tinh tấn và chuyên tâm thiền định, nhưng con đã không nhiệt tình với việc đó.
196.
196.
196.
‘‘Tato mahākāruṇiko, disvā maṃ kāmalālasaṃ †;
Nibbindanatthaṃ rūpasmiṃ, mama cakkhupathe jino.
Then the Greatly Compassionate One, the Conqueror, seeing me longing for sensual pleasures, for the sake of causing disillusionment with form, came within my field of vision.
Bấy giờ, bậc Đại Bi, bậc Chiến Thắng, thấy con tham đắm dục lạc, Ngài đã... ngay trước mắt con, để con nhàm chán đối với sắc thân.
197.
197.
197.
‘‘Sakena ānubhāvena, itthiṃ māpesi sobhiniṃ;
Dassanīyaṃ suruciraṃ, mamatopi surūpiniṃ.
By his own power, he created a woman, beautiful, lovely to see, very radiant, and even more beautiful in form than I.
...bằng thần lực của mình, hóa hiện ra một người phụ nữ xinh đẹp, đáng chiêm ngưỡng, vô cùng rạng rỡ, và có dung sắc đẹp hơn cả con.
198.
198.
198.
‘‘Tamahaṃ vimhitā disvā, ativimhitadehiniṃ;
Cintayiṃ saphalaṃ meti, nettalābhañca mānusaṃ.
Seeing her, whose form was so astonishing, I was astonished and thought: ‘Indeed, my attainment of a human eye is fruitful!’
Khi thấy người phụ nữ có thân hình vô cùng kinh ngạc ấy, con đã kinh ngạc và nghĩ rằng: ‘Việc ta có được đôi mắt của con người thật là có kết quả.’
199.
199.
199.
‘‘Tamahaṃ ehi subhage, yenattho taṃ vadehi me;
Kulaṃ te nāmagottañca, vada me yadi te piyaṃ.
I said to her: ‘Come, O beautiful one. Tell me what you need. Tell me your clan, name, and lineage, if you please.’
Con đã nói với nàng: ‘Này người đẹp, hãy lại đây. Nàng cần gì, hãy nói cho ta biết. Hãy cho ta biết gia tộc, tên và dòng họ của nàng, nếu nàng quý mến ta.’
200.
200.
200.
‘Na vañcakālo subhage †, ucchaṅge maṃ nivāsaya;
Sīdantīva mamaṅgāni, pasuppaya muhuttakaṃ’.
‘This is no time for deception, O beautiful one. Let me rest upon your lap. My limbs feel as if they are sinking; let me sleep for a moment.’
‘Này người đẹp, đây không phải là lúc để lừa dối. Hãy ngồi trong lòng ta. Các chi phần của ta dường như đang chìm xuống, hãy ngủ một lát.’
201.
201.
201.
‘‘Tato sīsaṃ mamaṅke sā, katvā sayi sulocanā;
Tassā nalāṭe patitā, luddhā † paramadāruṇā.
Then she of the beautiful eyes, having placed her head upon my lap, lay down. Upon her forehead, a cruel and most terrible sore appeared.
Bấy giờ, người phụ nữ có đôi mắt đẹp ấy đã gối đầu vào lòng con và ngủ. Một vết loét dữ dội và khủng khiếp đã xuất hiện trên trán nàng.
202.
202.
202.
‘‘Saha tassā nipātena, piḷakā upapajjatha;
Pagghariṃsu pabhinnā ca, kuṇapā pubbalohitā.
Simultaneously with its falling, a boil arose; and having burst, foul pus and blood flowed out.
Ngay khi nó xuất hiện, một mụn nhọt đã phát sinh. Khi vỡ ra, mủ và máu hôi thối đã chảy ra.
203.
203.
203.
‘‘Pabhinnaṃ vadanañcāpi, kuṇapaṃ pūtigandhanaṃ;
Uddhumātaṃ vinilañca, pubbañcāpi sarīrakaṃ.
Her mouth also was burst, repulsive, and foul-smelling; her body was bloated and dark blue, and pus also oozed from it.
Khuôn mặt nàng cũng bị vỡ ra, hôi thối và ghê tởm. Thân thể nàng sưng phồng, biến sắc thành xanh xám, và mủ cũng chảy ra.
204.
204.
204.
‘‘Sā paveditasabbaṅgī, nissasantī muhuṃ muhuṃ;
Vedayantī sakaṃ dukkhaṃ, karuṇaṃ paridevayi.
With all her limbs trembling, sighing again and again, experiencing her own suffering, she lamented pitifully.
Nàng ấy toàn thân run rẩy, thở dài thườn thượt nhiều lần; cảm nhận nỗi khổ của mình, đã than khóc một cách bi thương.
205.
205.
205.
‘‘‘Dukkhena dukkhitā homi, phusayanti ca vedanā;
Mahādukkhe nimuggamhi, saraṇaṃ hohi me sakhī’.
‘I am afflicted by suffering, and feelings severely assail me; I am immersed in great suffering. O friend, be a refuge for me.’
‘Tôi bị đau khổ bởi sự đau khổ, và các cảm thọ đang hành hạ; tôi bị chìm ngập trong nỗi khổ lớn, này bạn, hãy là nơi nương tựa của tôi’.
206.
206.
206.
‘‘‘Kuhiṃ vadanasobhaṃ te, kuhiṃ te tuṅganāsikā;
Tambabimbavaroṭṭhaṃ te, vadanaṃ te kuhiṃ gataṃ.
‘Where is the beauty of your face? Where is your prominent nose? Where have your lips, like the excellent red bimba fruit, and your mouth gone?’
‘Vẻ đẹp khuôn mặt của nàng đâu rồi? Sống mũi cao của nàng đâu rồi? Đôi môi tuyệt hảo như trái bimbā đỏ của nàng, khuôn mặt của nàng đã đi đâu rồi?’
207.
207.
207.
‘‘‘Kuhiṃ sasīnibhaṃ vaṇṇaṃ, kambugīvā kuhiṃ gatā;
Doḷālolāva † te kaṇṇā, vevaṇṇaṃ samupāgatā.
‘Where has your moon-like complexion gone? Where has your conch-shell neck gone? Your ears, like swings, have become discolored.’
‘Nước da tươi đẹp như mặt trăng đâu rồi? Cái cổ thon như vỏ ốc đã đi đâu rồi? Đôi tai của nàng như chiếc võng đong đưa, đã trở nên biến đổi màu sắc rồi thay.’
208.
208.
208.
‘‘‘Makuḷakhārakākārā †, kalikāva † payodharā;
Pabhinnā pūtikuṇapā, duṭṭhagandhittamāgatā.
‘Your breasts, shaped like makuḷa and khāraka fruits, like flower buds, have burst. They are like putrid corpses, having acquired a foul stench.’
‘Đôi vú có hình dạng như nụ hoa chà là, giống như nụ hoa đã bị vỡ ra; thân xác thối rữa, đã trở nên hôi thối.’
209.
209.
209.
‘‘‘Vedimajjhāva sussoṇī †, sūnāva nītakibbisā;
Jātā amejjhabharitā, aho rūpamasassataṃ.
‘Your hips, once beautiful with a waist slender like an altar, are now swollen and rough like a butcher's block. They have become filled with filth. Alas, how impermanent is form!’
‘Vòng eo thon đẹp như bệ thờ, hông nở nang, đã trở nên thô ráp như cái thớt; đã trở nên đầy những thứ ô uế, ôi sắc thân thật vô thường!’
210.
210.
210.
‘‘‘Sabbaṃ sarīrasañjātaṃ, pūtigandhaṃ bhayānakaṃ;
Susānamiva bībhacchaṃ, ramante yattha bālisā’.
‘All that is born of the body is foul-smelling and frightening; repulsive like a charnel ground, wherein fools delight.’
‘Tất cả những gì sinh ra trong thân này đều có mùi hôi thối, đáng sợ hãi; ghê tởm như một nghĩa địa, nơi mà những kẻ ngu si thường thích thú’.
211.
211.
211.
‘‘Tadā mahākāruṇiko, bhātā me lokanāyako;
Disvā saṃviggacittaṃ maṃ, imā gāthā abhāsatha.
Then my brother, the greatly compassionate Leader of the World, seeing my mind struck with urgency, spoke these verses:
Khi ấy, người anh của tôi, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Đại Bi, sau khi thấy tôi có tâm xúc động, đã nói lên những câu kệ này.
212.
212.
212.
‘‘‘Āturaṃ kuṇapaṃ pūtiṃ, passa nande samussayaṃ;
Asubhāya cittaṃ bhāvehi, ekaggaṃ susamāhitaṃ.
‘Behold, Nandā, this afflicted, repulsive, putrid body. Develop your mind on the theme of foulness, one-pointed and well-concentrated.’
‘Này Nandā, hãy nhìn tấm thân bệnh hoạn, ghê tởm, thối rữa này. Hãy tu tập tâm nhất tâm, định tĩnh tốt đẹp về sự bất tịnh.’
213.
213.
213.
‘‘‘Yathā idaṃ tathā etaṃ, yathā etaṃ tathā idaṃ;
Duggandhaṃ pūtikaṃ vāti, bālānaṃ abhinanditaṃ.
‘As this body is, so is that one; as that body is, so is this one. It emanates a foul and putrid stench, yet it is delighted in by fools.’
‘Như thân này, thân kia cũng vậy; như thân kia, thân này cũng vậy. Tỏa ra mùi hôi, mùi thối, chỉ được những kẻ ngu si ưa thích.’
214.
214.
214.
‘‘‘Evametaṃ avekkhantī, rattindivamatanditā;
Tato sakāya paññāya, abhinibbijjha dakkhasi’.
‘Contemplating it thus, day and night, unweariedly, you will then, with your own wisdom, penetrate it and see.’
‘Khi quán chiếu thân này như vậy, cả ngày lẫn đêm không mệt mỏi; khi ấy, với trí tuệ của chính mình, sau khi thâm nhập, ngươi sẽ thấy rõ’.
215.
215.
215.
‘‘Tatohaṃ atisaṃviggā, sutvā gāthā subhāsitā;
Tatraṭṭhitāvahaṃ santī, arahattamapāpuṇiṃ.
Then I, having heard those well-spoken verses, was extremely stirred. While standing right there, being at peace, I attained Arahantship.
Khi ấy, tôi vô cùng xúc động, sau khi nghe những câu kệ được khéo nói; ngay khi đang đứng tại nơi đó, tôi đã đạt được quả A-la-hán.
216.
216.
216.
‘‘Yattha yattha nisinnāhaṃ, sadā jhānaparāyanā;
Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho, etadagge ṭhapesi maṃ.
Wherever I was sitting, always devoted to jhāna, the Conqueror, pleased with that quality, placed me in the foremost position.
Bất cứ nơi nào tôi ngồi, tôi luôn lấy thiền định làm mục tiêu. Bậc Chiến Thắng, hài lòng với đức hạnh ấy, đã đặt tôi vào vị trí tối thượng.
217.
217.
217.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
My defilements have been burned… I dwell free from taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy... (v.v.)... tôi sống không còn lậu hoặc.
218.
218.
218.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
A good coming it was for me… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Sự đến của tôi thật là tốt đẹp... (v.v.)... giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
219.
219.
219.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ Phân Tích... (v.v.)... giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ nandā bhikkhunī janapadakalyāṇī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the bhikkhunī Nandā, the Beauty of the Land, spoke these verses.
Như vậy, tỳ-khưu-ni Nandā Janapadakalyāṇī đã thuyết lên những kệ ngôn này.
Nandātheriyāpadānaṃ pañcamaṃ.
The fifth Apadāna of the elder nun Nandā.
Ký sự về Trưởng lão ni Nandā, phần thứ năm.