Bản dịch
THI -ap24 — Ký Sự về Sakulā
Sakulātherīapadāna
BJT 769Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 770Vì sự tấn hóa, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của tất cả chúng sanh, đấng Siêu Nhân, bậc cao quý trong số các vị đang thuyết giảng đã sanh ra ở thế gian gồm cả Thiên giới.
BJT 771Đã đạt đến danh vọng cao tột, đấng Chiến Thắng có sự vinh quang, có được sự tán dương ca ngợi. Ngài được tôn vinh, được nổi danh ở tất cả các phương của toàn thể thế gian.
BJT 772Ngài đã vượt lên trên sự hoài nghi, đã vượt qua sự lưỡng lự, đã tròn đủ tâm tư, đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng.
BJT 773Là người khai mở con đường chưa được khai mở, đấng Tối Thượng Nhân đã nói đến điều chưa được nói đến và đã nhận thức điều chưa được nhận thức.
BJT 774Đấng Nhân Ngưu là vị biết được Đạo lộ, là vị rành mạch về Đạo lộ, là vị thuyết về Đạo lộ. Được thiện xảo về Đạo lộ, đấng Đạo Sư là cao quý tối thượng trong số các bậc Điều Ngự (người điều khiển xe).
BJT 775Đấng Đại Bi, bậc Đạo Sư, vị Lãnh Đạo đã thuyết giảng Giáo Pháp. Ngài tiếp độ những chúng sanh (đang) bị đắm chìm trong đầm lầy ái dục.
BJT 776Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở tại Haṁsavatī, là niềm hoan hỷ của dòng Sát-đế-lỵ. Và tôi đã có sắc đẹp tuyệt vời, có tài sản, được yêu quý, và có sự vẻ vang.
BJT 777Là người con gái vô cùng xinh đẹp của vị đại vương Ānanda, và cũng là người em gái khác mẹ của vị (Phật) tên Padumuttara.
BJT 778Được tháp tùng bởi các người con gái của đức vua, được trang điểm với tất cả các đồ trang sức, tôi đã đi đến đấng Đại Hùng và đã lắng nghe thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 779Chính vào khi ấy, bậc Thầy của thế gian ấy ở giữa các chúng đã tán dương vị tỳ khưu ni có thiên nhãn và đã thiết lập vị ni ấy vào vị thế tối thắng.
BJT 780Sau khi lắng nghe điều ấy, được mừng rỡ tôi đã dâng cúng vật thí đến bậc Đạo Sư. Và sau khi cúng dường đến bậc Toàn Giác, tôi đã ước nguyện về thiên nhãn.
BJT 781Do đó, bậc Đạo Sư đã nói với tôi rằng: “Này người thiếu nữ vui vẻ, nàng sẽ đạt được điều đã ước nguyện. Điều đã khéo được mong muốn này là quả báu của các việc dâng cúng đèn và Giáo Pháp.
BJT 782Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 783Nàng sẽ trở thành nữ Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tựGiáo Pháp của vị(Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từGiáo Pháp, có tên là Sakulā.”
BJT 784Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 785Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
BJT 786Khi ấy, tôi đã là nữ du sĩ ngoại đạo có hạnh độc hành. Sau khi đi lang thang để khất thực tôi đã nhận được một số lượng dầu thắp.
BJT 787Sau khi thắp sáng ngọn đèn với số (dầu) đó, với tâm ý trong sạch tôi đã phục vụ ngôi bảo tháp của đấng Tối Thượng Nhân trọn cả đêm.
BJT 788Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 789Do mãnh lực của nghiệp ấy, ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra thì có các ngọn đèn lớn chiếu sáng ở chính tại các nơi ấy khi tôi đi đến.
BJT 790Nếu tôi muốn, tôi (có thể) nhìn thấy ngọn núi sau khi đã vượt lên xuyên qua bức tường, xuyên qua tảng đá; điều này là quả báu của việc dâng cúng đèn.
BJT 791Tôi có cặp mắt trong ngần, và tôi chói sáng với danh vọng, lại còn có đức tin và trí tuệ nữa; điều này là quả báu của việc dâng cúng đèn.
BJT 792Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh vào gia đình Bà-la-môn có nhiều tài sản và lúa gạo, được hài lòng, được đức vua tôn trọng.
BJT 793Được thành tựu toàn vẹn về cơ thể, được trang điểm với tất cả các đồ trang sức, đứng ở cửa sổ tôi (đã nhìn thấy) đấng Thiện Thệ ở lối đi vào thành.
BJT 794Tôi đã nhìn thấy Ngài đang chói sáng với danh vọng, được trọng vọng bởi chư Thiên và nhân loại, được hội đủ các tướng mạo phụ, được điểm tô bằng những tướng mạo chính.
BJT 795Với tâm phấn chấn, với ý vui mừng, tôi đã xin xuất gia. Trong thời gian không bao lâu tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 796Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.
BJT 797Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh. Sau khi đã quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi đã được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.
BJT 798Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.
BJT 799Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào đời sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến.
BJT 800Do đó, đấng Đại Bi, bậc Tối Thượng Nhân đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng “Sakulā là vị ni đứng đầu trong các vị ni có thiên nhãn.”
BJT 801Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 802Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 803Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Sakulā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Sakulā là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Sakulātherīapadānaṃ
4. The Apadāna of the Elder Sakulā
4. Trưởng Lão Ni Sự Tích của Sakulā
131.
131.
131.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
The Conqueror named Padumuttara, who had gone beyond all phenomena, arose as the Leader a hundred thousand aeons ago.
Đấng Chiến Thắng tên là Padumuttara, bậc đã đến bờ kia của tất cả các pháp, bậc Lãnh Đạo ấy đã xuất hiện trong kiếp thứ một trăm ngàn kể từ đây.
132.
132.
132.
‘‘Hitāya sabbasattānaṃ, sukhāya vadataṃ varo;
Atthāya purisājañño, paṭipanno sadevake.
For the welfare and happiness of all beings, and for the benefit of the world with its gods, that best of speakers, that thoroughbred of men, entered upon the path.
Vì lợi ích, vì hạnh phúc của tất cả chúng sanh, bậc Tối Thượng trong các người thuyết giảng, bậc Nhân Sư cao quý, đã thực hành vì sự tốt đẹp trong thế giới cùng với chư Thiên.
133.
133.
133.
‘‘Yasaggapatto sirimā, kittivaṇṇagato jino;
Pūjito sabbalokassa, disāsabbāsu vissuto.
Having reached the peak of fame, glorious, the Conqueror endowed with renown and praise was honored by the entire world and famed in all directions.
Đấng Chiến Thắng đã đạt đến đỉnh cao danh vọng, đầy phúc đức, có tiếng tăm và uy danh, được tất cả thế gian cúng dường, nổi tiếng khắp mọi phương.
134.
134.
134.
‘‘Uttiṇṇavicikiccho so, vītivattakathaṃkatho;
Sampuṇṇamanasaṅkappo, patto sambodhimuttamaṃ.
He has crossed over doubt and gone beyond perplexity; with his mind’s resolve fulfilled, he has attained supreme enlightenment.
Vị ấy đã vượt qua hoài nghi, đã chấm dứt sự phân vân, với tâm nguyện viên mãn, đã đạt đến giác ngộ tối thượng.
135.
135.
135.
‘‘Anuppannassa maggassa, uppādetā naruttamo;
Anakkhātañca akkhāsi, asañjātañca sañjanī.
The supreme man, he is the producer of the unarisen path; he declares what has not been declared and generates what has not been generated.
Bậc Tối Thượng Nhân là người làm phát sinh con đường chưa từng phát sinh, đã tuyên thuyết điều chưa từng được tuyên thuyết, và đã làm cho biết điều chưa từng được biết.
136.
136.
136.
‘‘Maggaññū ca maggavidū, maggakkhāyī narāsabho;
Maggassa kusalo satthā, sārathīnaṃ varuttamo.
Knower of the path, expert in the path, declarer of the path, a bull among men; the Teacher, skilled in the path, the supreme charioteer.
Bậc Nhân Sư cao quý là người biết rõ con đường, hiểu rõ con đường, và chỉ dạy con đường. Bậc Đạo Sư thiện xảo về con đường, là bậc đánh xe tối thượng.
137.
137.
137.
‘‘Mahākāruṇiko satthā, dhammaṃ desesi nāyako;
Nimugge kāmapaṅkamhi, samuddharati pāṇine.
The greatly compassionate Teacher, the Leader, taught the Dhamma; he rescues living beings who are sunk in the mire of sensual pleasures.
Bậc Đạo Sư, bậc Lãnh Đạo có lòng đại bi, đã thuyết giảng Chánh pháp; Ngài cứu vớt chúng sanh bị chìm đắm trong vũng lầy dục vọng.
138.
138.
138.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, jātā khattiyanandanā;
Surūpā sadhanā cāpi, dayitā ca sirīmatī.
At that time in Haṃsavatī, I was born a khattiya’s daughter; beautiful and wealthy, I was beloved and glorious.
Khi ấy, tại thành Haṃsavatī, tôi sanh làm công chúa, có dung sắc xinh đẹp, lại có tài sản, được yêu mến, và có phúc đức.
139.
139.
139.
‘‘Ānandassa mahārañño, dhītā paramasobhaṇā;
Vemātā † bhaginī cāpi, padumuttaranāmino.
I was the supremely beautiful daughter of the great King Ānanda, and also the step-sister of him named Padumuttara.
Là con gái vô cùng xinh đẹp của đức vua Ānanda, và cũng là em gái khác mẹ của Đấng Padumuttara.
140.
140.
140.
‘‘Rājakaññāhi sahitā, sabbābharaṇabhūsitā;
Upāgamma mahāvīraṃ, assosiṃ dhammadesanaṃ.
Accompanied by royal maidens and adorned with all my ornaments, I approached the Great Hero and listened to his teaching of the Dhamma.
Cùng với các công chúa, được trang sức bằng tất cả các loại trang sức, tôi đã đến gần bậc Đại Hùng và lắng nghe pháp thoại.
141.
141.
141.
‘‘Tadā hi so lokagaru, bhikkhuniṃ dibbacakkhukaṃ;
Kittayaṃ parisāmajjhe †, aggaṭṭhāne ṭhapesi taṃ.
Then that Teacher of the world, in the midst of the assembly, extolled a bhikkhunī possessing the divine eye and established her in the foremost position.
Khi ấy, bậc Tôn Sư của thế gian, giữa hội chúng, đã tán thán một vị tỳ-khưu-ni có thiên nhãn và đặt vị ấy vào địa vị tối thượng.
142.
142.
142.
‘‘Suṇitvā tamahaṃ haṭṭhā, dānaṃ datvāna satthuno;
Pūjitvāna ca sambuddhaṃ, dibbacakkhuṃ apatthayiṃ.
Delighted on hearing this, I gave a gift to the Teacher; and having honored the Perfectly Enlightened One, I aspired for the divine eye.
Nghe điều ấy, tôi hoan hỷ, đã dâng cúng dường lên bậc Đạo Sư; và sau khi cúng dường Đức Chánh Đẳng Giác, tôi đã phát nguyện có được thiên nhãn.
143.
143.
143.
‘‘Tato avoca maṃ satthā, ‘nande lacchasi patthitaṃ;
Padīpadhammadānānaṃ, phalametaṃ sunicchitaṃ.
Then the Teacher said to me: ‘O Nandā, you will obtain what you have wished for. This is the certain fruit of the gift of lamps and the Dhamma.’
Khi ấy, bậc Đạo Sư nói với tôi: ‘Này Nande, con sẽ đạt được điều mong muốn. Đây là quả báu chắc chắn của việc cúng dường đèn và cúng dường pháp.’
144.
144.
144.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘A hundred thousand aeons from now, arisen in the Okkāka clan, a Teacher will appear in the world, Gotama by family name.’
‘Trong kiếp thứ một trăm ngàn kể từ đây, một vị Đạo Sư sanh trong dòng dõi Okkāka, mang họ Gotama, sẽ xuất hiện trong thế gian.’
145.
145.
145.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādā, orasā dhammanimmitā;
Sakulā nāma nāmena †, hessati satthu sāvikā’.
‘An heir to his Dhamma, a legitimate daughter fashioned by the Dhamma, she will be a disciple of the Teacher, known by the name Sakulā.’
‘Là người thừa tự Chánh pháp của vị ấy, là con gái đích thực do Chánh pháp tạo ra, một nữ đệ tử của bậc Đạo Sư tên là Sakulā sẽ xuất hiện.’
146.
146.
146.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done kamma, and by my volition and aspiration, having abandoned the human body, I went to Tāvatiṃsa.
Nhờ nghiệp thiện đã làm ấy, và nhờ các tâm nguyện và ước muốn, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
147.
147.
147.
‘‘Imamhi bhaddake kappe, brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena, uppajji vadataṃ varo.
In this fortunate aeon, a kinsman of Brahmā, of great fame, Kassapa by clan name, the best of speakers, arose.
Trong hiền kiếp này, bậc Tối Thắng trong các bậc thuyết giảng, thuộc dòng dõi Bà-la-môn, có danh tiếng lẫy lừng, mang tên tộc là Kassapa, đã xuất hiện.
148.
148.
148.
‘‘Paribbājakinī āsiṃ, tadāhaṃ ekacārinī;
Bhikkhāya vicaritvāna, alabhiṃ telamattakaṃ.
Then I was a female wanderer, wandering alone; having gone on an alms round, I obtained a small amount of oil.
Khi ấy, tôi là một nữ du sĩ, sống độc cư. Sau khi đi khất thực, tôi đã nhận được một ít dầu.
149.
149.
149.
‘‘Tena dīpaṃ padīpetvā, upaṭṭhiṃ sabbasaṃvariṃ;
Cetiyaṃ dvipadaggassa †, vippasannena cetasā.
Having lit a lamp with that oil, with a very serene mind I paid homage at the shrine of the best of bipeds, the one restrained in all things.
Với tâm vô cùng trong sạch, tôi đã thắp đèn bằng dầu ấy và cúng dường đến bảo tháp của bậc Tối Thắng giữa các loài hai chân, là đấng tự chủ trong mọi việc.
150.
150.
150.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done kamma, and by my volition and aspiration, having abandoned the human body, I went to Tāvatiṃsa.
Nhờ vào nghiệp lành đã tạo ấy, và nhờ vào các tác ý cùng nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
151.
151.
151.
‘‘Yattha yatthūpapajjāmi, tassa kammassa vāhasā;
Pajjalanti † mahādīpā, tattha tattha gatāya me.
Wherever I was reborn, by the power of that kamma, great lamps would blaze for me wherever I went.
Do năng lực của nghiệp ấy, bất cứ nơi nào tôi tái sanh, những ngọn đèn lớn đều chiếu sáng rực rỡ ở nơi tôi đến.
152.
152.
152.
‘‘Tirokuṭṭaṃ tiroselaṃ, samatiggayha pabbataṃ;
Passāmahaṃ yadicchāmi, dīpadānassidaṃ phalaṃ.
Through walls, through rock, and through mountains, I see whatever I wish: this is the fruit of the gift of a lamp.
Tôi có thể thấy xuyên qua vách tường, xuyên qua đá, vượt qua núi non, bất cứ điều gì tôi muốn. Đây là quả báu của việc cúng dường đèn.
153.
153.
153.
‘‘Visuddhanayanā homi, yasasā ca jalāmahaṃ;
Saddhāpaññāvatī ceva, dīpadānassidaṃ phalaṃ.
My eyes are purified, and I blaze with glory; I am endowed with faith and wisdom—this is the fruit of the gift of a lamp.
Tôi có đôi mắt thanh tịnh, và tôi tỏa sáng với danh tiếng. Tôi cũng là người có đức tin và trí tuệ. Đây là quả báu của việc cúng dường đèn.
154.
154.
154.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, jātā vippakule ahaṃ;
Pahūtadhanadhaññamhi, mudite rājapūjite.
And now in my final existence, I was born into a brahmin family, one abundant in wealth and grain, joyful and honored by the king.
Và nay, trong kiếp sống cuối cùng này, tôi được sanh vào một gia đình Bà-la-môn vui vẻ, được các vua chúa kính trọng, có nhiều tài sản và lúa gạo.
155.
155.
155.
‘‘Ahaṃ sabbaṅgasampannā, sabbābharaṇabhūsitā;
Purappavese sugataṃ, vātapāne ṭhitā ahaṃ.
Endowed with all fine features and adorned with every ornament, I stood at a window as the Sugata entered the city.
Tôi, người có thân thể toàn hảo, được trang hoàng với mọi trang sức, đã đứng bên cửa sổ khi bậc Thiện Thệ đi vào thành.
156.
156.
156.
‘‘Disvā jalantaṃ yasasā, devamanussasakkataṃ;
Anubyañjanasampannaṃ, lakkhaṇehi vibhūsitaṃ.
Seeing him blazing with glory, honored by gods and humans, endowed with the minor characteristics and adorned with the major marks,
(Tôi đã thấy Ngài) đang tỏa sáng với danh tiếng, được chư thiên và loài người tôn kính, đầy đủ các tướng phụ và được trang nghiêm bởi các tướng tốt.
157.
157.
157.
‘‘Udaggacittā sumanā, pabbajjaṃ samarocayiṃ;
Na cireneva kālena, arahattamapāpuṇiṃ.
with an elated heart and joyful mind, I took delight in the going forth; and in no long time, I attained arahantship.
Với tâm hân hoan và ý vui mừng, tôi đã xin được xuất gia. Không bao lâu sau, tôi đã chứng đắc quả A-la-hán.
158.
158.
158.
‘‘Iddhīsu ca vasī homi, dibbāya sotadhātuyā;
Paracittāni jānāmi, satthusāsanakārikā.
I am a master of the spiritual powers and of the divine ear element; I know the minds of others, a doer of the Teacher’s instruction.
Tôi làm chủ các thần thông, và thiên nhĩ giới. Tôi biết được tâm của chúng sanh khác, và là người thực hành lời giáo huấn của bậc Đạo Sư.
159.
159.
159.
‘‘Pubbenivāsaṃ jānāmi, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Khepetvā āsave sabbe, visuddhāsiṃ sunimmalā.
I know my past lives, my divine eye is purified; having exhausted all the taints, I am purified and stainless.
Tôi biết được các tiền kiếp, thiên nhãn của tôi đã được thanh lọc. Sau khi đã đoạn tận tất cả các lậu hoặc, tôi trở nên thanh tịnh, hoàn toàn không còn cấu uế.
160.
160.
160.
‘‘Pariciṇṇo mayā satthā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ;
Ohito garuko bhāro, bhavanetti samūhatā.
The Teacher has been served by me, the Buddha’s teaching has been done; the heavy burden is laid down, the conduit to existence is uprooted.
Bậc Đạo Sư đã được tôi phụng sự, lời giáo huấn của Đức Phật đã được thực hành. Gánh nặng đã được đặt xuống, dây dẫn đến tái sanh đã được nhổ lên.
161.
161.
161.
‘‘Yassatthāya pabbajitā, agārasmānagāriyaṃ;
So me attho anuppatto, sabbasaṃyojanakkhayo.
The goal for which I went forth from the home life into homelessness—that goal I have reached: the destruction of all fetters.
Mục đích mà vì nó tôi đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình, mục đích ấy, sự đoạn tận tất cả các kiết sử, đã được tôi chứng đắc.
162.
162.
162.
‘‘Tato mahākāruṇiko, etadagge ṭhapesi maṃ;
Dibbacakkhukānaṃ aggā, sakulāti naruttamo.
Then the Greatly Compassionate One, the supreme among men, placed me foremost among those with the divine eye, saying, ‘Sakulā’.
Khi ấy, bậc Đại Bi, đấng Tối Thắng giữa loài người, đã đặt tôi vào vị trí tối thượng: ‘Sakulā là vị đứng đầu trong số những người có thiên nhãn.’
163.
163.
163.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
My defilements are burned up … I dwell without taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt cháy... (v.v.)... tôi sống không còn lậu hoặc.
164.
164.
164.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming … the Buddha’s teaching has been done.
Sự ra đi của tôi thật là khéo thay... (v.v.)... lời giáo huấn của Đức Phật đã được thực hành.
165.
165.
165.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four kinds of analytical knowledge … the Buddha’s teaching has been done.”
Bốn Tuệ phân tích... (v.v.)... lời giáo huấn của Đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ sakulā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed did the bhikkhunī Sakulā speak these verses.
Đại đức Tỳ-khưu-ni Sakulā đã nói những câu kệ này như vậy.
Sakulātheriyāpadānaṃ catutthaṃ.
The Apadāna of the Elder Sakulā, the Fourth.
Trưởng Lão Ni Kệ của Trưởng Lão Ni Sakulā, phẩm thứ tư.