Bản dịch
THI -ap23 — Ký Sự về Dhammadinnā
Dhammadinnātherīapadāna
BJT 733Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 734Khi ấy, tôi đã ở trong một gia đình nọ tại thành Haṁsavatī. Tôi đã là người nữ làm thuê cho người khác, cẩn trọng, gìn giữ tánh hạnh.
BJT 735Sujāta, vị Thinh Văn hàng đầu của đức Phật Padumuttara, đã rời khỏi trú xá đi khất thực.
BJT 736Là người nữ đội nước, khi ấy trong lúc cầm lấy bầu nước đang đi, tôi đã nhìn thấy vị ấy. Được tịnh tín, tôi đã tự tay mình dâng (vị ấy) món bánh ngọt.
BJT 737Sau khi thọ lãnh, vị ấy đã ngồi xuống ngay tại nơi ấy và đã thọ dụng. Sau đó, tôi đã đưa vị ấy về nhà và đã dâng vật thực đến vị ấy.
BJT 738Do đó, người chủ của tôi hoan hỷ đã nhận làm con dâu của mình. Tôi đã cùng với người mẹ chồng đi đến và đã đảnh lễ bậc Toàn Giác.
BJT 739Khi ấy, Ngài đã tán dương và đã thiết lập vị tỳ khưu ni là vị thuyết giảng Giáo Pháp vào vị thế tối thắng. Sau khi nghe được điều ấy, tôi đã hoan hỷ.
BJT 740Tôi đã thỉnh mời đức Thiện Thệ đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng, rồi đã dâng cúng đại thí và đã ước nguyện vị thế ấy.
BJT 741742. Sau đó, với giọng có âm điệu đều đều vang vang, đấng Thiện Thệ đã nói với tôi rằng: “Này người thiếu nữ hiền thục là người dâng vật thực, được vui thích trong việc hộ độ Ta cùng với hội chúng, được gắn bó trong việc lắng nghe Chánh Pháp, với tâm ý được tăng trưởng về đức hạnh, nàng hãy hoan hỷ, nàng sẽ đạt được kết quả của điều nguyện ước.
BJT 743Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 744Nàng sẽ trở thành nữ Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tựGiáo Pháp của vị(Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từGiáo Pháp, có tên là Dhammadinnā.”
BJT 745Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.
BJT 746Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 748Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 749Tôi đã là người con gái thứ sáu của vị (vua) ấy được nổi danh là Sudhammā. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia.
Tụng phẩm thứ ba.
BJT 750751. Cha đã không cho phép chúng tôi. Là những người con gái của đức vua khéo được nuôi dưỡng có sự cư ngụ cùng với gia đình, chúng tôi đã thực hành Phạm hạnh của người thiếu nữ trong hai chục ngàn năm, không xao lãng. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
BJT 752Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
BJT 753Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, Kuṇḍalā, Gotamī, tôi, và luôn cả Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
BJT 754Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 755Và vào kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra ở kinh thành Giribbaja, trong gia đình triệu phú, thịnh vượng, có sự dồi dào về tất cả các dục lạc.
BJT 756Vào lúc đạt đến sắc đẹp và đức hạnh ở vào thời đầu của tuổi thanh xuân, khi ấy tôi đã đi đến gia tộc khác (làm vợ) và đã sống thọ hưởng lạc thú.
BJT 757Sau khi đi đến đấng Nương Nhờ của thế gian và đã lắng nghe thuyết giảng Giáo Pháp, chồng của tôi đã đạt đến quả vị Bất Lai, có trí giác ngộ hoàn hảo.
BJT 758Khi ấy, tôi đã thuyết phục vị ấy rồi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Trong thời gian không bao lâu, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 759Khi ấy, vị nam cư sĩ ấy đã đi đến tôi và đã hỏi về các tuệ thâm sâu và khôn khéo. Tôi đã giảng giải về tất cả các điều ấy.
BJT 760Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng: “Ta không nhìn thấy vị tỳ khưu ni nào khác là vị thuyết giảng Giáo Pháp như là vị ni này.
BJT 761Này các tỳ khưu, Dhammadinnā là vị ni sáng trí, các ngươi hãy ghi nhớ như thế.” Được đấng Lãnh Đạo thương xót, tôi đã trở thành vị ni trí tuệ như thế.
BJT 762Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.
BJT 763Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào đời sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến.
BJT 764Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.
BJT 765Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh. Sau khi đã quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.
BJT 766Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 767Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 768Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Dhammadinnā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Dhammadinnā là phần thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Dhammadinnātherīapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder Dhammadinnā
3. Phẩm Trưởng Lão Ni Kệ của Tỳ-khưu-ni Dhammadinnā
95.
95.
95.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
The Conqueror named Padumuttara, one who had gone beyond all things, the Leader, arose a hundred thousand aeons ago.
Vị Thắng Giả tên là Padumuttara, bậc thông suốt tất cả các pháp, bậc Lãnh Đạo đã sanh khởi ở một trăm ngàn kiếp tính từ kiếp này.
96.
96.
96.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, kule aññatare ahuṃ;
Parakammakārī āsiṃ, nipakā sīlasaṃvutā.
At that time in Haṃsavatī, I was in a certain family; I was a servant for others, prudent and restrained in virtue.
Khi ấy, tôi đã có mặt ở thành phố Haṃsavatī, trong một gia tộc nào đó. Tôi đã là người làm công cho người khác, là người thận trọng, có giới hạnh được thu thúc.
97.
97.
97.
‘‘Padumuttarabuddhassa, sujāto aggasāvako;
Vihārā abhinikkhamma, piṇḍapātāya † gacchati.
The Buddha Padumuttara’s chief disciple, Sujāta, having departed from the monastery, was going for alms-food.
Vị Thượng Thủ Thinh Văn của đức Phật Padumuttara là ngài Sujāta, sau khi đi ra khỏi tu viện, đã đi để khất thực.
98.
98.
98.
‘‘Ghaṭaṃ gahetvā gacchantī, tadā udakahārikā;
Taṃ disvā adadaṃ pūpaṃ, pasannā sehi pāṇibhi.
At that time, as a water-carrier, I was going along carrying a water pot. Seeing him, with a confident mind and with my own hands, I gave him a rice-cake.
Khi ấy, là người mang nước, trong khi đang đi sau khi đã lấy bình, tôi đã nhìn thấy vị ấy và với tâm tịnh tín, tôi đã dâng cúng bánh bằng chính đôi tay của mình.
99.
99.
99.
‘‘Paṭiggahetvā tattheva, nisinno paribhuñji so;
Tato netvāna taṃ gehaṃ, adāsiṃ tassa bhojanaṃ.
Having accepted it, he sat down right there and ate it. Then, having led him to my home, I gave him a meal.
Sau khi đã thọ nhận, vị ấy đã ngồi xuống và đã dùng ngay tại nơi ấy. Sau đó, sau khi đã đưa vị ấy về nhà, tôi đã dâng cúng vật thực đến vị ấy.
100.
100.
100.
‘‘Tato me ayyako tuṭṭho, akarī suṇisaṃ sakaṃ;
Sassuyā saha gantvāna, sambuddhaṃ abhivādayiṃ.
Then my master, being pleased, made me his own daughter-in-law. Going together with my mother-in-law, I paid homage to the Perfectly Enlightened One.
Sau đó, chủ nhân của tôi hài lòng đã nhận tôi làm con dâu của mình. Sau khi đi cùng với mẹ chồng, tôi đã đảnh lễ đức Chánh Đẳng Giác.
101.
101.
101.
‘‘Tadā so dhammakathikaṃ, bhikkhuniṃ parikittayaṃ;
Ṭhapesi etadaggamhi, taṃ sutvā muditā ahaṃ.
Then he, praising a nun who was a preacher of the Dhamma, appointed her to the foremost position. Hearing that, I was delighted.
Khi ấy, vị ấy trong khi đang tán dương vị Tỳ-khưu-ni là người thuyết Pháp đã đặt vị ấy vào địa vị tối thượng. Sau khi nghe điều ấy, tôi đã hoan hỷ.
102.
102.
102.
‘‘Nimantayitvā sugataṃ, sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ;
Mahādānaṃ daditvāna, taṃ ṭhānamabhipatthayiṃ.
Having invited the Well-farer, the leader of the world, together with his Saṅgha, and having given a great gift, I aspired for that same position.
Sau khi đã thỉnh mời đức Thiện Thệ, bậc Lãnh Đạo của thế gian, cùng với Tăng chúng, và sau khi đã thực hiện việc bố thí trọng đại, tôi đã ước nguyện địa vị ấy.
103.
103.
103.
‘‘Tato maṃ sugato āha, ghananinnādasussaro †;
‘Mamupaṭṭhānanirate, sasaṅghaparivesike.
Then the Well-farer, with a voice deep and melodious, said to me: ‘O you who delight in attending on me and in serving the Saṅgha,
Sau đó, đức Thiện Thệ, bậc có giọng nói hay và âm vang sâu lắng, đã nói với tôi rằng: ‘Này người hoan hỷ trong việc hầu hạ ta, người phục vụ cùng với Tăng chúng.
104.
104.
104.
‘‘‘Saddhammassavane yutte, guṇavaddhitamānase;
Bhadde bhavassu muditā, lacchase paṇidhīphalaṃ.
‘O you who are devoted to hearing the good Dhamma, with a mind enhanced by virtues, be joyful, excellent one! You will obtain the fruit of your aspiration.
Này người chuyên tâm trong việc lắng nghe Chánh Pháp, người có tâm trí được tăng trưởng bởi các phẩm hạnh. Này hiền nữ, hãy hoan hỷ, ngươi sẽ nhận được kết quả của lời ước nguyện.
105.
105.
105.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘A hundred thousand aeons from now, one born in the Okkāka clan, named Gotama by family, will be the Teacher in the world.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, vị sanh ra trong dòng dõi Okkāka, có tên tộc là Gotama, sẽ là bậc Đạo Sư ở thế gian.
106.
106.
106.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādā, orasā dhammanimmitā;
Dhammadinnāti nāmena, hessati satthu sāvikā’.
‘She will be an heir in his Dhamma, his legitimate child, fashioned by the Dhamma; by the name of Dhammadinnā, she will be a disciple of the Teacher.’
Vị nữ đệ tử của bậc Đạo Sư ấy sẽ có tên là Dhammadinnā, là người thừa tự trong các Pháp của vị ấy, là người con ruột, là người được Pháp hóa sanh.’
107.
107.
107.
‘‘Taṃ sutvā muditā hutvā, yāvajīvaṃ mahāmuniṃ;
Mettacittā paricariṃ, paccayehi vināyakaṃ.
Hearing that, I was delighted, and for as long as I lived, with a mind of loving-kindness, I served the Great Sage, the Guide, with the requisites.
Sau khi nghe điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ và đã phục vụ bậc Đại Ẩn Sĩ, bậc Lãnh Đạo, với tâm từ và với các vật dụng cho đến trọn đời.
108.
108.
108.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done deed and by my volition and aspiration, when I abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Do nghiệp đã được làm tốt đẹp ấy và do các tác ý và ước nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa (Đao Lợi).
109.
109.
109.
‘‘Imamhi bhaddake kappe, brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena, uppajji vadataṃ varo.
In this fortunate aeon, a kinsman of Brahmā, of great fame, the best of speakers, named Kassapa by clan, arose.
Ở trong kiếp hiền thiện này, bậc Tối Thắng giữa những người thuyết giảng, người thân thuộc của Phạm Thiên, bậc có danh tiếng lớn, có tên tộc là Kassapa, đã sanh khởi.
110.
110.
110.
‘‘Upaṭṭhāko mahesissa, tadā āsi narissaro;
Kāsirājā kikī nāma, bārāṇasipuruttame.
At that time, the attendant of the Great Seer was a lord of men, the king of Kāsī named Kiki, in the excellent city of Bārāṇasī.
Khi ấy, ở thành phố Bārāṇasī cao quý, đã có vị vua của xứ Kāsī tên là Kikī, là vị vua chúa, là người hầu hạ của bậc Đại Hiền.
111.
111.
111.
‘‘Chaṭṭhā tassāsahaṃ dhītā, sudhammā iti vissutā;
Dhammaṃ sutvā jinaggassa, pabbajjaṃ samarocayiṃ.
I was his sixth daughter, renowned as Sudhammā. Having heard the Dhamma of the Chief Conqueror, I took delight in the going forth.
Tôi là người con gái thứ sáu của vị ấy, được biết đến với tên gọi Sudhammā. Sau khi nghe Pháp của bậc Tối Thắng, tôi đã ưa thích việc xuất gia.
112.
112.
112.
‘‘Anujāni na no tāto, agāreva tadā mayaṃ;
Vīsavassasahassāni, vicarimha atanditā.
Our father did not give us permission, so we remained in the home. For twenty thousand years, we lived diligently.
Khi ấy, phụ thân đã không cho phép chúng tôi. Chúng tôi đã sống không mệt mỏi trong hai mươi ngàn năm ngay tại tư gia.
Tatiyaṃ bhāṇavāraṃ.
The Third Recitation Section.
Phần tụng đọc thứ ba.
113.
113.
113.
‘‘Komāribrahmacariyaṃ, rājakaññā sukhedhitā;
Buddhopaṭṭhānaniratā, muditā satta dhītaro.
We seven daughters, royal princesses raised in comfort, joyful and delighting in attending on the Buddha, lived the holy life from our maidenhood.
Là những công chúa được nuôi dưỡng trong an lạc, bảy người con gái đã hoan hỷ, chuyên tâm trong việc hầu hạ đức Phật, đã thực hành phạm hạnh thời thiếu nữ.
114.
114.
114.
‘‘Samaṇī samaṇaguttā ca, bhikkhunī bhikkhudāyikā;
Dhammā ceva sudhammā ca, sattamī saṅghadāyikā.
Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāyikā, Dhammā, and Sudhammā, and the seventh was Saṅghadāyikā.
Samaṇī, và Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāyikā, và Dhammā, và Sudhammā, và người thứ bảy là Saṅghadāyikā.
115.
115.
115.
‘‘Khemā uppalavaṇṇā ca, paṭācārā ca kuṇḍalā;
Gotamī ca ahañceva, visākhā hoti sattamī.
They are Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, and Kuṇḍalā; Gotamī and myself; Visākhā is the seventh.
Khemā, và Uppalavaṇṇā, và Paṭācārā, và Kuṇḍalā (Kuṇḍalakesā), và Gotamī (Kisāgotamī), và chính tôi, và người thứ bảy là Visākhā.
116.
116.
116.
‘‘Tehi kammehi sukatehi, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By those well-done deeds and by the volitions and aspirations, when I abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Do các nghiệp đã được làm tốt đẹp ấy và do các tác ý và ước nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa (Đao Lợi).
117.
117.
117.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, giribbajapuruttame;
Jātā seṭṭhikule phīte, sabbakāmasamiddhine.
And now in my final existence, I was born in Giribbaja, the best of cities, into a prosperous guild-master’s family, which was endowed with all sensual pleasures.
Và nay, ở trong kiếp sống cuối cùng, tôi đã được sanh ra ở thành phố Giribbaja (Vương Xá) cao quý, trong gia tộc của vị triệu phú thịnh vượng, người được thành tựu tất cả các dục lạc.
118.
118.
118.
‘‘Yadā rūpaguṇūpetā, paṭhame yobbane ṭhitā;
Tadā parakulaṃ gantvā, vasiṃ sukhasamappitā.
When, endowed with beauty and established in the prime of youth, I went to another’s family, I lived there endowed with happiness.
Khi được phú cho phẩm chất của sắc đẹp, đang trong thời kỳ đầu của tuổi thanh xuân, khi ấy sau khi đã đi đến gia đình của người khác, tôi đã sống và được hưởng sự an lạc.
119.
119.
119.
‘‘Upetvā lokasaraṇaṃ, suṇitvā dhammadesanaṃ;
Anāgāmiphalaṃ patto, sāmiko me subuddhimā.
My wise husband approached the refuge of the world, and having heard a discourse on the Dhamma, he attained the fruit of non-returning.
Người chồng của tôi, bậc có trí tuệ tốt, sau khi đã đi đến nơi nương tựa của thế gian và đã lắng nghe bài thuyết Pháp, đã đạt được quả vị Bất Lai.
120.
120.
120.
‘‘Tadāhaṃ anujānetvā, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Na cireneva kālena, arahattamapāpuṇiṃ.
Then, having been given permission by him, I went forth into homelessness. Before long, I attained arahantship.
Khi ấy, sau khi đã được cho phép, tôi đã xuất gia vào đời sống không nhà cửa. Và không bao lâu, tôi đã đạt được quả vị A-la-hán.
121.
121.
121.
‘‘Tadā upāsako so maṃ, upagantvā apucchatha;
Gambhīre nipuṇe pañhe, te sabbe byākariṃ ahaṃ.
Then that lay follower approached me and asked me deep and subtle questions. I explained them all.
Khi ấy, vị cận sự nam kia đã đến gần tôi, đã hỏi những câu hỏi sâu sắc, vi tế; tôi đã giải đáp tất cả các câu hỏi ấy.
122.
122.
122.
‘‘Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho, etadagge ṭhapesi maṃ;
‘Bhikkhuniṃ dhammakathikaṃ, nāññaṃ passāmi edisiṃ.
Pleased with that quality, the Conqueror placed me in the foremost position, saying: ‘Among the nuns who are preachers of the Dhamma, I do not see another like her.
Đấng Chiến Thắng, hoan hỷ về đức hạnh ấy, đã đặt tôi vào địa vị tối thượng, (nói rằng): ‘Ta không thấy vị tỳ-khưu-ni thuyết pháp nào khác giống như vị này.’
123.
123.
123.
‘Dhammadinnā yathā dhīrā, evaṃ dhāretha bhikkhavo’;
‘‘Evāhaṃ paṇḍitā homi †, nāyakenānukampitā.
‘As the wise Dhammadinnā is, so, bhikkhus, should you bear it in mind.’ Thus I am wise, having been shown compassion by the Leader.
‘Này các Tỳ khưu, Dhammadinnā là bậc trí tuệ như thế nào, các ông hãy ghi nhớ như vậy.’ Như thế, tôi đã là bậc trí tuệ, được bậc Lãnh Đạo thương tưởng.
124.
124.
124.
‘‘Pariciṇṇo mayā satthā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ;
Ohito garuko bhāro, bhavanetti samūhatā.
The Teacher has been attended to by me; the Buddha’s teaching has been done. The heavy burden has been laid down; the conduit to existence has been uprooted.
Tôi đã phụng sự bậc Đạo Sư, đã thực hành giáo pháp của Đức Phật. Gánh nặng đã được đặt xuống, dây dẫn đến hữu đã được nhổ lên.
125.
125.
125.
‘‘Yassatthāya pabbajitā, agārasmānagāriyaṃ;
That for the sake of which I went forth from the home into homelessness,
Vì mục đích nào tôi đã xuất gia, từ đời sống gia đình vào đời sống không gia đình;
So me attho anuppatto, sabbasaṃyojanakkhayo.
That goal of mine has been attained: the destruction of all fetters.
Mục đích ấy tôi đã đạt đến, đó là sự đoạn tận tất cả các kiết sử.
126.
126.
126.
‘‘Iddhīsu ca vasī homi, dibbāya sotadhātuyā;
Paracittāni jānāmi, satthusāsanakārikā.
I am a master of the spiritual powers and of the divine ear-element. I know the minds of others, a fulfiller of the Teacher’s instruction.
Tôi làm chủ về các thần thông, và về thiên nhĩ giới. Tôi biết tâm của người khác, là người thực hành giáo pháp của bậc Đạo Sư.
127.
127.
127.
‘‘Pubbenivāsaṃ jānāmi, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Khepetvā āsave sabbe, visuddhāsiṃ sunimmalā.
I know my former abodes, my divine eye is purified. Having exhausted all the taints, I am purified, utterly stainless.
Tôi biết các đời sống quá khứ, thiên nhãn đã được thanh lọc. Sau khi làm cạn kiệt tất cả các lậu hoặc, tôi đã được thanh tịnh, hoàn toàn không tỳ vết.
128.
128.
128.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
My defilements are burnt… I dwell free of taints.
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt... (vân vân)... tôi sống không còn lậu hoặc.
129.
129.
129.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha’s teaching has been done.
Sự đến của tôi thật là thiện lai... (vân vân)... giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
130.
130.
130.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ phân tích... (vân vân)... giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ dhammadinnā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the bhikkhunī Dhammadinnā spoke these verses.
Như vậy, tỳ-khưu-ni Dhammadinnā đã thuyết lên những kệ ngôn này.
Dhammadinnātheriyāpadānaṃ tatiyaṃ.
The Apadāna of the Elder Dhammadinnā, the Third.
Trưởng Lão Ni Sự Tích của Dhammadinnā, phẩm thứ ba.