Bản dịch
THI -ap22 — Ký Sự về Kisāgotamī
Kisāgotamītherīapadāna
BJT 693Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 694Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở một gia đình nọ trong (thành) Haṁsavatī. Tôi đã đi đến và đã nương nhờ vào bậc Quý Nhân ấy.
BJT 695Và tôi đã lắng nghe Giáo Pháp ngọt ngào của vị ấy bao gồm bốn Sự Thật, có phẩm vị tối thắng, đưa đến sự an lạc và tịnh lặng của vòng luân hồi.
BJT 696Và khi ấy, trong khi thiết lập vị tỳ khưu ni mặc y thô vào vị thế tối thắng, đấng Anh Hùng bậc Tối Thượng Nhân đã khen ngợi.
BJT 697Sau khi đã làm sanh lên niềm phỉ lạc không nhỏ nhoi, sau khi lắng nghe đức hạnh của vị tỳ khưu ni, tôi đã làm công việc phục vụ đến đức Phật tùy theo khả năng, tùy theo sức lực.
BJT 698Tôi đã quỳ xuống ở bậc Hiền Trí Anh Hùng ấy và đã ước nguyện vị thế ấy. Lúc đó, bậc Toàn Giác, đấng Lãnh Đạo đã nói lời tùy hỷ về sự lợi ích của vị thế (ấy) rằng:
BJT 699“Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 700(Người nữnày) sẽ trở thành nữ Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tựGiáo Pháp của vị(Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từGiáo Pháp, có tên là Gotamī.”
BJT 701Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.
BJT 702Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 703Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
BJT 704Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 705Tôi đã là người con gái thứ năm của vị (vua) ấy, được nổi danh với tên là Dhammā. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia.
BJT 706707. Cha đã không cho phép chúng tôi. Khi ấy, là những người con gái của đức vua khéo được nuôi dưỡng, chúng tôi đã thực hành Phạm hạnh của người thiếu nữ ngay tại nhà trong hai chục ngàn năm, không xao lãng. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
BJT 708Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
BJT 709Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, Kuṇḍalā, tôi, luôn cả Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
BJT 710Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 711Và trong kiếp cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra trong gia đình triệu phú bị lâm cảnh khốn cùng, không tài sản, bị khánh tận, và tôi đã được gả vào gia đình có tài sản.
BJT 712Ngoại trừ người chồng, những người còn lại giễu (tôi) là “Nữ nhân không tài sản.” Và đến khi tôi có con trai, khi ấy tôi đã được cảm tình của tất cả.
BJT 713Vào lúc đứa bé trai hiền hậu ấy, có cơ thể mềm mại, được nuôi dưỡng trong sung sướng, được yêu quý như chính mạng sống của tôi đã đi đến cõi chết.
BJT 714Bị dằn vặt bởi sầu muộn, có vẻ mặt thê lương, mắt đẫm lệ, miệng khóc than, tôi đã bồng ẳm thi thể đã chết. Trong lúc than vãn, tôi đã đi lang thang.
BJT 715Khi ấy, tự nhận định (sự việc) một mình tôi đã đi đến vị Đệ Nhất Lương Y và đã nói rằng: “Thưa ông, xin ông hãy cho thuốc đem lại sự sống cho con tôi.”
BJT 716Đấng Chiến Thắng, bậc rành rẽ về phương thức huấn luyện, đã nói rằng: “Những người chết không được tìm thấy ở tại ngôi nhà nào thì nàng hãy mang lại hạt cải từ nơi (ngôi nhà) ấy.”
BJT 717Khi ấy, tôi đã đi ở trong thành Sāvatthī, và đã không đạt được ngôi nhà như thế ấy. Do đó, tôi đã đạt được trí nhớ rằng: “Hạt cải ở đâu, từ nơi đâu?”
BJT 718Sau khi đã quăng bỏ thây chết, tôi đã đi đến đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Sau khi nhìn thấy tôi từ rất xa, vị có âm giọng ngọt ngào đã nói rằng:
BJT 719“Và người nào đã sống trăm năm không nhìn thấy sự sanh diệt, cuộc sống một ngày là tốt hơn đối với người đang nhìn thấy sự sanh diệt.
BJT 720Không phải là quy luật thuộc về ngôi làng, không phải là quy luật thuộc về phố chợ, quy luật này cũng không phải thuộc về một gia đình, mà thuộc về tất cả thế gian luôn cả chư Thiên; quy luật ấy chính là tính chất vô thường.”
BJT 721Sau khi lắng nghe lời kệ này, tôi đây đã làm cho Pháp nhãn được thanh tịnh. Sau đó, được hiểu rõ Chánh Pháp, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 722Trong khi đã được xuất gia như thế, trong khi gắn bó vào Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, trong thời gian không bao lâu tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 723Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.
BJT 724Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh. Sau khi đã quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi đã được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.
BJT 725Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.
BJT 726Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào đời sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến.
BJT 727Trí tuệ của tôi về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là trong sạch, không bợn nhơ, nhờ vào sự tác động của đức Phật tối thượng.
BJT 728Sau khi mang về từ đống rác, từ mộ địa, và thậm chí từ đường lộ, từ đó tôi đã thực hiện y hai lớp và đã mặc y thô.
BJT 729Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo, ở giữa các chúng đã thiết lập (tôi) vào vị thế tối thắng trong việc mặc y thô.
BJT 730Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 731Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 732Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Kisāgotamī đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Kisāgotamī là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Itthaṃ sudaṃ bhaddākuṇḍalakesā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the bhikkhunī Bhaddā Kuṇḍalakesā spoke these verses.
Như vậy, tỳ-khưu-ni Bhaddā Kuṇḍalakesā đã thuyết lên những kệ ngôn này.
2. Kisāgotamītherīapadānaṃ
2. The Apadāna of the elder nun Kisāgotamī
2. Ký sự về Trưởng lão ni Kisāgotamī.
55.
55.
55.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
‘The Victor named Padumuttara, who has gone beyond all phenomena, the Leader, arose in an aeon a hundred thousand aeons from this one.’
Một trăm ngàn kiếp trước đây, bậc Chiến Thắng tên là Padumuttara, người đã đến bờ kia của tất cả các pháp, vị Lãnh Đạo ấy đã xuất hiện.
56.
56.
56.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, jātā aññatare kule;
Upetvā taṃ naravaraṃ, saraṇaṃ samupāgamiṃ.
‘At that time, I was born in a certain family in Haṃsavatī. Having approached that best of men, I went for refuge.’
Khi ấy, tôi đã sanh ra trong một gia đình nào đó ở thành Haṃsavatī. Sau khi đến gần bậc Tối Thắng trong loài người ấy, tôi đã đi đến nơi nương tựa.
57.
57.
57.
‘‘Dhammañca tassa assosiṃ, catusaccūpasañhitaṃ;
Madhuraṃ paramassādaṃ, vaṭṭasantisukhāvahaṃ †.
‘And I heard his Dhamma, connected with the Four Truths, sweet, of supreme flavor, which stills the round of existence and brings happiness.’
Và tôi đã nghe pháp của Ngài, pháp liên quan đến Tứ Diệu Đế, ngọt ngào, có hương vị tối thượng, mang lại sự an tịnh của vòng luân hồi và sự an lạc.
58.
58.
58.
‘‘Tadā ca bhikkhuniṃ vīro, lūkhacīvaradhāriniṃ;
Ṭhapento etadaggamhi, vaṇṇayī purisuttamo.
‘Then the Hero, the supreme man, while placing a bhikkhunī who wore coarse robes in the foremost position, praised her.’
Và khi ấy, bậc Anh Hùng, bậc Tối Thượng trong loài người, trong khi đặt một vị tỳ khưu ni mặc y thô xấu vào vị trí tối thượng, đã tán dương (vị ấy).
59.
59.
59.
‘‘Janetvānappakaṃ pītiṃ, sutvā bhikkhuniyā guṇe;
Kāraṃ katvāna buddhassa, yathāsatti yathābalaṃ.
‘Having heard of the bhikkhunī’s virtues, I generated considerable joy. Having rendered service to the Buddha according to my ability and strength,’
Sau khi nghe các đức hạnh của vị tỳ khưu ni, tôi đã làm sanh khởi niềm hỷ lạc không nhỏ, và đã thực hiện sự cúng dường đến đức Phật tùy theo khả năng, tùy theo sức lực.
60.
60.
60.
‘‘Nipacca munivaraṃ taṃ, taṃ ṭhānamabhipatthayiṃ;
Tadānumodi sambuddho, ṭhānalābhāya nāyako.
‘having bowed down to that best of sages, I aspired for that same position. Then the Self-Enlightened One, the Leader, gave his approval for my attainment of that position.’
Sau khi đảnh lễ bậc Hiền Thánh tối thượng ấy, tôi đã phát nguyện (đạt được) vị trí ấy. Khi ấy, bậc Chánh Đẳng Giác, vị Lãnh Đạo, đã tùy hỷ cho sự thành tựu vị trí ấy (của tôi).
61.
61.
61.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘“A hundred thousand aeons from now, one sprung from the Okkāka clan, Gotama by name, will be the Teacher in the world.’
‘Một trăm ngàn kiếp sau, một vị sanh ra trong dòng dõi Okkāka, tên là Gotama theo dòng họ, một vị Đạo Sư sẽ có mặt ở trên đời.
62.
62.
62.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādā, orasā dhammanimmitā;
Kisāgotamī † nāmena, hessati satthu sāvikā’.
‘“An heir to his Dhamma, his legitimate spiritual daughter, created by the Dhamma, by the name of Kisāgotamī, she will be a disciple of the Teacher.”’
‘Sẽ có một người thừa tự pháp của vị ấy, người con gái sanh từ tâm, do pháp hóa sanh, tên là Kisāgotamī, sẽ là một nữ đệ tử của bậc Đạo Sư.’
63.
63.
63.
‘‘Taṃ sutvā muditā hutvā, yāvajīvaṃ tadā jinaṃ;
Mettacittā paricariṃ, paccayehi vināyakaṃ.
‘Hearing that, I was joyful, and for the rest of my life, with a mind of loving-kindness, I served the Victor, the Guide, with the requisites.’
Sau khi nghe điều đó, tôi trở nên hoan hỷ, và khi ấy, với tâm từ, tôi đã phụng sự bậc Chiến Thắng, vị Lãnh Đạo, với các vật dụng cho đến trọn đời.
64.
64.
64.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
‘By that well-done deed, and by my intentions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.’
Nhờ nghiệp thiện đã làm ấy, và nhờ các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
65.
65.
65.
‘‘Imamhi bhaddake kappe, brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena, uppajji vadataṃ varo.
‘In this fortunate aeon, a kinsman of Brahmā, of great fame, Kassapa by name, the best of speakers, arose.’
Trong hiền kiếp này, bậc Tối Thắng giữa những người thuyết giảng, thân quyến của Phạm Thiên, có danh tiếng lẫy lừng, mang danh hiệu Kassapa theo dòng tộc, đã xuất hiện.
66.
66.
66.
‘‘Upaṭṭhāko mahesissa, tadā āsi narissaro;
Kāsirājā kikī nāma, bārāṇasipuruttame.
‘At that time, the lord of men, the king of Kāsi named Kikī, was an attendant of the great seer in the excellent city of Bārāṇasī.’
Khi ấy, tại thành phố Bārāṇasī tối thượng, có vị vua của xứ Kāsi tên là Kiki, là người đứng đầu nhân loại, là người hộ độ của bậc Đại Sĩ.
67.
67.
67.
‘‘Pañcamī tassa dhītāsiṃ, dhammā nāmena vissutā;
Dhammaṃ sutvā jinaggassa, pabbajjaṃ samarocayiṃ.
I was his fifth daughter, renowned by the name Dhammā. Having heard the Dhamma of the Chief Victor, I requested to go forth.
Ta là người con gái thứ năm của vị vua ấy, nổi danh với tên gọi Dhammā. Sau khi nghe Pháp của bậc Tối Thắng, ta đã ưa thích việc xuất gia.
68.
68.
68.
‘‘Anujāni na no tāto, agāreva tadā mayaṃ;
Vīsavassasahassāni, vicarimha atanditā.
Our father did not give permission. Therefore, we remained in the household; for twenty thousand years we lived diligently.
Phụ vương đã không cho phép chúng tôi. Khi ấy, chúng tôi đã sống không mệt mỏi ngay tại gia trong suốt hai mươi ngàn năm.
69.
69.
69.
‘‘Komāribrahmacariyaṃ, rājakaññā sukhedhitā;
Buddhopaṭṭhānaniratā, muditā satta dhītaro.
We seven royal daughters, raised in comfort, joyfully devoted to attending on the Buddha, lived the maiden’s holy life.
Bảy người con gái, những công chúa được nuôi dưỡng trong an lạc, đã hoan hỷ thực hành phạm hạnh của thiếu nữ, chuyên tâm phụng sự Đức Phật.
70.
70.
70.
‘‘Samaṇī samaṇaguttā ca, bhikkhunī bhikkhudāyikā;
Dhammā ceva sudhammā ca, sattamī saṅghadāyikā.
Samaṇī and Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāyikā, Dhammā and Sudhammā, and the seventh was Saṅghadāyikā.
Đó là Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāyikā, Dhammā, và Sudhammā, người thứ bảy là Saṅghadāyikā.
71.
71.
71.
‘‘Khemā uppalavaṇṇā ca, paṭācārā ca kuṇḍalā;
Ahañca dhammadinnā ca, visākhā hoti sattamī.
Khemā and Uppalavaṇṇā, Paṭācārā and Kuṇḍalā, myself and Dhammadinnā; Visākhā is the seventh.
Đó là Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, và Kuṇḍalā; cả ta và Dhammadinnā; Visākhā là người thứ bảy.
72.
72.
72.
‘‘Tehi kammehi sukatehi, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By those well-done deeds, and by my intentions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Nhờ những nghiệp lành đã làm ấy, và nhờ những tâm nguyện và ước nguyện, sau khi từ bỏ thân người, ta đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa.
73.
73.
73.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, jātā seṭṭhikule ahaṃ;
Duggate adhane naṭṭhe †, gatā ca sadhanaṃ kulaṃ.
And now in this final existence, I was born into the family of a treasurer that was impoverished, destitute, and ruined; and I went to a wealthy family.
Và nay, trong kiếp sống cuối cùng này, ta được sinh ra trong một gia đình trưởng giả nghèo khó, không tài sản, đã sa sút, và sau đó đã đến một gia đình giàu có.
74.
74.
74.
‘‘Patiṃ ṭhapetvā sesā me, dessanti adhanā iti;
Yadā ca pasūtā † āsiṃ, sabbesaṃ dayitā tadā.
Except for my husband, the others despised me, saying, ‘She is poor.’ But when I gave birth, I then became dear to all of them.
Ngoại trừ chồng ta, những người còn lại khinh ghét ta, cho rằng ta là người không có tài sản. Nhưng khi ta sinh con, lúc ấy ta được mọi người yêu mến.
75.
75.
75.
‘‘Yadā so taruṇo bhaddo †, komalako † sukhedhito;
Sapāṇamiva kanto me, tadā yamavasaṃ gato.
When that excellent youth, tender and raised in comfort, who was as dear to me as my own life, then came under the sway of Yama.
Khi đứa con trai ấy còn trẻ trung, tốt đẹp, mềm mại, được nuôi dưỡng trong an lạc, được ta yêu quý như mạng sống của mình, thì nó đã đi đến cõi của thần chết.
76.
76.
76.
‘‘Sokaṭṭā dīnavadanā, assunettā rudammukhā;
Mataṃ kuṇapamādāya, vilapantī gamāmahaṃ.
Afflicted by sorrow, with a wretched face, tearful eyes, and a weeping countenance, taking up the dead corpse, I went about wailing.
Bị sầu muộn giày vò, với vẻ mặt thiểu não, mắt đẫm lệ, mặt mày khóc lóc, ta mang theo xác chết của con và đi lang thang than khóc.
77.
77.
77.
‘‘Tadā ekena sandiṭṭhā, upetvābhisakkuttamaṃ;
Avocaṃ dehi bhesajjaṃ, puttasañjīvananti bho.
Then, being directed by someone, I approached the supreme physician and said: ‘Sir, please give me medicine to revive my son.’
Khi ấy, được một người chỉ dẫn, ta đã đến gặp bậc y sĩ tối thượng và nói rằng: 'Thưa ngài, xin hãy cho thuốc làm cho con trai tôi sống lại.'
78.
78.
78.
‘‘Na vijjante matā yasmiṃ, gehe siddhatthakaṃ tato;
Āharāti jino āha, vinayopāyakovido.
The Victor, skilled in the means of training, said: ‘Bring a mustard seed from a house in which no one has died.’
Bậc Chiến Thắng, người thông thạo phương tiện giáo hóa, đã phán rằng: 'Hãy mang về đây hạt cải từ một ngôi nhà nơi chưa từng có người chết.'
79.
79.
79.
‘‘Tadā gamitvā sāvatthiṃ, na labhiṃ tādisaṃ gharaṃ;
Kuto siddhatthakaṃ tasmā, tato laddhā satiṃ ahaṃ.
Then, having gone about Sāvatthī, I did not find such a house. From where, then, a mustard seed? At that point, I regained mindfulness.
Khi ấy, sau khi đi khắp thành Sāvatthī, ta đã không tìm được một ngôi nhà như vậy. Do đó, làm sao có được hạt cải? Bấy giờ, ta đã lấy lại được chánh niệm.
80.
80.
80.
‘‘Kuṇapaṃ chaḍḍayitvāna, upesiṃ lokanāyakaṃ;
Dūratova mamaṃ disvā, avoca madhurassaro.
Having discarded the corpse, I approached the Leader of the World. Seeing me from afar, he of the sweet voice spoke:
Sau khi vứt bỏ xác chết, ta đã đến gần bậc Lãnh Đạo Thế Gian. Nhìn thấy ta từ xa, Ngài với giọng nói ngọt ngào đã phán rằng:
81.
81.
81.
‘‘‘Yo ca vassasataṃ jīve, apassaṃ udayabbayaṃ;
Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo, passato udayabbayaṃ.
‘Though one should live a hundred years not seeing arising and passing away, better is a single day’s life for one who sees arising and passing away.
‘Người nào sống một trăm năm mà không thấy được sự sinh và diệt, thì cuộc sống một ngày của người thấy được sự sinh và diệt còn cao thượng hơn.’
82.
82.
82.
‘‘‘Na gāmadhammo nigamassa dhammo, na cāpiyaṃ ekakulassa dhammo;
Sabbassa lokassa sadevakassa, eseva dhammo yadidaṃ aniccatā’.
‘This is not a law of a village, nor a law of a town, nor is this a law of a single family. For the entire world with its gods, this alone is the law: that is, impermanence.’
‘Đây không phải là pháp của một làng, không phải là pháp của một thị trấn, cũng không phải là pháp của một gia đình. Đây chính là pháp của toàn thể thế gian cùng với cõi trời, đó là: sự vô thường.’
83.
83.
83.
‘‘Sāhaṃ sutvānimā † gāthā, dhammacakkhuṃ visodhayiṃ;
Tato viññātasaddhammā, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Having heard these verses, I purified the eye of the Dhamma. Then, having understood the true Dhamma, I went forth into the homeless life.
Sau khi nghe những câu kệ này, ta đã thanh lọc được pháp nhãn. Sau đó, khi đã liễu tri chánh pháp, ta đã xuất gia vào đời sống không nhà.
84.
84.
84.
‘‘Tathā pabbajitā santī, yuñjantī jinasāsane;
Na cireneva kālena, arahattamapāpuṇiṃ.
Having thus gone forth, striving in the Victor’s Dispensation, in no long time I attained Arahantship.
Sau khi xuất gia như vậy, ta đã nỗ lực trong giáo pháp của bậc Chiến Thắng, và không bao lâu sau, ta đã chứng đắc quả A-la-hán.
85.
85.
85.
‘‘Iddhīsu ca vasī homi, dibbāya sotadhātuyā;
Paracittāni jānāmi, satthusāsanakārikā.
I am a master of the spiritual powers and of the divine ear element. I know the minds of others; I am a doer of the Teacher’s instruction.
Ta đã làm chủ các thần thông, và thiên nhĩ giới. Ta biết được tâm của người khác, và là người thực hành giáo huấn của bậc Đạo Sư.
86.
86.
86.
‘‘Pubbenivāsaṃ jānāmi, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Khepetvā āsave sabbe, visuddhāsiṃ sunimmalā.
I know my former lives, my divine eye is purified; having exhausted all the taints, I have become purified, utterly stainless.
Ta biết được các kiếp sống quá khứ, thiên nhãn của ta đã được thanh lọc. Sau khi đã đoạn tận tất cả các lậu hoặc, ta đã trở nên thanh tịnh, hoàn toàn không tỳ vết.
87.
87.
87.
‘‘Pariciṇṇo mayā satthā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ;
Ohito garuko bhāro, bhavanetti samūhatā.
The Teacher has been served by me, the Buddha’s teaching has been done; the heavy burden is laid down, the conduit to existence is uprooted.
Ta đã phụng sự bậc Đạo Sư, đã thực hành giáo huấn của Đức Phật. Gánh nặng đã được đặt xuống, dây dẫn đến tái sinh đã được nhổ bật.
88.
88.
88.
‘‘Yassatthāya pabbajitā, agārasmānagāriyaṃ;
So me attho anuppatto, sabbasaṃyojanakkhayo.
The goal for which I went forth from the home to the homeless life—that goal has been reached by me: the destruction of all fetters.
Mục đích mà vì đó ta đã từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, mục đích ấy ta đã đạt được, đó là sự đoạn tận tất cả các kiết sử.
89.
89.
89.
‘‘Atthadhammaniruttīsu, paṭibhāne tatheva ca;
Ñāṇaṃ me vimalaṃ suddhaṃ, buddhaseṭṭhassa vāhasā.
In meaning, Dhamma, and language, and in inspiration too, my knowledge is immaculate and pure, through the might of the Best of Buddhas.
Trong các phân tích về ý nghĩa, pháp, và ngôn ngữ, và cũng như vậy trong biện tài, trí tuệ của ta không tỳ vết và thanh tịnh, nhờ vào năng lực của bậc Tối Thắng Giả.
90.
90.
90.
‘‘Saṅkārakūṭā āhitvā, susānā rathiyāpi ca;
Tato saṅghāṭikaṃ katvā, lūkhaṃ dhāremi cīvaraṃ.
Having gathered rags from rubbish heaps, charnel grounds, and streets, I made a patchwork robe from them and wear this coarse garment.
Sau khi thu lượm vải từ đống rác, từ nghĩa địa, và cả từ đường phố, ta đã làm thành y kép và mặc y phục thô xấu.
91.
91.
91.
‘‘Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho, lūkhacīvaradhāraṇe;
Ṭhapesi etadaggamhi, parisāsu vināyako.
The Victor, the Guide, was pleased with that quality of wearing coarse robes, and he placed me in the foremost position in the assemblies.
Bậc Chiến Thắng, bậc Lãnh Đạo, hài lòng với đức hạnh ấy của ta, việc mặc y phục thô xấu, đã đặt ta vào vị trí tối thượng giữa các hội chúng.
92.
92.
92.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
My defilements are burnt up… I dwell free from taints.
Các phiền não của ta đã được đốt cháy... (vân vân)... ta sống không còn lậu hoặc.
93.
93.
93.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha’s teaching has been done.
Sự đến của ta thật là khéo đến... (vân vân)... giáo huấn của Đức Phật đã được thực hành.
94.
94.
94.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.”
Bốn Tuệ Phân Tích... (vân vân)... giáo huấn của Đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ kisāgotamī bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus it is said that the bhikkhunī Kisāgotamī spoke these verses.
Như vậy, Tỳ-khưu-ni Kisāgotamī đã nói lên những câu kệ này.
Kisāgotamītheriyāpadānaṃ dutiyaṃ.
The second Apadāna of the Therī Kisāgotamī.
Phẩm Trưởng Lão Ni Kệ của Tỳ-khưu-ni Kisāgotamī thứ hai.