Bản dịch
THI -ap21 — Ký Sự về Kuṇḍalakesā
1 Kuṇḍalakesātherīapadāna
BJT 639Trước đây một trăm ngàn kiếp, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp, đấng Lãnh Đạo đã hiện khởi.
BJT 640Khi ấy, tôi đã được sanh ra tại Haṁsavatī, trong gia đình triệu phú được rạng rỡ bởi vô số loại châu báu, được đầy đủ với những lạc thú lớn lao.
BJT 641Tôi đã đi đến đấng Đại Hùng ấy và đã lắng nghe lời giảng Pháp. Sau đó, có niềm tịnh tín sanh khởi, tôi đã đi đến nương tựa vào đấng Chiến Thắng.
BJT 642Khi ấy, đấng Đại Bi tên Padumuttara đã thiết lập tỳ khưu ni Subhā vào vị thế tối thắng trong số các vị ni có thắng trí nhạy bén.
BJT 643Sau khi nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ và đã dâng cúng vật thí đến bậc Đại Ẩn Sĩ, rồi đã quỳ xuống đê đầu ở bàn chân và đã phát nguyện vị thế ấy.
BJT 644Đấng Đại Hùng đã nói lời tùy hỷ rằng: “Này cô gái hiền thục, điều nào đã được nàng ước nguyện toàn bộ điều ấy sẽ được thành tựu. Hãy được an lạc, hãy được Niết Bàn.
BJT 645Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 646Nàng sẽ là Bhaddā Kuṇḍakesā, nữ Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tựGiáo Pháp của vị(Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từGiáo Pháp.”
BJT 647Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 648Từ nơi ấy chết đi, tôi đã đi đến cõi trời Dạ Ma, từ đó đã đi đến cõi trời Đẩu Suất, và từ đó đến cõi Hóa Lạc Thiên, rồi từ đó đến cõi Tha Hóa Tự Tại.
BJT 649Do mãnh lực của nghiệp ấy, ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra, tôi đều đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua ở chính tại các nơi ấy.
BJT 650Từ nơi ấy chết đi, (sanh lên) ở giữa loài người tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua có quyền lực và của các vị vua có lãnh thổ.
BJT 651Tôi đã thọ hưởng sự thành công ở giữa chư Thiên và nhân loại, tôi đã được an vui ở trong mọi nơi, tôi đã luân hồi vô số (đại) kiếp.
BJT 652Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
BJT 653Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 654Tôi đã là người con gái thứ tư của vị (vua) ấy được nổi danh là “Bhikkhudāsī.” Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia.
BJT 655656. Cha đã không cho phép chúng tôi. Khi ấy, là những người con gái của đức vua khéo được nuôi dưỡng, chúng tôi đã thực hành Phạm hạnh của người thiếu nữ ngay tại nhà trong hai chục ngàn năm, không xao lãng. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
BJT 657Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
BJT 658Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, thêm vào tôi, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
BJT 659Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 660Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra tại kinh thành Giribbaja, trong gia đình triệu phú thịnh vượng. Rồi đến lúc tôi đã ở vào lứa tuổi thanh xuân.
BJT 661Sau khi nhìn thấy kẻ trộm đang bị dẫn đi để xử tử, tôi đã bị luyến ái với gã. Do đó, cha của tôi đã giải cứu gã ấy khỏi cái chết bằng ngàn đồng tiền.
BJT 662Sau khi biết được tâm ý của tôi, cha đã ban gã ấy cho tôi. Tôi đã trở nên thân thiết, vô cùng yêu thương, gắn bó đối với gã ấy.
BJT 663Vì lòng tham đối với các đồ trang sức của tôi, gã nghịch thù ấy có ý định gây tội đã đưa (tôi) đến ngọn núi có vực thẳm Kẻ Trộm và đã nghĩ đến việc giết chết (tôi).
BJT 664Khi ấy, trong lúc bảo vệ mạng sống của mình, tôi đã cúi lạy, nghiêm chỉnh chắp tay lại với người chồng, và đã nói lời nói này:
BJT 665“Thưa tướng công, vàng vòng ngọc trai ngọc bích này có nhiều, xin chàng hãy tự mang đi tất cả. Và hãy thông báo rằng thiếp là ‘Nô tỳ.’”
BJT 666“Này người đẹp, nàng phải chết. Chớ than vãn nhiều quá. Và ta biết chắc rằng không giết thì tài sản không mang đi được.”
BJT 667“Kể từ khi thiếp ghi nhớ được bản thân, kể từ khi thiếp đạt được sự hiểu biết, và thiếp biết chắc rằng không ai khác được yêu thương hơn là chàng.
BJT 668Xin chàng hãy đến, thiếp sẽ ôm lấy chàng và sẽ nhiễu quanh chàng. Và giờ đây không còn có sự gần gũi nào giữa thiếp và chàng nữa.”
BJT 669Không hẳn trong mọi trường hợp người nam là khôn ngoan. Người nữ có sự cẩn thật nhiều bề cũng là khôn ngoan.
BJT 670Không hẳn trong mọi trường hợp người nam là khôn ngoan. Người nữ cân nhắc điều lợi ích một cách mau chóng cũng là khôn ngoan.
BJT 671Quả nhiên, một cách nhẹ nhàng và mau chóng tôi đã suy nghĩ mưu kế. Giống như bộ lông (giết chết) con thú, khi ấy tôi đã giết chết gã Sattuka như thế.
BJT 672Và người nào không mau chóng nhận ra điều lợi ích đã bị vuột mất, người có trí kém cỏi ấy sẽ bị giết như là kẻ trộm ở hẻm núi.
BJT 673Và người nào thật mau chóng nhận ra điều lợi ích đã bị vuột mất, (người ấy) thoát khỏi sự quấy rối của kẻ thù, giống như tôi và Sattuka vào lúc ấy vậy.
BJT 674Khi ấy, tôi đã quăng gã Sattuka ấy vào hóc núi, rồi đã đi đến gặp những người (ngoại đạo) mặc vải trắng, và đã xuất gia.
BJT 675Và khi ấy, sau khi đã nhổ lên toàn bộ những sợi tóc của tôi bằng nhíp, họ đã cho tôi xuất gia và đã chỉ dạy giáo lý không có gián đoạn.
BJT 676677. Tôi đã học xong (giáo lý) ấy từ họ. Tôi đã ngồi xuống mỗi một mình và đã suy xét về (giáo lý) ấy. Có con chó tha bàn tay người đã bị đứt lìa và đã đánh rơi ở cạnh tôi rồi bỏ chạy. Sau khi nhìn thấy cảnh tượng (ấy), tôi đã nhặt lấy bàn tay có đầy dòi bọ ấy.
BJT 678Sau khi từ chỗ ấy đứng dậy, bị chấn động tôi đã hỏi những người đồng đạo. Họ đã nói rằng: “Những vị tỳ khưu dòng Sakya biết rõ ý nghĩa ấy.”
BJT 679(Nghĩ rằng) “Ta sẽ hỏi ý nghĩa ấy,” tôi đây đã đi đến các vị Thinh Văn của đức Phật. Sau khi đón nhận tôi, các vị ấy đã đi đến bên đức Phật Tối Thượng.
BJT 680Và đấng Lãnh Đạo ấy đã thuyết Pháp cho tôi về: “Uẩn, xứ, giới, đề mục bất mỹ, vô thường, khổ não, vô ngã.”
BJT 681682. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của vị ấy, tôi đã làm cho Pháp nhãn được thanh tịnh. Sau đó, được hiểu rõ Chánh Pháp, tôi đã yêu cầu sự xuất gia và sự tu lên bậc trên. Khi ấy, đấng Lãnh Đạo ấy đã nói rằng: “Này cô gái hiền thục, hãy đến.” Khi ấy, tôi đã được tu lên bậc trên. Tôi đã nhìn thấy một ít nước.
BJT 683Với sự rửa sạch bàn chân, tôi đã biết được là có sự tiêu hoại với nước. Khi ấy, tôi đã tự suy xét rằng: “Tất cả các hành cũng là tương tợ như thế.”
BJT 684Do đó, tâm tôi đã được giải thoát trọn vẹn không còn chấp thủ. Khi ấy, đấng Chiến Thắng đã tuyên bố tôi là đứng đầu trong số các vị ni có thắng trí nhạy bén.
BJT 685Là người thực hành theo lời dạy của bậc Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.
BJT 686Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh. Sau khi đã quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi đã được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.
BJT 687Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.
BJT 688Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào đời sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các điều trói buộc đã được tôi đạt đến.
BJT 689Trí tuệ của tôi về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là bao la, trong sạch ở Giáo Pháp của đức Phật tối thượng.
BJT 690Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 691Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 692Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Bhaddā Kuṇḍalakesā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. The Kuṇḍalakesī Chapter
3. Phẩm Kuṇḍalakesī
1. Kuṇḍalakesātherīapadānaṃ
1. The Apadāna of the Elder Nun Kuṇḍalakesā
1. Trưởng Lão Ni Kệ Sự của Kuṇḍalakesā
1.
1.
1.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
The Conqueror named Padumuttara, who had gone to the far shore of all dhammas, that Leader arose a hundred thousand aeons from this one.
“Cách đây một trăm ngàn kiếp, Đấng Chiến Thắng danh hiệu Padumuttara, bậc Lãnh Đạo, bậc đã đến bờ kia của tất cả các pháp, đã xuất hiện.”
2.
2.
2.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, jātā seṭṭhikule ahuṃ;
Nānāratanapajjote, mahāsukhasamappitā.
At that time, I was born in a banker’s family in the city of Haṃsavatī, which was resplendent with various jewels and endowed with great happiness.
“Khi ấy, tại thành Haṃsavatī, tôi đã sanh trong một gia đình trưởng giả, sáng chói với nhiều loại châu báu, đầy đủ hạnh phúc lớn lao.”
3.
3.
3.
‘‘Upetvā taṃ mahāvīraṃ, assosiṃ dhammadesanaṃ;
Tato jātappasādāhaṃ, upesiṃ saraṇaṃ jinaṃ.
Having approached that Great Hero, I heard his Dhamma discourse; then, with confidence arisen, I went for refuge to the Conqueror.
“Sau khi đến gần bậc Đại Hùng, tôi đã nghe pháp thoại. Khi ấy, với tín tâm phát sanh, tôi đã quy y Đấng Chiến Thắng.”
4.
4.
4.
‘‘Tadā mahākāruṇiko, padumuttaranāmako;
Khippābhiññānamagganti, ṭhapesi bhikkhuniṃ subhaṃ.
Then the greatly compassionate one named Padumuttara appointed a bhikkhunī named Subhā as foremost among those of quick direct knowledge.
“Khi ấy, bậc Đại Bi, danh hiệu Padumuttara, đã bổ nhiệm Tỳ-khưu-ni Subhā vào địa vị tối thắng trong các vị có thắng trí nhanh chóng.”
5.
5.
5.
‘‘Taṃ sutvā muditā hutvā, dānaṃ datvā mahesino;
Nipacca sirasā pāde, taṃ ṭhānamabhipatthayiṃ.
Having heard that, becoming joyful, and having given a gift to the Great Seer and bowed with my head at his feet, I aspired to that position.
“Nghe điều ấy, tôi hoan hỷ, cúng dường đến bậc Đại Thánh, đảnh lễ dưới chân Ngài, và đã phát nguyện đạt được địa vị ấy.”
6.
6.
6.
‘‘Anumodi mahāvīro, ‘bhadde yaṃ tebhipatthitaṃ;
Samijjhissati taṃ sabbaṃ, sukhinī hohi nibbutā.
The Great Hero gave his blessing: ‘Good lady, all that you have aspired to will be fulfilled. Be happy and at peace.’
“Bậc Đại Hùng đã tùy hỷ: ‘Này thiện nữ, điều mà con đã phát nguyện, tất cả điều ấy sẽ được thành tựu. Con hãy có được an lạc và tịch tịnh.’”
7.
7.
7.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘A hundred thousand aeons from now, one born of the Okkāka clan, named Gotama by clan, will be a Teacher in the world.’
“‘Một trăm ngàn kiếp kể từ nay, một vị sanh trong dòng dõi Okkāka, mang danh hiệu Gotama theo dòng họ, một bậc Đạo Sư sẽ xuất hiện trên thế gian.’”
8.
8.
8.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādā, orasā dhammanimmitā;
Bhaddākuṇḍalakesāti, hessati satthu sāvikā’.
‘An heir in his Dhamma, a legitimate child fashioned by the Dhamma, she will be a disciple of the Teacher, named Bhaddā Kuṇḍalakesā’.
‘Vị ấy sẽ là người thừa tự trong các Pháp của vị ấy, là người con gái được sanh ra từ ngực, do Pháp hóa sanh; với tên gọi Bhaddākuṇḍalakesā, vị ấy sẽ là nữ đệ tử của bậc Đạo Sư’.
9.
9.
9.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done kamma, and by my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Do nghiệp đã được thực hiện tốt đẹp ấy, và do các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
10.
10.
10.
‘‘Tato cutā yāmamagaṃ, tatohaṃ tusitaṃ gatā;
Tato ca nimmānaratiṃ, vasavattipuraṃ tato.
Having passed away from there, I went to the Yāma heaven; from there I went to the Tusita heaven; from there to the Nimmānarati heaven; and from there to the city of the Vasavattins.
Sau khi mệnh chung từ cõi ấy, tôi đã đi đến cõi trời Dạ Ma, từ đó tôi đã đi đến cõi trời Đâu Suất. Và từ đó đến cõi trời Hóa Lạc, rồi từ đó đến trú xứ của chư vị trời Tha Hóa Tự Tại.
11.
11.
11.
‘‘Yattha yatthūpapajjāmi, tassa kammassa vāhasā;
Tattha tattheva rājūnaṃ, mahesittamakārayiṃ.
By the force of that kamma, wherever I was reborn, right there I exercised the sovereignty of a chief queen to the kings.
Bất cứ nơi nào tôi tái sanh, do năng lực của nghiệp ấy, chính tại nơi đó tôi đã làm chánh hậu của các đức vua.
12.
12.
12.
‘‘Tato cutā manussesu, rājūnaṃ cakkavattinaṃ;
Maṇḍalīnañca rājūnaṃ, mahesittamakārayiṃ.
Having passed away from there, among humans I exercised the sovereignty of a chief queen to wheel-turning monarchs and to regional kings.
Sau khi mệnh chung từ cõi ấy, ở giữa loài người, tôi đã làm chánh hậu của các vị vua Chuyển Luân và của các vị vua chư hầu.
13.
13.
13.
‘‘Sampattiṃ anubhotvāna, devesu mānusesu ca;
Sabbattha sukhitā hutvā, nekakappesu saṃsariṃ.
Having experienced prosperity among gods and humans, being happy everywhere, I wandered in saṃsāra for many aeons.
Sau khi hưởng thụ tài sản ở cõi trời và cõi người, và được an lạc ở khắp mọi nơi, tôi đã luân hồi trong nhiều đại kiếp.
14.
14.
14.
‘‘Imamhi bhaddake kappe, brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena, uppajji vadataṃ varo.
In this fortunate aeon, there arose the kinsman of Brahmā, of great fame, Kassapa by clan name, the best of speakers.
Trong kiếp hiền thiện này, bậc Tối Thắng giữa các bậc thuyết giảng, thân tộc của Phạm Thiên, bậc có danh tiếng lẫy lừng, với tên gọi Kassapa theo dòng họ, đã sanh khởi.
15.
15.
15.
‘‘Upaṭṭhāko mahesissa, tadā āsi narissaro;
Kāsirājā kikī nāma, bārāṇasipuruttame.
At that time, the lord of men, King Kikī of Kāsī, was an attendant of the great seer in the excellent city of Bārāṇasī.
Vào lúc bấy giờ, ở tại thành phố Bārāṇasī cao quý, vị vua của xứ Kāsī tên là Kikī, bậc lãnh đạo loài người, là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
16.
16.
16.
‘‘Tassa dhītā catutthāsiṃ, bhikkhudāyīti vissutā;
Dhammaṃ sutvā jinaggassa, pabbajjaṃ samarocayiṃ.
I was his fourth daughter, renowned as Bhikkhudāyikā. Having heard the Dhamma of the Chief Conqueror, I took delight in the going forth.
Tôi là người con gái thứ tư của vị vua ấy, nổi danh là Bhikkhudāyikā. Sau khi nghe Pháp của bậc Tối Thắng, tôi đã ưa thích việc xuất gia.
17.
17.
17.
‘‘Anujāni na no tāto, agāreva tadā mayaṃ;
Vīsavassasahassāni, vicarimha atanditā.
Our father did not give us permission, so we remained in the home. For twenty thousand years we practiced diligently.
Thân phụ đã không cho phép chúng tôi. Vào lúc bấy giờ, chúng tôi đã sống không mệt mỏi ngay tại gia trong hai mươi ngàn năm.
18.
18.
18.
‘‘Komāribrahmacariyaṃ, rājakaññā sukhedhitā;
Buddhopaṭṭhānaniratā, muditā satta dhītaro.
We seven daughters, royal princesses brought up in comfort, joyfully practiced the celibate life of maidens, delighting in attending on the Buddha.
Bảy người con gái, các công chúa được nuôi dưỡng trong an lạc, đã thực hành phạm hạnh của thiếu nữ, luôn hoan hỷ và tận tụy trong việc hộ độ đức Phật.
19.
19.
19.
‘‘Samaṇī samaṇaguttā ca, bhikkhunī bhikkhudāyikā;
Dhammā ceva sudhammā ca, sattamī saṅghadāyikā.
Samaṇī and Samaṇaguttā, Bhikkhunī and Bhikkhudāyikā, Dhammā and Sudhammā, and the seventh, Saṅghadāyikā.
Samaṇī, và Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāyikā, và Dhammā, và Sudhammā, người thứ bảy là Saṅghadāyikā.
20.
20.
20.
‘‘Khemā uppalavaṇṇā ca, paṭācārā ahaṃ tadā;
Kisāgotamī dhammadinnā, visākhā hoti sattamī.
Then, they were Khemā and Uppalavaṇṇā, Paṭācārā and myself, Kisāgotamī and Dhammadinnā; Visākhā was the seventh.
Vào lúc bấy giờ, Khemā, và Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, và tôi, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và Visākhā là người thứ bảy.
21.
21.
21.
‘‘Tehi kammehi sukatehi, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By those well-done deeds and by my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Do các nghiệp đã được thực hiện tốt đẹp ấy, và do các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
22.
22.
22.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, giribbajapuruttame;
Jātā seṭṭhikule phīte, yadāhaṃ yobbane ṭhitā.
Now in my final existence, I was born in a prosperous banker’s family in the excellent city of Giribbaja. When I reached my youth,
Và bây giờ, trong kiếp sống cuối cùng, tôi đã được sanh ra trong gia đình của một vị trưởng giả giàu có ở tại thành phố Giribbaja cao quý, vào lúc tôi đang trong tuổi thanh xuân.
23.
23.
23.
‘‘Coraṃ vadhatthaṃ nīyantaṃ, disvā rattā tahiṃ ahaṃ;
Pitā me taṃ sahassena, mocayitvā vadhā tato.
seeing a thief being led to his execution, I became infatuated with him. My father ransomed him from that execution with a thousand coins.
Sau khi nhìn thấy tên trộm đang bị dẫn đi để hành quyết, tôi đã say mê y. Thân phụ của tôi, sau khi dùng một ngàn (đồng tiền) để giải thoát y khỏi bị hành quyết,...
24.
24.
24.
‘‘Adāsi tassa maṃ tāto, viditvāna manaṃ mama;
Tassāhamāsiṃ visaṭṭhā, atīva dayitā hitā.
My father gave me to him, having understood my mind. I was devoted to him, exceedingly dear and a well-wisher.
...thân phụ, sau khi biết được tâm ý của tôi, đã gả tôi cho y. Tôi đã rất tận tụy, hết mực thương yêu, và có ích cho y.
25.
25.
25.
‘‘So me bhūsanalobhena, balimajjhāsayo † diso;
Corappapātaṃ netvāna, pabbataṃ cetayī vadhaṃ.
Greedy for my ornaments, that scoundrel, intending a sacrificial offering, led me to the mountain called Robbers’ Cliff, planning my death.
Do lòng tham các đồ trang sức của tôi, kẻ thù ấy đã có ý định tế lễ. Sau khi dẫn tôi đến ngọn núi có vực thẳm của kẻ trộm, y đã có ý định giết tôi.
26.
26.
26.
‘‘Tadāhaṃ paṇamitvāna, sattukaṃ sukatañjalī;
Rakkhantī attano pāṇaṃ, idaṃ vacanamabraviṃ.
Then, bowing down to that enemy with my hands raised in respectful salutation, protecting my own life, I spoke these words:
Vào lúc bấy giờ, sau khi chắp tay cung kính vái chào Sattuka, trong khi bảo vệ mạng sống của mình, tôi đã nói lên lời này:
27.
27.
27.
‘‘‘Idaṃ suvaṇṇakeyūraṃ, muttā veḷuriyā bahū;
Sabbaṃ harassu † bhaddante, mañca dāsīti sāvaya’.
‘These golden bracelets, these many pearls and beryls—take them all, good sir, and announce that I am your slave.’
‘Thưa ngài, xin hãy lấy chiếc vòng tay bằng vàng này, và nhiều ngọc trai, ngọc lưu ly. Xin hãy lấy đi tất cả, và hãy tuyên bố tôi là người nữ tỳ của ngài’.
28.
28.
28.
‘‘‘Oropayassu kalyāṇī, mā bāḷhaṃ paridevasi;
Na cāhaṃ abhijānāmi, ahantvā dhanamābhataṃ’.
‘Take off your ornaments, lovely one, and do not lament so much. For I do not recall ever taking wealth without killing.’
‘Này người phụ nữ xinh đẹp, hãy cởi đồ trang sức ra, đừng than khóc quá nhiều. Ta không hề biết việc lấy đi của cải mà không giết người’.
29.
29.
29.
‘‘‘Yato sarāmi attānaṃ, yato pattosmi viññutaṃ;
Na cāhaṃ abhijānāmi, aññaṃ piyataraṃ tayā’.
‘From when I remember myself, from when I have attained discernment, I do not know anyone dearer than you.’
‘Kể từ khi tôi có thể nhớ về bản thân mình, kể từ khi tôi đạt được sự hiểu biết, tôi không hề biết đến người nào khác thân thương hơn ngài’.
30.
30.
30.
‘‘‘Ehi taṃ upagūhissaṃ, katvāna taṃ padakkhiṇaṃ;
Na ca dāni puno atthi †, mama tuyhañca saṅgamo.
‘Come, having circumambulated you respectfully, I shall embrace you; for there will be no further meeting for you and me.’
‘Xin hãy đến đây, tôi sẽ ôm lấy ngài, sau khi đi quanh ngài theo chiều bên phải. Giờ đây sẽ không còn có sự gặp gỡ nào nữa cho tôi và cho ngài’.
31.
31.
31.
‘‘‘Na hi sabbesu ṭhānesu, puriso hoti paṇḍito;
Itthīpi paṇḍitā hoti, tattha tattha vicakkhaṇā.
‘Indeed, not in all matters is a man wise; a woman too is wise, discerning in various matters.’
‘Thật vậy, không phải trong mọi trường hợp người đàn ông là bậc hiền trí. Người phụ nữ cũng là bậc hiền trí, sáng suốt trong các trường hợp khác nhau’.
32.
32.
32.
‘‘‘Na hi sabbesu ṭhānesu, puriso hoti paṇḍito;
Itthīpi paṇḍitā hoti, lahuṃ atthavicintikā.
‘Indeed, not in all matters is a man wise; a woman too is wise, quick to consider what is beneficial.’
‘Thật vậy, không phải trong mọi trường hợp người đàn ông là bậc hiền trí. Người phụ nữ cũng là bậc hiền trí, người nhanh chóng suy xét về lợi ích’.
33.
33.
33.
‘‘‘Lahuñca vata khippañca, nikaṭṭhe † samacetayiṃ;
Migaṃ uṇṇā yathā evaṃ †, tadāhaṃ sattukaṃ vadhiṃ.
‘Indeed, quickly and swiftly, when death was near, I made my effort. Just as a sheep is killed by its wool, so then did I kill the thief Sattuka.’
‘Thật vậy, tôi đã suy tính một cách nhẹ nhàng và nhanh chóng trong tình thế ngặt nghèo. Giống như con cừu bị giết bởi bộ lông của nó, vào lúc bấy giờ tôi đã giết Sattuka’.
34.
34.
34.
‘‘‘Yo ca uppatitaṃ atthaṃ, na khippamanubujjhati;
So haññate mandamati, corova girigabbhare.
‘Whoever does not quickly understand a beneficial matter that has arisen, that dull-witted one is slain, like a thief in a mountain chasm.’
‘Và người nào không nhanh chóng nhận thức được lợi ích đã phát sanh, người có trí tuệ chậm lụt ấy bị giết hại, giống như tên trộm ở trong hang núi’.
35.
35.
35.
‘‘‘Yo ca uppatitaṃ atthaṃ, khippameva nibodhati;
Muccate sattusambādhā, tadāhaṃ sattukā yathā’.
‘But whoever quickly understands a beneficial matter that has arisen is freed from the distress of an enemy, just as I was then freed from Sattuka.’
‘Và người nào nhận thức được lợi ích đã phát sanh một cách nhanh chóng, người ấy được giải thoát khỏi sự áp bức của kẻ thù, giống như tôi đã được giải thoát khỏi Sattuka vào lúc bấy giờ’.
36.
36.
36.
‘‘Tadāhaṃ pātayitvāna, giriduggamhi sattukaṃ;
Santikaṃ setavatthānaṃ, upetvā pabbajiṃ ahaṃ.
‘Then, having thrown Sattuka down the mountain precipice, I approached the white-robed ascetics and went forth.’
Vào lúc bấy giờ, sau khi xô ngã Sattuka ở nơi hiểm trở của ngọn núi, tôi đã đi đến gần những vị mặc y trắng và đã xuất gia.
37.
37.
37.
‘‘Saṇḍāsena ca kese me, luñcitvā sabbaso tadā;
Pabbajitvāna samayaṃ, ācikkhiṃsu nirantaraṃ.
‘With tweezers they plucked out all my hair; and after I had gone forth, they constantly taught me their doctrine.’
Và vào lúc bấy giờ, sau khi tóc của tôi được nhổ sạch hoàn toàn bằng cái kẹp, và sau khi tôi đã xuất gia, họ đã liên tục giảng dạy về giáo lý (của họ).
38.
38.
38.
‘‘Tato taṃ uggahetvāhaṃ, nisīditvāna ekikā;
Samayaṃ taṃ vicintesiṃ, suvāno mānusaṃ karaṃ.
‘Then, having learned that doctrine, I sat down alone and reflected upon that doctrine.’
Khi ấy, sau khi đã học thuyết ấy, tôi ngồi một mình và suy tư về quan điểm ấy. (Trong lúc đó), một con chó (đã tha) một bàn tay người.
39.
39.
39.
‘‘Chinnaṃ gayha samīpe me, pātayitvā apakkami;
Disvā nimittamalabhiṃ, hatthaṃ taṃ puḷavākulaṃ.
“Having seized a severed [human hand], [a dog] dropped it near me and departed. Seeing that hand teeming with maggots, I obtained the sign [of foulness].”
(Con chó) tha lấy bàn tay đã bị chặt đứt, vứt xuống gần tôi rồi bỏ đi. Thấy bàn tay ấy đầy dòi bọ, tôi đã đắc được tướng (bất tịnh).
40.
40.
40.
‘‘Tato uṭṭhāya saṃviggā, apucchiṃ sahadhammike;
Te avocuṃ vijānanti, taṃ atthaṃ sakyabhikkhavo.
‘Then, rising up in agitation, I asked my fellow female ascetics. They said: “The Sakyan bhikkhus know that matter.”’
Khi ấy, bị kinh động, tôi đứng dậy và hỏi những người bạn đồng tu. Họ đã nói rằng: ‘Các vị tỳ khưu dòng Thích Ca biết rõ ý nghĩa ấy’.
41.
41.
41.
‘‘Sāhaṃ tamatthaṃ pucchissaṃ, upetvā buddhasāvake;
Te mamādāya gacchiṃsu, buddhaseṭṭhassa santikaṃ.
‘Intending to ask about that matter, I approached the Buddha’s disciples. They took me into the presence of the Best of Buddhas.’
Tôi (nghĩ rằng): ‘Sau khi đến gần các vị đệ tử của đức Phật, tôi sẽ hỏi về ý nghĩa ấy’. (Khi tôi đến), các vị ấy đã dẫn tôi đi đến sự hiện diện của đức Phật tối thượng.
42.
42.
42.
‘‘So me dhammamadesesi, khandhāyatanadhātuyo;
Asubhāniccadukkhāti, anattāti ca nāyako.
‘That Leader taught me the Dhamma: the aggregates, sense-bases, and elements; as foul, impermanent, and suffering, and as non-self.’
Vị Lãnh Đạo ấy đã thuyết pháp cho tôi về các uẩn, xứ, và giới; (Ngài đã thuyết giảng) rằng chúng là bất tịnh, vô thường, khổ, và cũng là vô ngã.
43.
43.
43.
‘‘Tassa dhammaṃ suṇitvāhaṃ, dhammacakkhuṃ visodhayiṃ;
Tato viññātasaddhammā, pabbajjaṃ upasampadaṃ.
‘Having heard his Dhamma, I purified the eye of the Dhamma. Then, having understood the true Dhamma, I requested the going forth and higher ordination.’
Sau khi nghe pháp của Ngài, tôi đã thanh lọc được pháp nhãn. Sau đó, là người đã liễu tri chánh pháp, (tôi đã xin) sự xuất gia và cụ túc giới.
44.
44.
44.
‘‘Āyācito tadā āha, ‘ehi bhadde’ti nāyako;
Tadāhaṃ upasampannā, parittaṃ toyamaddasaṃ.
“Being requested, the Leader then said, ‘Come, Bhaddā!’ At that moment I was fully ordained. Then I saw a small amount of water.”
Khi được thỉnh cầu, lúc bấy giờ đức Chánh Biến Tri đã nói rằng: ‘Hãy lại đây, này Bhaddā’. Lúc bấy giờ, tôi đã được thọ cụ túc giới và đã nhìn thấy một ít nước.
45.
45.
45.
‘‘Pādapakkhālanenāhaṃ, ñatvā saudayabbayaṃ;
Tathā sabbepi saṅkhāre, īdisaṃ cintayiṃ † tadā.
‘From the washing of the feet, I understood arising and passing away. I then reflected that it is just the same for all conditioned phenomena.’
Nhờ (thấy) nước rửa chân, tôi đã biết được sự sanh và diệt. Khi ấy, tôi đã suy tư rằng: ‘Tất cả các pháp hữu vi cũng đều có bản chất như thế này’.
46.
46.
46.
‘‘Tato cittaṃ vimucci me, anupādāya sabbaso;
Khippābhiññānamaggaṃ me, tadā paññāpayī jino.
‘Then my mind was completely liberated without grasping. The Conqueror then declared me foremost among the bhikkhunīs possessing quick direct knowledge.’
Sau đó, tâm của tôi đã được giải thoát, hoàn toàn không còn chấp thủ. Khi ấy, bậc Chiến Thắng đã tuyên bố tôi là bậc tối thượng trong số những người có thắng trí nhanh chóng.
47.
47.
47.
‘‘Iddhīsu ca vasī homi, dibbāya sotadhātuyā;
Paracittāni jānāmi, satthusāsanakārikā.
‘I am a master of spiritual powers and of the divine ear element; I know the minds of others, a doer of the Teacher’s instruction.’
Tôi thuần thục về các thần thông, và về thiên nhĩ giới. Tôi biết được tâm của người khác, là người thực hành giáo huấn của bậc Đạo Sư.
48.
48.
48.
‘‘Pubbenivāsaṃ jānāmi, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Khepetvā āsave sabbe, visuddhāsiṃ sunimmalā.
“I know my past lives; the divine eye has been purified. Having exhausted all taints, I am pure and utterly stainless.”
Tôi biết rõ các đời sống quá khứ, thiên nhãn đã được thanh tịnh; sau khi đoạn tận tất cả các lậu hoặc, tôi đã trở nên thanh tịnh, hoàn toàn không còn uế nhiễm.
49.
49.
49.
‘‘Pariciṇṇo mayā satthā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ;
Ohito garuko bhāro, bhavanetti samūhatā.
‘The Teacher has been served by me, the Buddha’s teaching has been done. The heavy burden is laid down, the guide to existence is uprooted.’
Bậc Đạo Sư đã được tôi phụng sự, giáo huấn của đức Phật đã được thực hành. Gánh nặng đã được đặt xuống, dây dẫn đến tái sanh đã được nhổ lên.
50.
50.
50.
‘‘Yassatthāya pabbajitā, agārasmānagāriyaṃ;
So me attho anuppatto, sabbasaṃyojanakkhayo.
‘The purpose for which I went forth from the home life into homelessness—that goal I have attained: the destruction of all fetters.’
Vì mục đích nào tôi đã xuất gia, từ đời sống gia đình vào đời sống không gia đình, mục đích ấy – sự đoạn tận tất cả các kiết sử – đã được tôi đạt đến.
51.
51.
51.
‘‘Atthadhammaniruttīsu, paṭibhāne tatheva ca;
Ñāṇaṃ me vimalaṃ suddhaṃ, buddhaseṭṭhassa sāsane.
‘In meaning, in the teaching, and in language, and likewise in ready wit, my knowledge is stainless and pure in the teaching of the Best of Buddhas.’
Trong giáo pháp của đức Phật tối thượng, trí tuệ của tôi về nghĩa, pháp, ngữ, và cũng như vậy về biện tài, là không tỳ vết và thanh tịnh.
52.
52.
52.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgīva bandhanaṃ chetvā, viharāmi anāsavā.
‘My defilements are burned up, all states of existence are uprooted. Like a female elephant that has snapped its bonds, I dwell taintless.’
Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các cõi hữu đã được nhổ lên. Như voi cái cắt đứt dây trói, tôi sống không còn lậu hoặc.
53.
53.
53.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi, mama buddhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
‘Welcome indeed was my coming into the presence of my Buddha. The three true knowledges have been attained; the Buddha’s teaching has been done.’
Thật vậy, sự đến của tôi nơi sự hiện diện của đức Phật là một sự đến tốt đẹp. Ba minh đã được chứng đắc, giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.
54.
54.
54.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
‘The four analytical knowledges, and also these eight liberations, the six direct knowledges have been realized—the Buddha’s teaching has been done.’
Bốn tuệ phân tích, và tám giải thoát này, sáu thắng trí đã được chứng ngộ, giáo huấn của đức Phật đã được thực hành.
Kuṇḍalakesātheriyāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The first Apadāna of the elder nun Kuṇḍalakesā.
Ký sự về Trưởng lão ni Kuṇḍalakesā, phần thứ nhất.