Bản dịch
THI -ap20 — Ký Sự về Paṭācārā
Paṭācārātherīapadāna
BJT 595Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 596Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở tại Haṁsavatī, trong gia đình triệu phú được rạng rỡ với vô số loại châu báu, tôi đã được thừa hưởng lạc thú lớn lao.
BJT 597Tôi đã đi đến bậc Đại Hùng ấy và đã lắng nghe lời giảng Pháp. Sau đó, với niềm tịnh tín sanh khởi tôi đã đi đến nương tựa vào đấng Chiến Thắng.
BJT 598Sau đó, đấng Lãnh Đạo đã tán dương vị tỳ khưu ni có sự tự tin về các điều được phép hoặc không được phép và khiêm tốn như thế ấy, là đứng đầu trong số các vị ni thông suốt về Luật.
BJT 599Khi ấy, với tâm hoan hỷ, có sự mong muốn về vị thế ấy, tôi đã thỉnh mời đấng Thập Lực, vị Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng.
BJT 600Sau khi đã dâng vật thực trong bảy ngày, tôi đã dâng cúng ba y, rồi đã quỳ xuống đê đầu ở bàn chân và đã nói lời nói này:
BJT 601“Bạch đấng Anh Hùng, vị ni đã được Ngài tán dương vào tám ngày trước đây. Bạch đấng Lãnh Đạo, nếu được thành tựu con sẽ trở thành như vị ni ấy.”
BJT 602Khi ấy, bậc Đạo Sư đã nói với tôi rằng: “Này cô gái hiền thục, chớ lo ngại, hãy yên tâm. Trong thời vị lai xa xôi, nàng sẽ đạt được điều mong ước ấy.
BJT 603Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 604Nàng sẽ trở thành nữ Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tựGiáo Pháp của vị(Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từGiáo Pháp, có tên là Paṭācārā.”
BJT 605Khi ấy, tôi đã được hoan hỷ. Với tâm từ mẫn, tôi đã phục vụ đấng Chiến Thắng, bậc Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng từ đó cho đến hết cuộc đời.
BJT 606Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 607Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
BJT 608Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 609Tôi đã là người con gái thứ ba của vị (vua) ấy, được nổi danh là Bhikkhunī. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia.
BJT 610611. Cha đã không cho phép chúng tôi. Khi ấy, là những người con gái của đức vua khéo được nuôi dưỡng, chúng tôi đã thực hành Phạm hạnh của người thiếu nữ ngay tại nhà trong hai chục ngàn năm, không xao lãng. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
BJT 612Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
BJT 613Tôi, Uppalavaṇṇā, Khemā, Bhikkhunī hiền thục, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
BJT 614Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 615Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh vào gia đình triệu phú sung túc, thịnh vượng, có tài sản lớn lao ở trong kinh thành Sāvatthī.
BJT 616Và khi đã đạt đến tuổi thanh xuân, tôi đã bị tác động của sự suy tầm. Sau khi gặp người đàn ông quê mùa, tôi đã bỏ đi cùng với người ấy.
BJT 617Tôi đã sanh ra một người con trai, đứa thứ nhì còn ở trong bụng của tôi. Khi ấy, tôi đã ước muốn mãnh liệt rằng: “Ta sẽ gặp lại cha mẹ.”
BJT 618Người chồng của tôi đã không bằng lòng. Khi ấy, trong lúc người ấy đi vắng, mỗi một mình tôi đã rời khỏi ngôi nhà để đi đến kinh thành Sāvatthī.
BJT 619Sau đó, người chồng của tôi đã đi đến và đã gặp tôi ở trên đường lộ. Khi ấy, có cơn gió vô cùng khủng khiếp sanh lên do nghiệp của tôi đã ào tới.
BJT 620Và có trận mưa lớn đã xuất hiện vào lúc lâm bồn của tôi. Khi ấy, người chồng đã ra đi vì mục đích củi gỗ (để sưởi ấm) và đã bị chết bởi con rắn.
BJT 621Khi ấy, do đau đớn vì đã sanh đẻ, không người bảo hộ, tôi đã trở nên khốn khổ. Trong khi đi đến chỗ trú ngụ của gia đình, tôi đã nhìn thấy con sông cạn bị tràn ngập.
BJT 622Sau khi ẳm lấy đứa bé tôi đã lội qua, và còn mỗi một đứa ở bờ bên kia. Tôi đã đặt đứa con trai thơ dại nằm xuống vì việc mang đứa kia sang.
BJT 623Tôi đã quay trở lại. Có con chim ưng đã tha đi đứa nhỏ đang kêu khóc và dòng nước đã cuốn trôi đứa kia; tôi đây đã bị xâm chiếm bởi sầu muộn.
BJT 624Sau khi đi đến thành Sāvatthī, tôi đã nghe rằng những người thân đã chết. Khi ấy, bị dằn vặt bởi nỗi sầu muộn, bị xâm chiếm bởi nỗi sầu muộn lớn lao, tôi đã nói rằng:
BJT 625“Cả hai người con trai đã lìa đời, chồng của tôi đã bị chết ở trên đường, mẹ cha và người em trai đã được thiêu chung ở một giàn hỏa táng.”
BJT 626Khi ấy, trở nên ốm yếu, vàng vọt, không người bảo hộ, tâm ý thê lương, trong lúc đi quanh quẩn đó đây tôi đã nhìn thấy đấng Điều Phục Nhân.
BJT 627Sau đó, bậc Đạo Sư đã nói với tôi rằng: “Này con gái, chớ khóc than, hãy bình tâm. Con hãy tìm kiếm lại chính mình. Sao con lại buồn đau một cách vô ích?
BJT 628Không có những người con trai, không có người cha, cũng không có những người thân trong việc bảo vệ. Đối với người đã bị khuất phục bởi sự chết, sự bảo vệ ở những người thân là không có.”
BJT 629Sau khi lắng nghe lời nói ấy của bậc Hiền Trí, tôi đã chứng đạt quả vị thứ nhất. Sau khi xuất gia không bao lâu, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 630Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.
BJT 631Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh. Sau khi quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.
BJT 632Sau đó, trong sự hiện diện của đấng Toàn Tri, tôi đã học toàn bộ về Luật cùng tất cả phần chi tiết và đã trình bày đúng theo như thế.
BJT 633Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng rằng: “Chỉ mỗi một mình Paṭācārā là đứng đầu trong số các vị ni thông suốt về Luật.”
BJT 634Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.
BJT 635Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào đời sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến.
BJT 636Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 637Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 638Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Paṭācārā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Paṭācārā là phần thứ mười.
TÓM LƯỢC CỦA PHẨM NÀY:
Vị ni Ekuposathikā, luôn cả vị ni Saḷalā, rồi vị ni Modakā, vị ni Ekāsanā, vị ni Pañcadīpā, vị ni Naḷamālī, và vị ni Gotamī, vị ni Khemā, vị ni Uppalavaṇṇā, và tỳ khưu ni Paṭācārā, (tổng cộng) là năm trăm câu kệ ngôn và chín câu nữa cũng được thêm vào đó.
Phẩm Một Lần Trai Giới là phẩm thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Paṭācārātherīapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Nun Paṭācārā
10. Thánh Sử Ký về Trưởng Lão Ni Paṭācārā
468.
468.
468.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
The Conqueror named Padumuttara, one who had gone to the far shore of all things, arose as the Leader a hundred thousand aeons ago.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, đã xuất hiện bậc Đạo Sư, danh hiệu Padumuttara, bậc Chiến Thắng, bậc đã đến bờ kia của tất cả các pháp.
469.
469.
469.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, jātā seṭṭhikule ahuṃ;
Nānāratanapajjote, mahāsukhasamappitā.
At that time, in the city of Haṃsavatī, I was born into a treasurer's family, resplendent with various gems and endowed with great happiness.
Khi ấy, con sanh ra trong gia đình trưởng giả tại thành phố Haṃsavatī, một nơi rực rỡ với nhiều loại châu báu và tràn đầy phúc lạc lớn lao.
470.
470.
470.
‘‘Upetvā taṃ mahāvīraṃ, assosiṃ dhammadesanaṃ;
Tato jātapasādāhaṃ, upesiṃ saraṇaṃ jinaṃ.
Having approached that great hero, I heard his exposition of the Dhamma. Then, with confidence aroused, I went for refuge to the Conqueror.
Con đã đến gần bậc Đại Hùng, lắng nghe lời thuyết pháp. Sau đó, với lòng tịnh tín phát sanh, con đã quy y nơi bậc Chiến Thắng.
471.
471.
471.
‘‘Tato vinayadhārīnaṃ, aggaṃ vaṇṇesi nāyako;
Bhikkhuniṃ lajjiniṃ tādiṃ, kappākappavisāradaṃ.
Then the Leader praised as foremost among those who uphold the discipline a certain bhikkhunī, a modest one, such a one, skilled in what is allowable and unallowable.
Khi ấy, bậc Đạo Sư đã tán dương một vị Tỳ-khưu-ni là bậc tối thắng trong hàng trì luật, vị ấy có lòng tàm quý, như như bất động, và thông thạo điều nên làm và không nên làm.
472.
472.
472.
‘‘Tadā muditacittāhaṃ, taṃ ṭhānamabhikaṅkhinī;
Nimantetvā dasabalaṃ, sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ.
Then, with a gladdened mind, aspiring to that position, I invited the Ten-Powered One, the Leader of the World, together with his Saṅgha.
Khi ấy, với tâm hoan hỷ, con mong mỏi đạt được địa vị ấy, đã thỉnh mời bậc Thập Lực, bậc Lãnh Đạo thế gian, cùng với Tăng đoàn của Ngài.
473.
473.
473.
‘‘Bhojayitvāna sattāhaṃ, daditvāva ticīvaraṃ †;
Nipacca sirasā pāde, idaṃ vacanamabraviṃ.
Having provided them with food for seven days and having given the set of three robes, I bowed down with my head to his feet and spoke this utterance:
Sau khi cúng dường vật thực trong bảy ngày và dâng cúng tam y, con đã cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài và thốt lên lời này.
474.
474.
474.
‘‘‘Yā tayā vaṇṇitā vīra, ito aṭṭhamake muni;
Tādisāhaṃ bhavissāmi, yadi sijjhati nāyaka’.
‘O Hero, the bhikkhunī whom you praised eight days ago, O Sage—if it may be fulfilled, O Leader, I wish to become just like her.’
‘Kính bạch bậc Đại Hùng, bậc Thánh Giả, vào ngày thứ tám kể từ hôm nay, Ngài đã tán dương vị Tỳ-khưu-ni nào, nếu thiện nghiệp của con được thành tựu, kính bạch bậc Đạo Sư, nguyện cho con được trở thành người như vậy.’
475.
475.
475.
‘‘Tadā avoca maṃ satthā, ‘bhadde mā bhāyi assasa;
Anāgatamhi addhāne, lacchase taṃ manorathaṃ.
Then the Teacher said to me: ‘Good lady, do not be afraid; take comfort. In a future time you will obtain your heart’s desire.
Khi ấy, bậc Đạo Sư phán với con rằng: ‘Này thiện nữ, đừng sợ hãi, hãy an lòng. Trong thời vị lai, con sẽ đạt được tâm nguyện ấy.’
476.
476.
476.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘A hundred thousand aeons from now, one born of the Okkāka clan, a Teacher by the name of Gotama, will appear in the world.
‘Một trăm ngàn kiếp sau, một vị xuất thân từ dòng dõi Okkāka, mang họ Gotama, sẽ trở thành bậc Đạo Sư trên thế gian.’
477.
477.
477.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādā, orasā dhammanimmitā;
Paṭācārāti nāmena, hessati satthu sāvikā’.
‘An heir to his Dhamma, his legitimate spiritual child, fashioned by the Dhamma, she will be the Teacher’s disciple by the name of Paṭācārā.’
‘Vị ấy sẽ là người thừa tự Pháp của đức Phật ấy, là người con gái ruột do Pháp hóa sanh, và sẽ trở thành nữ đệ tử của bậc Đạo Sư với danh hiệu là Paṭācārā.’
478.
478.
478.
‘‘Tadāhaṃ muditā † hutvā, yāvajīvaṃ tadā jinaṃ;
Mettacittā paricariṃ, sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ.
Then, having become gladdened, for as long as I lived I served that Conqueror, the Leader of the World, together with the Saṅgha, with a mind of loving-kindness.
Khi ấy, con vô cùng hoan hỷ, và đã phụng sự bậc Chiến Thắng, bậc Lãnh Đạo thế gian cùng Tăng đoàn của Ngài, với tâm từ ái cho đến trọn đời.
479.
479.
479.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Through that well-done deed and through my volition and aspiration, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Nhờ vào nghiệp lành đã tạo, cùng với những tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, con đã sanh về cõi trời Ba Mươi Ba.
480.
480.
480.
‘‘Imamhi bhaddake kappe, brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena, uppajji vadataṃ varo.
In this fortunate aeon, a kinsman of Brahmā, of great fame, the best of speakers, arose—Kassapa by clan name.
Trong hiền kiếp này, đã xuất hiện bậc Tối Thắng trong các bậc thuyết giảng, mang họ Kassapa, là quyến thuộc của Phạm Thiên, và có danh tiếng lẫy lừng.
481.
481.
481.
‘‘Upaṭṭhāko mahesissa, tadā āsi narissaro;
Kāsirājā kikī nāma, bārāṇasipuruttame.
At that time, in the supreme city of Bārāṇasī, the attendant of the great seer was a lord of men, the king of Kāsi named Kikī.
Khi ấy, tại thành phố Bārāṇasī cao quý, có một vị vua cai trị dân chúng, là vua xứ Kāsī tên là Kiki, ngài là người hộ độ của bậc Đại Thánh.
482.
482.
482.
‘‘Tassāsiṃ tatiyā dhītā, bhikkhunī iti vissutā;
Dhammaṃ sutvā jinaggassa, pabbajjaṃ samarocayiṃ.
I was his third daughter, renowned by the name Bhikkhunī. Having heard the Dhamma of the Chief Conqueror, I found delight in the going forth.
Con là người con gái thứ ba của vua, nổi danh với tên gọi ‘Bhikkhunī’. Sau khi nghe Pháp của bậc Tối Thắng Giả, con đã xin phép được xuất gia.
483.
483.
483.
‘‘Anujāni na no tāto, agāreva tadā mayaṃ;
Vīsavassasahassāni, vicarimha atanditā.
Our father did not give us permission; at that time we remained in the home for twenty thousand years, living diligently.
Phụ vương đã không cho phép chúng tôi; khi ấy, chúng tôi đã sống ngay tại gia đình suốt hai mươi ngàn năm, không hề lười mỏi.
484.
484.
484.
‘‘Komāribrahmacariyaṃ, rājakaññā sukhedhitā;
Buddhopaṭṭhānaniratā, muditā sattadhītaro.
As the king's daughters, raised in comfort, we seven daughters lived the maiden's holy life, rejoicing and delighting in attending on the Buddha.
Bảy người công chúa chúng con, dù được nuôi dưỡng trong an lạc, vẫn hoan hỷ thực hành phạm hạnh của các thiếu nữ, và luôn tận tụy trong việc phụng sự Đức Phật.
485.
485.
485.
‘‘Samaṇī samaṇaguttā ca, bhikkhunī bhikkhudāyikā;
Dhammā ceva sudhammā ca, sattamī saṅghadāyikā.
Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāyikā, Dhammā, and Sudhammā; the seventh was Saṅghadāyikā.
Đó là Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāyikā, Dhammā, Sudhammā, và người thứ bảy là Saṅghadāyikā.
486.
486.
486.
‘‘Ahaṃ uppalavaṇṇā ca, khemā bhaddā ca bhikkhunī;
Kisāgotamī dhammadinnā, visākhā hoti sattamī.
I, Uppalavaṇṇā, Khemā, the bhikkhunī Bhaddā, Kisāgotamī, Dhammadinnā; and Visākhā is the seventh.
Con (Paṭācārā), và Uppalavaṇṇā, Khemā, và Tỳ-khưu-ni Bhaddā, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và Visākhā là người thứ bảy.
487.
487.
487.
‘‘Tehi kammehi sukatehi, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
Through those well-done deeds and through the volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Nhờ vào những nghiệp lành đã tạo, cùng với những tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, con đã sanh về cõi trời Ba Mươi Ba.
488.
488.
488.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, jātā seṭṭhikule ahaṃ;
Sāvatthiyaṃ puravare, iddhe phīte mahaddhane.
And now, in this final existence, I was born into a treasurer's family in the excellent city of Sāvatthī, which was prosperous, flourishing, and of great wealth.
Và nay, trong kiếp sống cuối cùng này, con đã sanh ra trong một gia đình trưởng giả giàu có, tại thành phố Sāvatthī cao quý, một nơi thịnh vượng, sung túc và dồi dào của cải.
489.
489.
489.
‘‘Yadā ca yobbanūpetā, vitakkavasagā ahaṃ;
Naraṃ jārapatiṃ disvā, tena saddhiṃ agacchahaṃ.
And when I reached youth, having come under the sway of sensual thought, upon seeing a man who was my paramour, I went away together with him.
Khi đến tuổi thanh xuân, con bị các tư duy ái dục chi phối, đã gặp một người tình và bỏ đi cùng với người ấy.
490.
490.
490.
‘‘Ekaputtapasūtāhaṃ, dutiyo kucchiyā mamaṃ;
Tadāhaṃ mātāpitaro, okkhāmīti † sunicchitā.
I had given birth to one son, and a second was in my womb. Then I became well-determined, thinking: ‘I will go to see my mother and father.’
Con đã sanh được một đứa con trai, và đứa thứ hai đang ở trong bụng. Khi ấy, con đã quyết định dứt khoát rằng: ‘Con sẽ đi thăm cha mẹ.’
491.
491.
491.
‘‘Nārocesiṃ patiṃ mayhaṃ, tadā tamhi pavāsite;
Ekikā niggatā gehā, gantuṃ sāvatthimuttamaṃ.
I did not inform my husband. Then, when he was away, I departed from the house alone to go to the supreme Sāvatthī.
Con đã không báo cho chồng con biết. Khi ấy, lúc người ấy đi vắng, con đã một mình rời khỏi nhà để đi đến thành Sāvatthī cao quý.
492.
492.
492.
‘‘Tato me sāmi āgantvā, sambhāvesi pathe mamaṃ;
Tadā me kammajā vātā, uppannā atidāruṇā.
Then my husband came and caught up with me on the path. At that time, exceedingly terrible birth pains arose in me.
Sau đó, chồng con đã đến và bắt kịp con trên đường. Khi ấy, những cơn gió chuyển dạ vô cùng đau đớn đã khởi lên nơi con.
493.
493.
493.
‘‘Uṭṭhito ca mahāmegho, pasūtisamaye mama;
Dabbatthāya tadā gantvā, sāmi sappena mārito.
A great storm cloud arose at the time of my delivery. Then my husband, having gone for materials for a shelter, was killed by a snake.
Vào lúc con sinh nở, một cơn mưa lớn đã nổi lên. Khi ấy, chồng con đi tìm vật liệu để che chắn, đã bị rắn cắn chết.
494.
494.
494.
‘‘Tadā vijātadukkhena, anāthā kapaṇā ahaṃ;
Kunnadiṃ pūritaṃ disvā, gacchantī sakulālayaṃ.
Then, with the suffering of childbirth, helpless and wretched, while going to my own family’s home, I saw a small river in flood.
Khi ấy, với nỗi khổ đau vì sinh nở, con trở nên bơ vơ và khốn khổ. Trên đường trở về nhà cha mẹ, con thấy một con sông nhỏ nước dâng đầy.
495.
495.
495.
‘‘Bālaṃ ādāya atariṃ, pārakūle ca ekakaṃ;
Sāyetvā † bālakaṃ puttaṃ, itaraṃ taraṇāyahaṃ.
Taking the young child, I crossed over. And on the far bank, having placed my young son, I returned for the purpose of bringing the other across.
Con bế đứa con nhỏ và lội qua sông. Đến bờ bên kia, con đặt đứa con trai bé bỏng xuống một mình, rồi quay lại để đưa đứa con còn lại qua.
496.
496.
496.
‘‘Nivattā ukkuso hāsi, taruṇaṃ vilapantakaṃ;
Itarañca vahī soto, sāhaṃ sokasamappitā.
As I was returning, a hawk seized the tender, wailing infant. The other was swept away by the current, and I was overcome with grief.
Khi con đang quay trở lại, một con diều hâu đã quắp lấy đứa con nhỏ đang khóc lóc. Đứa con còn lại thì bị dòng nước cuốn trôi. Con lúc ấy bị nỗi sầu muộn bao trùm.
497.
497.
497.
‘‘Sāvatthinagaraṃ gantvā, assosiṃ sajane mate;
Tadā avocaṃ sokaṭṭā, mahāsokasamappitā.
Having gone to the city of Sāvatthī, I heard that my own people were dead. Then, afflicted by sorrow and overwhelmed by great sorrow, I spoke:
“Khi đến thành Sāvatthī, tôi nghe tin người thân đã qua đời. Bấy giờ, bị sầu não áp bức, tràn ngập sầu muộn lớn lao, tôi đã than rằng:”
498.
498.
498.
‘‘Ubho puttā kālaṅkatā, panthe mayhaṃ patī mato;
Mātā pitā ca bhātā ca, ekacitamhi ḍayhare.
‘Both my sons are dead, my husband has died on the path; my mother, father, and brother are being burned on a single pyre.’
“Cả hai con trai đã qua đời, chồng tôi chết dọc đường; Mẹ, cha, và em trai tôi bị thiêu trên cùng một giàn hỏa.”
499.
499.
499.
‘‘Tadā kisā ca paṇḍu ca, anāthā dīnamānasā;
Ito tato bhamantīhaṃ †, addasaṃ narasārathiṃ.
Then, thin and pale, helpless and with a dejected mind, wandering here and there, I saw the Tamer of Men.
“Bấy giờ, gầy gò và xanh xao, không nơi nương tựa, tâm trí khốn khổ, tôi lang thang đây đó và đã diện kiến bậc Điều Ngự Trượng Phu.”
500.
500.
500.
‘‘Tato avoca maṃ satthā, ‘putte mā soci assasa;
Attānaṃ te gavesassu, kiṃ niratthaṃ vihaññasi.
Then the Teacher said to me: ‘Do not grieve for your sons; take comfort. You should seek for yourself. Why do you vex yourself for nothing?’
“Khi ấy, bậc Đạo Sư phán với tôi: ‘Này con gái, đừng sầu muộn, hãy an lòng. Con hãy tìm kiếm chính mình. Tại sao con lại tự làm khổ mình một cách vô ích?’”
501.
501.
501.
‘‘‘Na santi puttā tāṇāya, na ñātī napi bandhavā;
Antakenādhipannassa, natthi ñātīsu tāṇatā’.
‘Sons are no shelter, nor are kinsmen or relatives. For one who is overcome by the Ender, there is no shelter among one’s kin.’
“‘Con cái không phải là nơi nương tựa, họ hàng cũng không, bạn bè cũng không. Đối với người bị Thần Chết khuất phục, không có sự che chở nơi quyến thuộc.’”
502.
502.
502.
‘‘Taṃ sutvā munino vākyaṃ, paṭhamaṃ phalamajjhagaṃ;
Pabbajitvāna naciraṃ, arahattamapāpuṇiṃ.
Having heard that utterance of the Sage, I attained the first fruit. Having gone forth, it was not long before I attained arahantship.
“Nghe lời dạy ấy của bậc Thánh nhân, tôi đã chứng đắc quả vị đầu tiên. Sau khi xuất gia, không bao lâu sau, tôi đã đạt đến quả vị A-la-hán.”
503.
503.
503.
‘‘Iddhīsu ca vasī homi, dibbāya sotadhātuyā;
Paracittāni jānāmi, satthusāsanakārikā.
I am a master of the spiritual powers and of the divine ear element. I know the minds of others, a doer of the Teacher’s instruction.
“Tôi thuần thục các thần thông, và cả thiên nhĩ giới. Tôi biết được tâm của người khác, là người thực hành giáo huấn của bậc Đạo Sư.”
504.
504.
504.
‘‘Pubbenivāsaṃ jānāmi, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Khepetvā āsave sabbe, visuddhāsiṃ sunimmalā.
I know my past lives, my divine eye is purified. Having destroyed all the taints, I have become purified, utterly stainless.
“Tôi biết được các tiền kiếp, thiên nhãn đã được thanh tịnh. Đã đoạn tận tất cả các lậu hoặc, tôi đã trở nên thanh tịnh, hoàn toàn vô cấu.”
505.
505.
505.
‘‘Tatohaṃ vinayaṃ sabbaṃ, santike sabbadassino;
Uggahiṃ sabbavitthāraṃ, byāhariñca yathātathaṃ.
Then I learned the entire Vinaya in its full extent in the presence of the All-Seeing One, and I declared it in accordance with reality.
“Khi ấy, tôi đã học hỏi toàn bộ tạng Luật một cách đầy đủ chi tiết nơi đức Toàn Giác, và đã tuyên thuyết lại đúng như thật.”
506.
506.
506.
‘‘Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho, etadagge ṭhapesi maṃ;
Aggā vinayadhārīnaṃ, paṭācārāva ekikā.
The Conqueror, pleased with that quality, appointed me to this foremost position: ‘Foremost among the bhikkhunīs who uphold the Vinaya is the one Paṭācārā.’
“Đấng Chiến Thắng, hoan hỷ với đức hạnh ấy, đã đặt tôi vào địa vị tối thắng: ‘Tối thắng trong các vị nữ trì Luật, chính là Paṭācārā, người duy nhất.’”
507.
507.
507.
‘‘Pariciṇṇo mayā satthā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ;
Ohito garuko bhāro, bhavanetti samūhatā.
The Teacher has been served by me; the Buddha’s teaching has been done. The heavy burden has been laid down; the guide to existence has been uprooted.
“Tôi đã phụng sự bậc Đạo Sư, giáo pháp của đức Phật đã được thực hành. Gánh nặng đã được đặt xuống, ái dục dẫn dắt trong các cõi hữu đã được nhổ sạch.”
508.
508.
508.
‘‘Yassatthāya pabbajitā, agārasmānagāriyaṃ;
So me attho anuppatto, sabbasaṃyojanakkhayo.
The purpose for which I went forth from home into homelessness—that goal has been attained by me: the destruction of all fetters.
“Vì mục đích nào mà tôi đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, mục đích ấy, sự đoạn tận tất cả các kiết sử, đã được tôi chứng đạt.”
509.
509.
509.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
My defilements are burnt up… I dwell free from taints.
“Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt... (vân vân)... tôi sống không còn lậu hoặc.”
510.
510.
510.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good one… the Buddha’s teaching has been done.
“Sự đến của tôi thật là thiện lai... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
511.
511.
511.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.”
“Bốn Tuệ Phân Tích... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ paṭācārā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the bhikkhunī Paṭācārā spoke these verses.
Như vậy, Tỳ-khưu-ni Paṭācārā đã nói lên những câu kệ này.
Paṭācārātheriyāpadānaṃ dasamaṃ.
The Apadāna of the Elder Nun Paṭācārā, the tenth.
Trưởng Lão Ni Kệ Sự của Paṭācārā, phẩm thứ mười.
The Ekūposathika Chapter, the second.
Phẩm Ekūposathika, thứ hai.
Tassuddānaṃ –
The summary:
Phần tóm lược của phẩm ấy:
Ekūposathikā ceva, saḷalā cātha modakā;
Ekāsanā pañcadīpā, naḷamālī ca gotamī.
Ekūposathikā, Saḷalā, and then Modakā; Ekāsanā, Pañcadīpā, Naḷamālī, and Gotamī.
Ekūposathikā, Saḷalā, và Modakā; Ekāsanā, Pañcadīpā, Naḷamālī, và Gotamī.
Khemā uppalavaṇṇā ca, paṭācārā ca bhikkhunī;
Gāthā satāni pañceva, nava cāpi taduttari.
Khemā and Uppalavaṇṇā, and the bhikkhunī Paṭācārā; there are five hundred verses, and nine more besides.
Khemā, Uppalavaṇṇā, và Tỳ-khưu-ni Paṭācārā. Có năm trăm lẻ chín câu kệ.