Bản dịch
THI -ap19 — Ký Sự về Uppalavaṇṇā
Uppalavaṇṇātherīapadāna
BJT 511Tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā, được đạt đến sự toàn hảo về thần thông, đã đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư rồi đã nói lời nói này:
BJT 512“Bạch đấng Đại Hiền Trí, con xin trình rằng con đã vượt qua sự tái sanh luân hồi, đã đạt được vị thế bất động, con đã cạn kiệt tất cả khổ đau.
BJT 513Cho đến nhóm người có lòng tịnh tín vào Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, và con có lỗi lầm đối với những ai, mong rằng họ hãy tha thứ ở trước mặt đấng Chiến Thắng.
BJT 514Bạch đấng Đại Hùng, con xin trình rằng trong khi luân chuyển ở vòng luân hồi, nếu con có điều lầm lỗi xin Ngài tha thứ cho điều sai trái ấy.”
BJT 515“Nàng cũng nên phô bày thần thông cho những người hành theo Giáo Pháp của Ta được thấy. Hôm nay nàng hãy cắt đứt sự hoài nghi cho cả tứ chúng.”
BJT 516“Bạch đấng Đại Hùng, bậc Trí Tuệ, đấng Quang Minh, con là con gái của Ngài, con đã làm được nhiều công việc khó làm và vô cùng khó làm.
BJT 517Màu da của con chính là màu của hoa sen, tên gọi Uppala là theo tên gọi của hoa sen. Bạch đấng Đại Hùng, con là nữ Thinh Văn của Ngài. Bạch đấng Hữu Nhãn, con xin đảnh lễ ở bàn chân (của Ngài).
BJT 518Trong nhiều trăm lần tái sanh, Rāhula và luôn cả con nữa đã được sanh ra trong cùng một dòng tộc do ý muốn tương tợ nhau.
BJT 519Có sự sanh ra cùng nhau trong nhiều lần tái sanh của con. Trong kiếp sống cuối cùng được thành tựu, cả hai lại có dòng tộc khác nhau.
BJT 520Và người con trai tên là Rāhula, người con gái tên gọi Uppala. Bạch đấng Anh Hùng, xin hãy nhìn xem thần thông của con, con sẽ thị hiện năng lực đến bậc Đạo Sư.”
BJT 521Vị ni đã đặt bốn đại dương ở trong lòng bàn tay, tương tợ như vị y sĩ Jīvaka Komārabhacca đã đổ dầu vào bàn tay.
BJT 522Vị ni đã bứng trái đất lên rồi đặt ở trong lòng bàn tay, tương tợ như người thiếu niên trẻ tuổi đã nhổ lên cọng cỏ muñja nhiều màu sắc.
BJT 523Vị ni đã đưa bàn tay tợ như vũ trụ che ở đỉnh đầu và đã làm đổ xuống giọt mưa nhiều màu sắc thành nhiều đợt.
BJT 524Vị ni đã biến mặt đất thành cái cối giã, đã biến hạt cát thành thóc lúa, đã biến ngọn núi Sineru thành cái chày, rồi đã giã nát tương tợ như cô thiếu nữ (giã lúa gạo).
BJT 525“Con là con gái của đức Phật tối thượng có tên gọi là Uppala, đã có được năng lực về các thắng trí, là người thực hành theo lời dạy của Ngài.
BJT 526Bạch đấng Hữu Nhãn, sau khi đã thực hiện và đã phô bày vô số phép biến hóa đến vị Lãnh Đạo Thế Gian, sau khi công bố tên và dòng họ, con xin đảnh lễ ở bàn chân (của Ngài).
BJT 527Bạch đấng Đại Hiền Trí, con đã có năng lực về thần thông, về thiên nhĩ giới, và đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
BJT 528Con biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 529Trí tuệ của con về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là được trong sạch, không bợn nhơ nhờ vào quyền năng của bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 530Bạch đấng Đại Hiền Trí, nhiều việc làm hướng thượng của con đến các đấng Chiến Thắng cao cả trong quá khứ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 531Bạch đấng Hiền Trí, thiện nghiệp nào của con đã được con làm tròn đủ, xin Ngài hãy nhớ lại. Bạch đấng Đại Hùng, phước báu đã được tích lũy bởi con là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 532Bạch đấng Đại Hùng, sau khi tránh xa những nơi không xứng đáng, trong khi từ bỏ tánh hạnh xấu, mạng sống quý báu đã được từ bỏ là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 533Bạch đấng Đại Hiền Trí, con đã bố thí mười ngàn koṭi, và mạng sống của con đã được con dứt bỏ là nhằm mục đích về Ngài.”
BJT 534Khi ấy, vô cùng sửng sốt, tất cả đã chắp tay lên ngay ở đầu và đã nói rằng: “Thưa ni sư, làm thế nào ni sư có được sự nỗ lực về thần thông không thể sánh bằng?”
BJT 535Trước đây một trăm ngàn kiếp, khi ấy tôi đã là con gái của Long Vương, có tên Vimalā, được công nhận là tốt lành trong số những người con gái.
BJT 536Có vị chúa rồng là loài rồng khổng lồ, được tịnh tín với Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, nên đã thỉnh mời đấng Đại Quyền Lực Padumuttara cùng với các vị Thinh Văn.
BJT 537(Vị ấy đã cho chuẩn bị) mái che làm bằng châu báu, ghế dài làm bằng châu báu, và vật dụng làm bằng châu báu được rắc rải các hạt cát châu báu.
BJT 538Và vị ấy đã cho chuẩn bị đường đi được trang hoàng với các ngọn cờ bằng châu báu. Trong khi được vang lên bởi các nhạc cụ, vị ấy đã đi ra tiếp rước bậc Toàn Giác.
BJT 539Được tháp tùng bởi tứ chúng, đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã ngồi xuống ở chỗ ngồi cao nhất trong cung điện của vị chúa rồng.
BJT 540Vị Long Vương có danh tiếng vĩ đại đã dâng lên thức ăn nước uống vật thực cứng, vật thực mềm có giá trị lớn lao vô cùng quý báu.
BJT 541Sau khi thọ thực, đấng Toàn Giác đã rửa bình bát theo khuôn phép, rồi đã nói lời tùy hỷ đến vị Long Vương có đại thần lực.
BJT 542Sau khi nhìn thấy đấng Toàn Tri một cách trọn vẹn, người con gái có danh vọng lớn lao của vị Long Vương đã được tịnh tín đối với bậc Đạo Sư, và tâm đã được gắn liền chặt chẽ với ý.
BJT 543Và sau khi biết được tâm của tôi, bậc Đại Hùng, đấng Lãnh Đạo Padumuttara vào giây phút ấy đã bảo vị tỳ khưu ni thị hiện thần thông.
BJT 544Được tự tin, vị tỳ khưu ni ấy đã thị hiện nhiều loại thần thông. Được hoan hỷ, tràn đầy niềm phấn khởi, tôi đã nói với bậc Đạo Sư điều này:
BJT 545“Bạch đấng Anh Hùng, con cũng đã nhìn xem loại thần thông này nhưng với tâm vui mừng khác. Làm thế nào nàng ấy đã được vô cùng tự tin về thần thông?”
BJT 546“Người con gái có đại thần lực của Ta là chánh thống, được sanh ra từ miệng, là người thực hành theo Giáo Pháp của Ta, vô cùng tự tin về thần thông.”
BJT 547Sau khi lắng nghe lời nói của đức Phật, khi ấy tôi đã ước nguyện như vầy: “Mong sao cho tôi cũng được vô cùng tự tin về thần thông như thế ấy.”
BJT 548Được hoan hỷ, với tâm vui mừng, tôi đã đạt đến ý nghĩ cao quý rằng: “Bạch đấng Lãnh Đạo, mong sao trong tương lai xa vời con sẽ là như thế ấy.”
BJT 549Ở chiếc ghế dài làm bằng ngọc ma-ni tại mái che sáng ngời, tôi đã làm hài lòng đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng bằng cơm ăn và nước uống.
BJT 550Tôi đã cúng dường đấng Lãnh Đạo Thế Gian đóa hoa sen xanh cao quý của loài rồng tên là Aruṇa (nguyện rằng): “Mong sao cho tôi có được màu da như thế này.”
BJT 551Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 552Từ nơi ấy chết đi, được sanh vào loài người, tôi đã dâng vật thực được đậy lại bằng những đóa sen xanh đến đấng Tự Chủ.
BJT 553Trước đây chín mươi mốt kiếp, đã hiện khởi đấng Lãnh Đạo tên Vipassī, là vị có ánh mắt thu hút, là bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp.
BJT 554Khi ấy, là con gái của người triệu phú ở kinh thành Bārāṇasī, tôi đã thỉnh mời đấng Toàn Giác vị Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng.
BJT 555Sau khi dâng cúng đại thí và đã cúng dường những đóa sen xanh đến đấng Hướng Đạo, tôi đã ước nguyện về sự xinh đẹp của làn da chỉ bằng tâm ý.
BJT 556Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
BJT 557Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 558Tôi đã là người con gái thứ hai của vị (vua) ấy có tên là Samaṇagutta. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia.
BJT 559560. Cha đã không cho phép chúng tôi. Khi ấy, là những người con gái của đức vua khéo được nuôi dưỡng, chúng tôi đã thực hành Phạm hạnh của người thiếu nữ ngay tại nhà trong hai chục ngàn năm, không xao lãng. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
BJT 561Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
BJT 562Tôi, Khemā có trí tuệ, Paṭācārā, Kuṇḍalā, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
BJT 563Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 564Từ nơi ấy chết đi, được sanh vào giữa loài người, trong đại gia tộc, tôi đã dâng đến vị A-la-hán tấm vải màu vàng mịn màng quý giá.
BJT 565Từ nơi ấy chết đi, tôi đã được sanh vào gia tộc dòng Bà-la-môn ở trong thành Ariṭṭha, là con gái của Tiriṭavaccha, có nét quyến rũ, tên là Ummādantī.
BJT 566Từ nơi ấy chết đi, được sanh ra vào gia đình nọ không được giàu có lắm ở trong quốc độ, khi ấy tôi đã chăm sóc lúa sāli.
BJT 567Sau khi nhìn thấy vị Độc Giác Phật, tôi đã dâng năm trăm hạt cốm được che đậy bởi những đóa hoa sen (và đã ước nguyện) năm trăm người con trai.
BJT 568Sau khi dâng cúng mật ong đến đấng Tự Chủ, tôi đã ước nguyện về những người con trai ấy. Từ nơi ấy chết đi, tôi đã được sanh ra ở trong lòng đóa hoa sen ở trong rừng.
BJT 569Tôi đã trở thành chánh hậu của đức vua xứ Kāsi, được tôn vinh kính trọng. Tôi đã sanh ra năm trăm vị hoàng tử không thiếu (một vị).
BJT 570Khi đạt được tuổi thanh niên, những người con trai ấy trong lúc chơi giỡn cuộc vui ở trong nước đã nhìn thấy đóa hoa sen bị rụng cánh, họ đã trở thành các vị Lãnh Đạo Độc Giác.
BJT 571Không có những người con trai cao quý ấy, tôi đây có sự sầu muộn. Chết đi, tôi đã được sanh ra ở ngôi làng nhỏ tại sườn núi Isigili.
BJT 572573. Khi ấy, tôi đã lớn lên, có con cái. Và tôi đã mang món cháo cho những người con trai và cả người chồng nữa. Trong khi đi tôi đã nhìn thấy tám vị Lãnh Đạo Độc Giác đang đi vào làng để khất thực, và đã tưởng nhớ lại những người con trai. Khi ấy, bầu sữa tôi đã tiết ra ngoài bởi lòng thương yêu những người con trai của tôi.
BJT 574Sau đó, được tịnh tín tôi đã tự tay mình dâng món cháo đến các vị ấy. Từ nơi ấy chết đi, tôi đã đạt đến vườn hoa Nandana ở cõi Tam Thập.
BJT 575“Bạch đấng Đại Hùng, con đã trải qua an lạc khổ đau, đã luân hồi cõi này cõi khác, và mạng sống đã được dứt bỏ là nhằm mục đích về Ngài.”
BJT 576Như vậy là đã có khổ đau đa dạng và thành công nhiều hình thức. Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, tôi đã được sanh ra ở thành Sāvatthī.
BJT 577Tôi đã có được sự thành tựu về tất cả các dục lạc ở trong gia đình triệu phú có đại tài sản, được rực rỡ bởi nhiều loại châu báu khác nhau, được an vui, được chu cấp như thế ấy.
BJT 578Tôi đã được kính trọng, được tôn vinh, được nể vì, được cung kỉnh như thế ấy, được thành tựu vẻ xinh đẹp của dáng vóc, được trọng vọng ở các gia đình.
BJT 579Và tôi đã được ao ước vô cùng mãnh liệt bởi những người có sắc tướng, giàu có, sang trọng, và được ao ước bởi hàng trăm người con trai nhà triệu phú.
BJT 580Sau khi từ bỏ gia đình, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Không đầy nửa tháng, tôi đã đạt được phẩm vị A-la-hán.
BJT 581Sau khi đã hóa hiện bằng thần thông thành chiếc xe bốn ngựa, tôi đã đảnh lễ ở bàn chân của đức Phật, đấng Bảo Hộ Thế Gian, bậc Quang Vinh.
BJT 582“Hỡi vị tỳ khưu ni, sau khi đi đến tột đỉnh của việc đã được phát triển toàn diện, nàng một mình đứng ở gốc cây Sālā. Và này người có phẩm chất về sắc đẹp, nàng không có người thứ nhì, nàng không hãi sợ lũ ngu dốt trong số những kẻ tồi bại hay sao?”
BJT 583“Cho dầu là trăm ngàn kẻ tồi bại như ngươi có đi đến nơi đây, ta cũng không chao động sợi lông, ta cũng không bối rối. Này Ma Vương, ngươi chỉ một mình, ta không hãi sợ ngươi.”
BJT 584“Hỡi nàng, ta sẽ biến mất hoặc ta sẽ đi vào trong bụng của nàng. Dẫu ta đang đứng ở ngay giữa lông mày, nàng vẫn không nhìn thấy ta.”
BJT 585“Các nền tảng của thần thông đã khéo được tu tập ở trong tâm, có được năng lực. Này ông bạn, ta đã được thoát khỏi mọi sự trói buộc, ta không sợ hãi ngươi.”
BJT 586“Các dục như là gươm giáo, các uẩn như là cái thớt của chúng. Điều ngươi gọi là sự thích thú trong các dục, điều ấy giờ đây là sự không thích đối với ta.”
BJT 587“Sự vui thích đã được phá hủy ở tất cả các nơi. Khối đống mê mờ đã được phá tan. Này Ác Nhân, ngươi hãy biết như thế. Này Tử Thần, người đã bị đánh bại.”
BJT 588Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng, bậc Lãnh Đạo, ở giữa các chúng đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng là “Vị đứng đầu trong số các vị ni có thần thông.”
BJT 589Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.
BJT 590Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào đời sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến.
BJT 591Trong phút chốc, hàng ngàn người từ các nơi dâng lên y phục, đồ ăn khất thực, thuốc men, và chỗ nằm ngồi.
BJT 592Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 593Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 594Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Uppalavaṇṇātherīapadānaṃ
9. The Apadāna of the Therī Uppalavaṇṇā
9. Trưởng Lão Ni Kệ Uppalavaṇṇā
384.
384.
384.
‘‘Bhikkhunī uppalavaṇṇā, iddhiyā pāramiṃ gatā;
Vanditvā satthuno pāde, idaṃ vacanamabravi.
The bhikkhunī Uppalavaṇṇā, who had reached the perfection of psychic power, having venerated the Teacher’s feet, spoke this utterance:
Tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā, đã đạt đến sự toàn hảo về thần thông; sau khi đảnh lễ đôi chân của bậc Đạo Sư, đã nói lên lời này:
385.
385.
385.
‘‘‘Nitthiṇṇā jātisaṃsāraṃ †, pattāhaṃ acalaṃ padaṃ;
Sabbadukkhaṃ mayā khīṇaṃ, ārocemi mahāmuni.
“‘I have crossed over the saṃsāra of births; I have attained the unshakable state. All suffering has been destroyed by me; I declare this, O Great Sage.’”
‘Con đã vượt qua vòng luân hồi sinh tử, con đã đạt đến trạng thái bất động; mọi khổ đau của con đã được tận diệt, con xin trình lên bậc Đại Muni.’
386.
386.
386.
‘‘‘Yāvatā parisā atthi, pasannā jinasāsane;
Yassā ca meparādhotthi, khamantu jinasammukhā.
“‘Whatever assembly is present, confident in the Conqueror's Dispensation, if I have committed any offense against them, may they forgive it in the Conqueror's presence.’”
‘Bao nhiêu hội chúng có mặt, những người có tín tâm nơi giáo pháp của bậc Chiến Thắng; nếu con có lỗi lầm gì đối với họ, xin quý vị hãy tha thứ trước sự hiện diện của bậc Chiến Thắng.’
387.
387.
387.
‘‘‘Saṃsāre saṃsarantiyā †, khalitaṃ me sace bhave;
Ārocemi mahāvīra, aparādhaṃ khamassu taṃ †.
“‘While wandering in saṃsāra, if there has been any stumbling on my part, I declare it, O Great Hero; please forgive that offense.’”
‘Trong khi đang trôi lăn trong vòng luân hồi, nếu con có điều gì sai sót; con xin trình lên bậc Đại Hùng, xin Ngài hãy tha thứ cho lỗi lầm ấy.’
388.
388.
388.
‘‘‘Iddhiñcāpi nidassehi, mama sāsanakārike;
Catasso parisā ajja, kaṅkhaṃ chindāhi yāvatā.
“‘Display your psychic power, you who carry out my teaching! Today, cut off whatever doubt the fourfold assembly may have.’”
‘Này người thực hành giáo pháp của ta, hãy thị hiện thần thông; hôm nay, hãy đoạn trừ sự nghi ngờ của bốn hội chúng, bao nhiêu người có mặt.’
389.
389.
389.
‘‘‘Dhītā tuyhaṃ mahāvīra, paññavanta jutindhara;
Bahuñca dukkaraṃ kammaṃ, kataṃ me atidukkaraṃ.
“‘I am your daughter, O Great Hero, wise and radiant. Many a difficult deed has been done by me, a most difficult deed.’”
‘Con là con gái của Ngài, bậc Đại Hùng, bậc Trí Tuệ, bậc Tỏa Sáng; nhiều hành động khó làm, và hành động rất khó làm đã được con thực hiện.’
390.
390.
390.
‘‘‘Uppalasseva me vaṇṇo, nāmenuppalanāmikā;
Sāvikā te mahāvīra, pāde vandāmi cakkhuma.
“‘My complexion is like that of a blue lotus, and by name I am called Uppalavaṇṇā. I am your female disciple, O Great Hero; I venerate your feet, O One with Vision.’”
‘Nước da của con giống như hoa sen xanh, tên của con là Uppalanāmikā; con là nữ đệ tử của Ngài, bậc Đại Hùng, con xin đảnh lễ đôi chân Ngài, bậc có Năm Mắt.’
391.
391.
391.
‘‘‘Rāhulo ca ahañceva, nekajātisate bahū;
Ekasmiṃ sambhave jātā, samānachandamānasā.
“‘For many hundreds of births, Rāhula and I were born in the same existence, with minds of similar aspiration.’”
‘Cả Rāhula và con, trong nhiều trăm kiếp sống; đã được sinh ra trong cùng một bào thai, có cùng ý muốn và tâm tư.’
392.
392.
392.
‘‘‘Nibbatti ekato hoti, jātiyāpi ca ekato †;
Pacchime bhave sampatte, ubhopi nānāsambhavā.
Our arising was together, and by birth we were also together; having reached this final existence, we both had separate origins.
‘Sự tái sinh là cùng nhau, và giai cấp cũng là cùng nhau; khi đã đạt đến kiếp sống cuối cùng, cả hai chúng con đều có nguồn gốc khác nhau.’
393.
393.
393.
‘‘‘Putto ca rāhulo nāma, dhītā uppalasavhayā;
Passa vīra mamaṃ iddhiṃ, balaṃ dassemi satthuno.
The son is named Rāhula, the daughter is called Uppalavaṇṇā. Behold my psychic power, O Hero! I shall display my strength to the Teacher.
‘Người con trai tên là Rāhula, người con gái có tên là Uppalavaṇṇā; hỡi bậc Dũng Mãnh, hãy xem thần thông của con, con sẽ thị hiện năng lực cho bậc Đạo Sư.’
394.
394.
394.
‘‘‘Mahāsamudde caturo, pakkhipi hatthapātiyaṃ;
Telaṃ hatthagatañceva, khiḍḍo † komārako yathā.
I placed the four great oceans in the palm of my hand, just as a playing boy might hold oil that has come into his hand.
‘Bốn đại dương, con đã đặt vào trong lòng bàn tay; giống như một cậu bé đang vui đùa, đặt dầu vào trong tay mình.’
395.
395.
395.
‘‘‘Ubbattayitvā pathaviṃ, pakkhipi hatthapātiyaṃ;
Cittaṃ muñjaṃ yathā nāma, luñci komārako yuvā.
Having rolled up the earth, I placed it in the palm of my hand, just as a young boy might pluck a variegated muñja reed.
‘Sau khi cuộn tròn trái đất, con đã đặt nó vào trong lòng bàn tay; giống như một cậu bé trẻ tuổi nhổ lên một bụi cỏ muñja sặc sỡ.’
396.
396.
396.
‘‘‘Cakkavāḷasamaṃ pāṇiṃ, chādayitvāna matthake;
Vassāpetvāna phusitaṃ, nānāvaṇṇaṃ punappunaṃ.
Having covered my head with a hand the size of the Cakkavāḷa mountain range, I caused showers of various colors to rain down again and again.
‘Làm cho bàn tay lớn bằng một thế giới, che trên đỉnh đầu; con đã làm cho mưa rơi xuống, với những giọt mưa nhiều màu sắc, hết lần này đến lần khác.’
397.
397.
397.
‘‘‘Bhūmiṃ udukkhalaṃ katvā, dhaññaṃ katvāna sakkharaṃ;
Sineruṃ musalaṃ katvā, maddi komārikā yathā.
Having made the earth a mortar and gravel into grain, and having made Sineru a pestle, I pounded it just as a young girl does.
‘Lấy mặt đất làm cối, lấy sỏi đá làm lúa; lấy núi Sineru làm chày, con đã giã nát chúng như một thiếu nữ.’
398.
398.
398.
‘‘‘Dhītāhaṃ buddhaseṭṭhassa, nāmenuppalasavhayā;
Abhiññāsu vasībhūtā, tava sāsanakārikā.
I am the daughter of the best of Buddhas, by name called Uppalavaṇṇā. I have mastery of the supernormal knowledges and am a follower of your Dispensation.
‘Con là con gái của bậc Tối Thắng Giác Ngộ, tên là Uppalavaṇṇā; con đã thuần thục các thắng trí, là người thực hành giáo pháp của Ngài.’
399.
399.
399.
‘‘‘Nānāvikubbanaṃ katvā, dassetvā lokanāyakaṃ;
Nāmagottañca sāvetvā †, pāde vandāmi cakkhuma.
Having performed various transformations and shown them to the Leader of the World, having announced my name and clan, I venerate your feet, O One with Vision.
‘Sau khi thực hiện nhiều phép biến hóa khác nhau, trình diễn cho bậc Lãnh Đạo Thế Gian; sau khi xưng tên và dòng họ, con xin đảnh lễ đôi chân Ngài, bậc có Năm Mắt.’
400.
400.
400.
‘‘‘Iddhīsu ca vasī homi, dibbāya sotadhātuyā;
Cetopariyañāṇassa, vasī homi mahāmune.
I have mastery over the psychic powers and the divine ear element; I have mastery over the knowledge of encompassing the minds of others, O Great Sage.
‘Con đã thuần thục các thần thông, và thiên nhĩ giới; con đã thuần thục tha tâm thông, hỡi bậc Đại Muni.’
401.
401.
401.
‘‘‘Pubbenivāsaṃ jānāmi, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Sabbāsavaparikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
I know my former abodes, my divine eye is purified; all my taints are destroyed, now there is no further becoming.
‘Con biết được các tiền kiếp, thiên nhãn đã được thanh lọc; tất cả các lậu hoặc đã được tận diệt, bây giờ không còn tái sinh nữa.’
402.
402.
402.
‘‘‘Atthadhammaniruttīsu, paṭibhāne tatheva ca;
Ñāṇaṃ me vimalaṃ † suddhaṃ, sabhāvena mahesino.
In the analytical knowledges of meaning, Dhamma, and language, and likewise in inspired eloquence, my knowledge is stainless and pure by its very nature, O Great Seer.
‘Trong các Tuệ Phân Tích về nghĩa, pháp, và ngôn từ, và cũng như vậy trong biện tài; trí tuệ của con đã trở nên không tỳ vết và thanh tịnh, do tự tánh của nó, hỡi bậc Đại Sĩ.’
403.
403.
403.
‘‘‘Purimānaṃ jinaggānaṃ, saṅgamaṃ te nidassitaṃ †;
Adhikāraṃ bahuṃ mayhaṃ, tuyhatthāya mahāmuni.
Having come into the presence of the chief Conquerors of the past, for your sake, O Great Sage, I made a great aspiration.
‘Cuộc hội ngộ với các bậc Tối Thắng Giác Ngộ trong quá khứ đã được Ngài chỉ dạy; nhiều sự phát nguyện của con là vì lợi ích của Ngài, hỡi bậc Đại Muni.’
404.
404.
404.
‘‘‘Yaṃ mayā pūritaṃ kammaṃ, kusalaṃ sara me muni;
Tavatthāya mahāvīra, puññaṃ upacitaṃ mayā.
Whatever wholesome kamma was fulfilled by me, remember it, O Sage. For your sake, O Great Hero, merit has been accumulated by me.
‘Bất cứ nghiệp thiện nào đã được con hoàn thành, xin Ngài hãy nhớ đến, hỡi bậc Muni; vì lợi ích của Ngài, hỡi bậc Đại Hùng, công đức đã được con tích lũy.’
405.
405.
405.
‘‘‘Abhabbaṭṭhāne vajjetvā, vārayantī † anācaraṃ;
Tavatthāya mahāvīra, cattaṃ me jīvituttamaṃ.
Avoiding unsuitable states and warding off misconduct, for your sake, O Great Hero, my excellent life was given up.
‘Tránh xa những nơi không thích hợp, ngăn ngừa hành vi sai trái; vì lợi ích của Ngài, hỡi bậc Đại Hùng, mạng sống cao quý của con đã được từ bỏ.’
406.
406.
406.
‘‘‘Dasakoṭisahassāni, adāsiṃ mama jīvitaṃ;
Pariccattā ca me homi, tavatthāya mahāmuni.
For ten thousand koṭis of lifetimes, I gave my life; and for your sake, O Great Sage, I am one who has sacrificed.
‘Mười ngàn ức lần, con đã cho đi mạng sống của mình; con đã là người hy sinh, vì lợi ích của Ngài, hỡi bậc Đại Muni.’
407.
407.
407.
‘‘‘Tadātivimhitā sabbā, sirasāva katañjalī;
Avocayye kathaṃ āsi, atuliddhiparakkamā’.
Then all were greatly astonished and, with hands reverentially raised to their heads, they said: 'Noble lady, how did you come to have such incomparable psychic power and might?'
‘Khi ấy, tất cả đều vô cùng kinh ngạc, chắp tay lên đầu; họ đã nói: ‘Thưa Tôn giả, làm thế nào mà ngài có được thần thông và năng lực vô song như vậy?’’
408.
408.
408.
‘‘Satasahassito kappe, nāgakaññā ahaṃ tadā;
Vimalā nāma nāmena, kaññānaṃ sādhusammatā.
One hundred thousand aeons ago, I was then a nāga maiden, Vimalā by name, well-esteemed among the maidens.
‘Một trăm ngàn kiếp trước, khi ấy con là một thiếu nữ nāga; tên của con là Vimalā, được xem là người đức hạnh giữa các thiếu nữ.’
409.
409.
409.
‘‘Mahorago mahānāgo, pasanno jinasāsane;
Padumuttaraṃ mahātejaṃ, nimantesi sasāvakaṃ.
The great nāga Mahoraga, confident in the Conqueror’s Dispensation, invited the majestic Padumuttara together with his disciples.
‘Đại long vương Mahoraga, có tín tâm nơi giáo pháp của bậc Chiến Thắng; đã thỉnh mời đức Padumuttara, bậc có đại oai lực, cùng với các vị đệ tử của ngài.’
410.
410.
410.
‘‘Ratanamayaṃ maṇḍapaṃ, pallaṅkaṃ ratanāmayaṃ;
Ratanaṃ vālukākiṇṇaṃ, upabhogaṃ ratanāmayaṃ.
A pavilion made of jewels, a couch made of jewels, a place strewn with jewel-sand, and furnishings made of jewels.
“Ngôi đình tạ bằng ngọc báu, chiếc ngai bằng ngọc báu; Cát bằng ngọc báu được rải khắp, vật dụng cũng bằng ngọc báu.
411.
411.
411.
‘‘Maggañca paṭiyādesi, ratanaddhajabhūsitaṃ;
Paccuggantvāna sambuddhaṃ, vajjanto tūriyehi so.
He prepared the path, adorned with jeweled banners; and having gone out to meet the Sambuddha, he had musical instruments played.
“Và con đường được trang hoàng bằng cờ phướn ngọc báu đã được chuẩn bị; vị ấy (long vương) cho tấu lên các nhạc cụ, đã đi ra nghênh đón đấng Chánh Đẳng Giác.
412.
412.
412.
‘‘Parisāhi ca catūhi †, parivuto † lokanāyako;
Mahoragassa bhavane, nisīdi paramāsane.
Surrounded by the four assemblies, the Leader of the World sat down on the supreme seat in the mansion of Mahoraga.
“Vị Lãnh Đạo thế gian, được vây quanh bởi bốn chúng hội, đã ngự trên chỗ ngồi tối thượng trong cung điện của Mahoraga.
413.
413.
413.
‘‘Annaṃ pānaṃ khādanīyaṃ, bhojanañca mahārahaṃ;
Varaṃ varañca pādāsi, nāgarājā mahāyasaṃ.
The nāga king gave to the one of great renown food, drink, and edibles, and costly meals, both excellent and choice.
“Long vương đã dâng cúng các món thượng hạng gồm cơm, nước uống, vật thực, và vật thực xứng đáng với bậc vĩ nhân đến đấng có danh tiếng lớn (là đức Phật).
414.
414.
414.
‘‘Bhuñjitvāna sambuddho, pattaṃ dhovitvā yoniso;
Anumodanīyaṃkāsi, nāgakaññā mahiddhikā.
Having eaten and properly washed his bowl, the Sambuddha gave a talk of appreciation. The nāga maidens were of great psychic power.
“Đấng Chánh Đẳng Giác, sau khi đã thọ thực và rửa bát, đã thực hiện việc tùy hỷ một cách như lý; các nàng công chúa loài rồng có đại thần lực.
415.
415.
415.
‘‘Sabbaññuṃ phullitaṃ disvā, nāgakaññā mahāyasaṃ;
Pasannaṃ satthuno cittaṃ, sunibandhañca mānasaṃ.
Having seen the All-Knowing One, blossomed and of great renown, the nāga maiden's mind became serene and her heart well-composed towards the Teacher.
“Sau khi nhìn thấy đấng Toàn Giác, bậc đã giác ngộ, vị có danh tiếng lớn, các nàng công chúa loài rồng đã phát sinh tâm trong sạch và ý được khéo buộc chặt đối với bậc Đạo Sư.
416.
416.
416.
‘‘Mamañca cittamaññāya, jalajuttamanāmako;
Tasmiṃ khaṇe mahāvīro, bhikkhuniṃ dassayiddhiyā.
And the Great Hero named 'Best of Lotuses,' knowing my thought, at that moment displayed a bhikkhunī by his psychic power.
“Bậc Đại Anh Hùng, đấng có danh hiệu Jalajuttama (Padumuttara), biết được tâm của tôi, trong khoảnh khắc ấy đã dùng thần thông để cho thấy một vị Tỳ-khưu-ni.
417.
417.
417.
‘‘Iddhī anekā dassesi, bhikkhunī sā visāradā;
Pamoditā vedajātā, satthāraṃ idamabravi †.
That expert bhikkhunī displayed many psychic powers. Delighted and filled with joy, I spoke this to the Teacher:
“Vị Tỳ-khưu-ni ấy, bậc thành thạo, đã biểu diễn nhiều loại thần thông. Tôi, với lòng hoan hỷ và niềm vui phát sinh, đã bạch với bậc Đạo Sư lời này.
418.
418.
418.
‘‘‘Addasāhaṃ imaṃ iddhiṃ, sumanaṃ itarāyapi;
Kathaṃ ahosi sā vīra, iddhiyā suvisāradā’.
I have seen this psychic power and the joyful mind of that other one. O Hero, how did she become so very expert in psychic power?
“‘Con đã thấy thần thông này và tâm hoan hỷ của vị Tỳ-khưu-ni kia. Kính bạch bậc Anh Hùng, làm thế nào mà vị ấy đã trở nên rất thành thạo về thần thông như vậy?’
419.
419.
419.
‘‘‘Orasā mukhato jātā, dhītā mama mahiddhikā;
Mamānusāsanikarā, iddhiyā suvisāradā’.
She is my own true daughter, born from my mouth, a daughter of great psychic power, a follower of my instructions, and very expert in psychic power.
“‘Là người con gái của ta, sinh ra từ ngực, sinh ra từ miệng, có đại thần lực. Nàng thực hành lời giáo huấn của ta, nên rất thành thạo về thần thông’.
420.
420.
420.
‘‘Buddhassa vacanaṃ sutvā, evaṃ patthesahaṃ tadā †;
Ahampi tādisā homi, iddhiyā suvisāradā.
Having heard the Buddha's utterance, I then made this aspiration: 'May I too become like her, very expert in psychic power.'
“Khi ấy, sau khi nghe lời của đức Phật, tôi đã phát nguyện như vầy: ‘Mong sao con cũng sẽ trở thành người như vậy, rất thành thạo về thần thông’.
421.
421.
421.
‘‘Pamoditāhaṃ sumanā, patthe uttamamānasā †;
Anāgatamhi addhāne, īdisā homi nāyaka.
Delighted and joyful, with a mind set on the supreme, I made an aspiration: 'In a future time, O Leader, may I become just like her.'
“Con đã hoan hỷ, với tâm thiện lành, với ý chí cao thượng, con đã phát nguyện: ‘Kính bạch đức Lãnh Đạo, trong thời vị lai, mong con sẽ được như thế này’.
422.
422.
422.
‘‘Maṇimayamhi pallaṅke, maṇḍapamhi pabhassare;
Annapānena tappetvā, sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ.
Having satisfied the Leader of the World and his Saṅgha with food and drink on a jeweled couch in a radiant pavilion,
“Trên chiếc ngai bằng ngọc ma-ni, trong ngôi đình tạ rực rỡ, sau khi đã làm cho đức Lãnh Đạo thế gian cùng với chúng Tăng được thỏa thích với vật thực và nước uống.
423.
423.
423.
‘‘Nāgānaṃ pavaraṃ pupphaṃ, aruṇaṃ nāma uppalaṃ;
Vaṇṇaṃ me īdisaṃ hotu, pūjesiṃ lokanāyakaṃ.
I worshipped the Leader of the World with the excellent flower of the nāgas, the lotus named Aruṇa, aspiring: 'May my complexion be like this!'
“Tôi đã cúng dường đức Lãnh Đạo thế gian với đóa hoa sen xanh quý báu của loài rồng tên là Aruṇa, (và nguyện rằng): ‘Mong cho sắc đẹp của con được như thế này’.
424.
424.
424.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done kamma, and by my intentions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
“Do nghiệp lành đã được thực hiện ấy, và do các tác ý cùng những lời nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa.
425.
425.
425.
‘‘Tato cutāhaṃ manuje, upapannā sayambhuno;
Uppalehi paṭicchannaṃ, piṇḍapātamadāsahaṃ.
Having passed away from there, I was reborn among humans. To the Self-Existent One I gave almsfood covered with lotuses.
“Sau khi mệnh chung từ cõi trời ấy, tôi đã tái sanh vào cõi người. Tôi đã dâng cúng vật thực khất thực được che phủ bằng những đóa hoa sen xanh đến đấng Tự Giác.
426.
426.
426.
‘‘Ekanavutito kappe, vipassī nāma nāyako;
Uppajji cārudassano, sabbadhammesu cakkhumā.
Ninety-one aeons ago, the Leader named Vipassī arose, lovely to behold, one with vision into all things.
“Cách đây chín mươi mốt kiếp, vị Lãnh Đạo tên là Vipassī đã xuất hiện, Ngài có dáng vẻ khả ái, là bậc có con mắt trong tất cả các pháp.
427.
427.
427.
‘‘Seṭṭhidhītā tadā hutvā, bārāṇasipuruttame;
Nimantetvāna sambuddhaṃ, sasaṅghaṃ lokanāyakaṃ.
Then, being a treasurer's daughter in the excellent city of Bārāṇasī, I invited the Sambuddha, the Leader of the World, together with his Saṅgha.
“Khi ấy, sau khi trở thành con gái của một vị trưởng giả ở thành phố Bārāṇasī cao quý, tôi đã thỉnh mời đấng Chánh Đẳng Giác, vị Lãnh Đạo thế gian, cùng với chúng Tăng.
428.
428.
428.
‘‘Mahādānaṃ daditvāna, uppalehi vināyakaṃ;
Pūjayitvā cetasāva †, vaṇṇasobhaṃ apatthayiṃ.
Having given a great gift and worshipped the Guide with lotuses, with my mind I aspired to beauty of complexion.
“Sau khi thực hiện việc đại thí, và sau khi cúng dường đấng Dẫn Đạo bằng những đóa hoa sen xanh, tôi đã chỉ dùng tâm ý để mong cầu có được vẻ đẹp của sắc diện.
429.
429.
429.
‘‘Imamhi bhaddake kappe, brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena, uppajji vadataṃ varo.
In this fortunate aeon, a kinsman of Brahmā, of great renown, Kassapa by clan name, arose, the best of speakers.
“Trong kiếp hiền thiện này, bậc Thân Quyến của Phạm thiên, đấng có danh tiếng lớn, thuộc dòng dõi Kassapa, bậc tối thượng trong những người thuyết giảng, đã xuất hiện.
430.
430.
430.
‘‘Upaṭṭhāko mahesissa, tadā āsi narissaro;
Kāsirājā kikī nāma, bārāṇasipuruttame.
Then the attendant of the Great Seer was the lord of men, the king of Kāsī named Kikī, in the excellent city of Bārāṇasī.
“Khi ấy, ở thành phố Bārāṇasī cao quý, đã có vị vua của loài người, vua xứ Kāsī tên là Kikī, là người hộ độ của bậc Đại Sĩ.
431.
431.
431.
‘‘Tassāsiṃ dutiyā dhītā, samaṇaguttasavhayā;
Dhammaṃ sutvā jinaggassa, pabbajjaṃ samarocayiṃ.
I was his second daughter, called Samaṇaguttā. Having heard the Dhamma of the Chief Conqueror, I delighted in the going forth.
“Tôi là người con gái thứ hai của vị vua ấy, có tên là Samaṇaguttā. Sau khi nghe Pháp của đấng Tối Thắng, tôi đã xin được xuất gia.
432.
432.
432.
‘‘Anujāni na no tāto, agāreva tadā mayaṃ;
Vīsavassasahassāni, vicarimha atanditā.
Our father did not give permission, so we remained at home. For twenty thousand years we lived unweariedly.
“Phụ thân của chúng tôi đã không cho phép. Khi ấy, chúng tôi đã sống không mệt mỏi ở tại gia trong suốt hai mươi ngàn năm.
433.
433.
433.
‘‘Komāribrahmacariyaṃ, rājakaññā sukhedhitā;
Buddhopaṭṭhānaniratā, muditā sattadhītaro.
We seven daughters, royal princesses raised in comfort, joyful and delighting in attending on the Buddha, lived the holy life from our maidenhood.
Là các công chúa được nuôi dưỡng trong an lạc, chúng tôi, bảy người con gái, đã hoan hỷ, chuyên tâm trong việc hầu hạ đức Phật, và đã thực hành phạm hạnh thời thiếu nữ.
434.
434.
434.
‘‘Samaṇī samaṇaguttā ca, bhikkhunī bhikkhudāyikā †;
Dhammā ceva sudhammā ca, sattamī saṅghadāyikā †.
Samaṇī and Samaṇaguttā, Bhikkhunī and Bhikkhudāyikā, Dhammā and Sudhammā, and the seventh was Saṅghadāyikā.
“Đó là Samaṇī, và Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāyikā, và Dhammā, và Sudhammā, và người thứ bảy là Saṅghadāyikā.
435.
435.
435.
‘‘Ahaṃ khemā ca sappaññā, paṭācārā ca kuṇḍalā;
Kisāgotamī dhammadinnā, visākhā hoti sattamī.
I and wise Khemā, Paṭācārā and Kuṇḍalā, Kisāgotamī, Dhammadinnā; and Visākhā is the seventh.
“(Theo thứ tự đó là) Khemā bậc trí tuệ, và tôi, và Paṭācārā, và Kuṇḍalā, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và người thứ bảy là Visākhā.
436.
436.
436.
‘‘Tehi kammehi sukatehi, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By those well-done deeds, and by my intentions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa realm.
“Do những nghiệp lành đã được thực hiện ấy, và do các tác ý cùng những lời nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Tāvatiṃsa.
437.
437.
437.
‘‘Tato cutā manussesu, upapannā mahākule;
Pītaṃ maṭṭhaṃ varaṃ dussaṃ, adaṃ arahato ahaṃ.
Having passed away from there, I was reborn among humans in a great family; I gave a yellow, smooth, excellent cloth to an Arahant.
“Sau khi mệnh chung từ cõi trời ấy, tôi đã tái sanh vào dòng dõi cao quý ở cõi người. Tôi đã dâng cúng tấm y quý báu, mềm mại, màu vàng đến một vị A-la-hán.
438.
438.
438.
‘‘Tato cutāriṭṭhapure, jātā vippakule ahaṃ;
Dhītā tiriṭivacchassa, ummādantī manoharā.
Having passed away from there, I was born in a brahmin family in Ariṭṭhapura; the daughter of Tiriṭivaccha, the captivating Ummādantī.
“Sau khi mệnh chung từ đó, tôi đã sanh ra ở thành Ariṭṭha, trong một gia đình Bà-la-môn. Tôi là người con gái của Tiriṭivaccha, tên là Ummādantī, người làm say đắm lòng người.
439.
439.
439.
‘‘Tato cutā janapade, kule aññatare ahaṃ;
Pasūtā nātiphītamhi, sāliṃ gopemahaṃ tadā.
Having passed away from there, I was born into a certain family in the countryside that was not very prosperous; I guarded the rice fields then.
“Sau khi mệnh chung từ đó, tôi đã sanh ra ở một vùng quê, trong một gia đình nào đó không quá thịnh vượng. Khi ấy, tôi đã trông coi ruộng lúa.
440.
440.
440.
‘‘Disvā paccekasambuddhaṃ, pañcalājāsatānihaṃ;
Datvā padumacchannāni, pañca puttasatānihaṃ.
Seeing a Paccekasambuddha, having given five hundred portions of parched grain covered with lotuses, I made an aspiration for five hundred sons.
Sau khi nhìn thấy vị Phật Độc Giác, con đã dâng cúng năm trăm phần cốm được che phủ bởi hoa sen, và con đã nguyện cầu có được năm trăm người con trai.
441.
441.
441.
‘‘Patthayiṃ tepi patthesuṃ, madhuṃ datvā sayambhuno;
Tato cutā araññehaṃ, ajāyiṃ padumodare.
They too made an aspiration, having given honey to the Self-Become One. Then, having passed away from there, I was born in a forest in the calyx of a lotus.
Họ cũng đã nguyện cầu, sau khi dâng cúng mật ong lên bậc Tự Giác. Sau khi mệnh chung từ kiếp ấy, con đã sanh ra trong một đóa sen ở trong rừng.
442.
442.
442.
‘‘Kāsirañño mahesīhaṃ, hutvā sakkatapūjitā;
Ajaniṃ rājaputtānaṃ, anūnaṃ satapañcakaṃ.
I became the chief queen of the king of Kāsi, honored and revered; I bore five hundred princes, not one less.
Con đã trở thành hoàng hậu của vua xứ Kāsi, được kính trọng và cúng dường. Con đã sanh ra không thiếu một ai trong số năm trăm vị vương tử.
443.
443.
443.
‘‘Yadā te yobbanappattā, kīḷantā jalakīḷitaṃ;
Disvā opattapadumaṃ, āsuṃ paccekanāyakā.
When they reached youth, while playing water-sports, upon seeing a lotus whose petals had fallen, they became Pacceka Buddhas.
Khi các vị ấy đến tuổi trưởng thành, trong lúc đang vui đùa dưới nước, sau khi nhìn thấy một đóa sen tàn úa, các vị ấy đã trở thành các bậc Độc Giác.
444.
444.
444.
‘‘Sāhaṃ tehi vinābhūtā, sutavīrehi sokinī †;
Cutā isigilipasse, gāmakamhi ajāyihaṃ.
Separated from them and grieving for my heroic sons, I passed away and was reborn in a village near Isigili.
Người con gái ấy là con, bị chia cách với những người con anh hùng ấy, lòng đầy sầu muộn. Sau khi mệnh chung, con đã sanh ra trong một ngôi làng nhỏ gần núi Isigili.
445.
445.
445.
‘‘Yadā buddhā sutamatī, sutānaṃ bhattunopi ca †;
Yāguṃ ādāya gacchantī, aṭṭha paccekanāyake.
When I was grown and had sons, as I was going, taking rice-gruel for my sons and husband, I saw eight Pacceka Buddhas
Khi đã trưởng thành và có con cái, vì lợi ích của các con và cả của chồng, trong lúc đang mang cháo đi, (con đã thấy) tám vị Độc Giác.
446.
446.
446.
‘‘Bhikkhāya gāmaṃ gacchante, disvā putte anussariṃ;
Khīradhārā viniggacchi, tadā me puttapemasā.
going to the village for alms. Seeing them, I remembered my former sons. A stream of milk then flowed from me out of my love for my sons.
Khi nhìn thấy các ngài đang đi vào làng để khất thực, con đã nhớ lại những người con của mình. Bấy giờ, do lòng thương con, một dòng sữa đã tuôn chảy từ con.
447.
447.
447.
‘‘Tato tesaṃ adaṃ yāguṃ, pasannā sehi pāṇibhi;
Tato cutāhaṃ tidasaṃ, nandanaṃ upapajjahaṃ.
Then, with a confident mind, I gave them the rice-gruel with my own hands. Having passed away from there, I was reborn in the Nandana Grove in the heaven of the Thirty-Three.
Sau đó, với tâm hoan hỷ, con đã tự tay dâng cháo cho các ngài. Sau khi mệnh chung từ kiếp ấy, con đã sanh về cõi trời Ba Mươi Ba, nơi đầy hoan lạc.
448.
448.
448.
‘‘Anubhotvā sukhaṃ dukkhaṃ, saṃsaritvā bhavābhave;
Tavatthāya mahāvīra, pariccattañca jīvitaṃ.
Having wandered through existence after existence and experienced pleasure and pain, for your sake, O Great Hero, I have also relinquished my life.
Trải qua hạnh phúc và khổ đau, luân hồi trong các kiếp sống, bạch đức Đại Hùng, vì lợi ích của Ngài, con cũng đã từ bỏ mạng sống của mình.
449.
449.
449.
‘‘Evaṃ bahuvidhaṃ dukkhaṃ, sampattī ca bahubbidhā;
Pacchime bhave sampatte, jātā sāvatthiyaṃ pure.
Thus having experienced many kinds of suffering and many kinds of success, upon reaching my final existence, I was born in the city of Sāvatthī.
Như vậy, (trải qua) nhiều loại khổ đau và nhiều loại tài sản, khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, con đã được sanh ra ở thành Sāvatthī.
450.
450.
450.
‘‘Mahādhanaseṭṭhikule, sukhite sajjite tathā;
Nānāratanapajjote, sabbakāmasamiddhine.
In the family of a very wealthy merchant, happy and well-provided, radiant with various jewels, and prosperous with all sensual pleasures.
Con đã sanh ra trong gia đình của một trưởng giả đại phú, một gia đình hạnh phúc, được trang hoàng, lấp lánh với nhiều loại châu báu, và sung túc với mọi dục lạc.
451.
451.
451.
‘‘Sakkatā pūjitā ceva, mānitāpacitā tathā;
Rūpasīrimanuppattā †, kulesu atisakkatā †.
Honored and revered, esteemed and venerated, I was endowed with beauty and grace, highly honored among the clans.
Con được kính trọng, cúng dường, quý mến và tôn kính. Hơn nữa, con đã đạt được vẻ đẹp và sự duyên dáng, và được các gia tộc hết mực kính trọng.
452.
452.
452.
‘‘Atīva patthitā cāsiṃ, rūpabhogasirīhi ca;
Patthitā seṭṭhiputtehi, anekehi satehipi.
I was greatly desired for my beauty, wealth, and glory; desired by many hundreds of merchants’ sons.
Con đã được vô cùng khao khát vì sắc đẹp, tài sản và sự duyên dáng của mình. Con được khao khát bởi nhiều trăm người con trai của các trưởng giả.
453.
453.
453.
‘‘Agāraṃ pajahitvāna, pabbajiṃ anagāriyaṃ;
Aḍḍhamāse asampatte, catusaccamapāpuṇiṃ.
Having abandoned the home, I went forth into homelessness; before half a month had passed, I attained the Four Truths.
Sau khi từ bỏ đời sống gia đình, con đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Khi chưa đầy nửa tháng, con đã chứng ngộ Tứ Diệu Đế.
454.
454.
454.
‘‘Iddhiyā abhinimmitvā, caturassaṃ rathaṃ ahaṃ;
Buddhassa pāde vandissaṃ, lokanāthassa tādino.
Having created by psychic power a chariot drawn by four horses, I shall worship the feet of the Buddha, the Protector of the World, the Suchlike One.
Con, bằng thần thông, đã hóa hiện một cỗ xe tứ mã, và sẽ đảnh lễ đôi chân của đức Phật, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Như Thị.
455.
455.
455.
‘‘‘Supupphitaggaṃ upagamma pādapaṃ †, ekā tuvaṃ tiṭṭhasi sālamūle;
Na cāpi te dutiyo atthi koci †, bāle na tvaṃ bhāyasi dhuttakānaṃ’.
‘Having approached a sāla tree with a beautifully flowering top, you stand alone at its foot. You have no companion whatsoever. O foolish one, are you not afraid of scoundrels?’
‘Ngươi đến gần một cây có ngọn nở hoa rực rỡ, ngươi đứng một mình dưới gốc cây Sāla. Ngươi cũng không có ai là người thứ hai đi cùng. Này kẻ ngu kia, ngươi không sợ những kẻ du đãng sao?’
456.
456.
456.
‘‘‘Sataṃ sahassānipi dhuttakānaṃ †, samāgatā edisakā bhaveyyuṃ;
Lomaṃ na iñje na sampavedhe, kiṃ me tuvaṃ māra karissaseko †.
‘Even if a hundred thousand scoundrels like you were to gather here, a hair of mine would not stir, nor would I tremble. What can you alone do to me, Māra?’
‘Dù cho một trăm ngàn kẻ du đãng có tụ tập lại, chúng cũng sẽ giống như ngươi. Lông của ta không hề rung động, ta không hề run sợ. Này Māra, một mình ngươi có thể làm gì được ta?’
457.
457.
457.
‘‘‘Esā antaradhāyāmi, kucchiṃ vā pavisāmi te;
Bhamukantarikāyampi, tiṭṭhantiṃ maṃ na dakkhasi.
‘I can vanish right here, or I can enter your belly. You would not see me even if I were standing between your eyebrows.’
‘Ta đây có thể biến mất, hoặc ta có thể đi vào bụng của ngươi. Ngươi sẽ không nhìn thấy ta, ngay cả khi ta đang đứng giữa hai hàng lông mày của ngươi.’
458.
458.
458.
‘‘‘Cittasmiṃ vasībhūtāmhi, iddhipādā subhāvitā;
Sabbabandhanamuttāmhi, na taṃ bhāyāmi āvuso.
‘I have gained mastery over my mind; the bases of psychic power are well developed. I am freed from all bonds; I do not fear you, friend.’
‘Ta đã làm chủ được tâm, các thần túc thông đã được tu tập thuần thục. Ta đã được giải thoát khỏi mọi trói buộc. Này hiền hữu, ta không sợ ngươi.’
459.
459.
459.
‘‘‘Sattisūlūpamā kāmā, khandhāsaṃ adhikuṭṭanā;
Yaṃ tvaṃ kāmaratiṃ brūsi, aratī dāni sā mama.
‘Sensual pleasures are like spears and stakes; the aggregates are their chopping block. What you call sensual delight is now non-delight for me.’
‘Các dục lạc ví như gươm giáo và cọc nhọn, các uẩn là thớt chặt của chúng. Cái mà ngươi gọi là sự hoan lạc trong dục lạc, giờ đây đối với ta không còn là hoan lạc nữa.’
460.
460.
460.
‘‘‘Sabbattha vihatā nandī, tamokhandho padālito;
Evaṃ jānāhi pāpima, nihato tvamasi antaka’.
‘Delight is everywhere destroyed, the mass of darkness has been shattered. Know this, O Evil One: you are slain, O End-maker.’
‘Sự hỷ lạc ở khắp mọi nơi đã bị tiêu diệt, khối u minh đã bị phá tan. Này Ác ma, hãy biết như vậy, ngươi đã bị đánh bại, hỡi Thần chết.’
461.
461.
461.
‘‘Jino tamhi guṇe tuṭṭho, etadagge ṭhapesi maṃ;
Aggā iddhimatīnanti, parisāsu vināyako.
Pleased with that quality, the Conqueror, the Leader in the assemblies, placed me at the head, declaring me: ‘Foremost among those with psychic power.’
Bậc Chiến Thắng, hoan hỷ với phẩm hạnh ấy, bậc Lãnh Đạo đã đặt con vào vị trí tối thượng giữa các hội chúng, (tuyên bố rằng con là) ‘Tối thượng trong số các vị nữ có thần thông’.
462.
462.
462.
‘‘Pariciṇṇo mayā satthā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ;
Ohito garuko bhāro, bhavanetti samūhatā.
I have served the Teacher and done the Buddha’s bidding. The heavy burden has been laid down; the conduit to existence has been uprooted.
Con đã phụng sự bậc Đạo Sư, giáo pháp của đức Phật đã được thực hành. Gánh nặng đã được đặt xuống, dây dẫn đến tái sanh đã được nhổ lên.
463.
463.
463.
‘‘Yassatthāya pabbajitā, agārasmānagāriyaṃ;
So me attho anuppatto, sabbasaṃyojanakkhayo.
The goal for which I went forth from the home life into homelessness—that goal has been attained by me: the destruction of all fetters.
Mục đích mà vì nó con đã xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không gia đình, mục đích ấy con đã đạt được, đó là sự đoạn tận tất cả các kiết sử.
464.
464.
464.
‘‘Cīvaraṃ piṇḍapātañca, paccayaṃ sayanāsanaṃ;
Khaṇena upanāmenti, sahassāni samantato.
Robes, almsfood, medicine, and lodging—in an instant, thousands from all around bring them to me.
Y phục, vật thực khất thực, dược phẩm và chỗ ở, hàng ngàn (vật phẩm) từ khắp nơi được dâng đến cho con trong khoảnh khắc.
465.
465.
465.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā;
My defilements are burnt up… I dwell free of taints.
Các phiền não của con đã được đốt cháy… (vân vân)… con sống không còn lậu hoặc.
466.
466.
466.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Welcome indeed was my coming… the Buddha’s teaching has been done.
Sự đến của con thật là một sự đến tốt đẹp… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
467.
467.
467.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges… the Buddha’s teaching has been done.”
Bốn Tuệ Phân Tích… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ uppalavaṇṇā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the bhikkhunī Uppalavaṇṇā spoke these verses.
Như vậy, tỳ-khưu-ni Uppalavaṇṇā đã thuyết lên những kệ ngôn này.
Uppalavaṇṇātheriyāpadānaṃ navamaṃ.
The Apadāna of the elder nun Uppalavaṇṇā, the ninth.
Ký sự về Trưởng lão ni Uppalavaṇṇā, phần thứ chín.