Bản dịch
THI -ap18 — Ký Sự về Khemā
Khemātherīapadāna
BJT 416Trước đây một trăm ngàn kiếp, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp, đấng Lãnh Đạo đã hiện khởi.
BJT 417Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở tại Haṁsavatī trong gia đình triệu phú được rạng rỡ với nhiều loại châu báu, tôi đã được thừa hưởng lạc thú lớn lao.
BJT 418Tôi đã đi đến đấng Đại Hùng ấy và đã lắng nghe lời giảng Pháp. Sau đó, với niềm tịnh tín sanh khởi tôi đã đi đến nương tựa vào đấng Chiến Thắng.
BJT 419Và tôi cũng đã yêu cầu mẹ cha rồi đã thỉnh mời đấng Hướng Đạo cùng với các vị Thinh Văn và đã cung ứng vật thực trong bảy ngày.
BJT 420Và khi bảy ngày đã trôi qua, đấng Điều Phục Nhân đã thiết lập vị tỳ khưu ni đứng đầu trong số các vị ni có đại trí tuệ vào vị thế tối thắng.
BJT 421Được hoan hỷ sau khi lắng nghe điều ấy, tôi đã thể hiện sự tôn kính đến bậc Đại Ẩn Sĩ ấy lần nữa rồi đã nằm dài xuống và đã phát nguyện vị thế ấy.
BJT 422Do đó, đấng Chiến Thắng ấy đã nói với tôi rằng: “Điều phát nguyện của nàng (sẽ) được thành tựu. Sự tôn kính đã được nàng thực hiện ở nơi Ta cùng với Hội Chúng là có quả báu vô lượng.
BJT 423Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 424Nàng sẽ có tên là Khemā, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, và sẽ đạt được vị thế tối thắng.”
BJT 425Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 426Mệnh chung từ nơi ấy, tôi đã đi đến cõi trời Dạ Ma, từ đó đã đi đến cõi trời Đẩu Suất, và từ đó đến cõi Hóa Lạc Thiên, rồi từ đó đến cõi Tha Hóa Tự Tại.
BJT 427Do mãnh lực của nghiệp ấy, ở bất cứ nơi nào tôi sanh ra, tôi đều đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các vị vua ở chính tại các nơi ấy.
BJT 428Từ nơi ấy chết đi (sanh) vào thân nhân loại, tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của các đấng Chuyển Luân Vương và các vị vua cai quản các lãnh thổ.
BJT 429Tôi đã thọ hưởng sự thành đạt ở giữa chư Thiên và loài người, đã được an vui ở tất cả các nơi, và đã luân hồi trong nhiều kiếp.
BJT 430Trước đây chín mươi mốt kiếp, đấng Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī là vị có ánh mắt thu hút, vị thấy rõ tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 431Tôi đã đi đến gặp bậc Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Điều Phục Nhân ấy. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp cao quý, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 432Sau khi thực hành Phạm hạnh trong Giáo Pháp của đấng Anh Hùng ấy mười ngàn năm, tôi đã gắn bó vào thiền tập, có sự nghe nhiều (học rộng).
BJT 433Là vị thiện xảo về các biểu hiện của duyên (tùy thuận sanh khởi), có niềm tự tín ở bốn Sự Thật, là người khôn khéo, là vị thuyết giảng hay, là người thực hành theo lời dạy của bậc Đạo Sư.
BJT 434Từ nơi ấy chết đi, tôi đã đạt đến cõi trời Đẩu Suất, là tiên nữ có danh tiếng. Tại nơi ấy, tôi đã vượt trội những người khác nhờ vào quả báu của việc thực hành Phạm hạnh.
BJT 435Ở bất cứ nơi nào tôi được sanh ra, tôi đều có nhiều của cải, nhiều tài sản, là người có sự sáng suốt, có sắc đẹp, và có luôn cả hội chúng đã được rèn luyện nữa.
BJT 436Do nghiệp ấy có sự gắn bó với Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, tất cả các sự thành tựu của tôi đều đạt được dễ dàng và là các niềm yêu quý của tâm.
BJT 437Thậm chí ở bất cứ nơi đâu tôi sanh đến, bất cứ người nào là chồng của tôi đều không khinh miệt tôi nhờ vào quả báu tu tập của tôi.
BJT 438Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Koṇāgamana, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
BJT 439Khi ấy, tôi là hậu duệ của một gia đình vô cùng giàu có ở tại Bārāṇasī. Dhanañjāni, Sumedhā, và tôi nữa là ba người.
BJT 440Là những người cộng sự trong việc bố thí trước đây và là những người tạo lập, chúng tôi đã xác định trú xá là của Hội Chúng rồi đã dâng cúng tu viện đến Hội Chúng.
BJT 441Từ nơi ấy chết đi, tất cả chúng tôi đã đi đến cõi Đạo Lợi, đã đạt được tư cách cao tột về danh vọng, và tương tợ y như thế ở giữa loài người.
BJT 442Chính ở vào kiếp này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa, thuộc dòng dõi, có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên.
BJT 443Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 444Tôi đã là người con gái lớn nhất của vị ấy, được nổi danh là Samaṇī. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia.
BJT 445446. Cha đã không cho phép chúng tôi. Khi ấy, là những người con gái của đức vua khéo được nuôi dưỡng, chúng tôi đã thực hành Phạm hạnh của người thiếu nữ ngay tại nhà trong hai chục ngàn năm, không xao lãng. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
BJT 447Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
BJT 448Tôi, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, Kuṇḍalā, Kisāgotamī, Dhammadinnā, và Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
BJT 449Có lần nọ đấng Mặt Trời của nhân loại ấy thuyết giảng Giáo Pháp tuyệt vời. Sau khi lắng nghe bài Kinh Mahānidāna tôi đã học thuộc lòng bài Kinh ấy.
BJT 450Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 451Và trong kiếp cuối cùng hiện nay, tôi là người con gái vui tính, đáng mến, đáng yêu của đức vua Madda ở tại kinh thành Sāgalā.
BJT 452Cùng với sự việc đã được sanh của tôi là trong kinh thành ấy đã có sự thái bình. Vì thế, tên “Khemā” đã được sanh lên cho tôi phát xuất từ công đức (ấy).
BJT 453Khi đạt đến tuổi thanh xuân, tôi được tô điểm bởi sắc đẹp và sự mặn mà, khi ấy người cha đã dâng tôi cho đức vua Bimbisāra.
BJT 454Tôi đã là người nữ vô cùng yêu quý của vị (vua) ấy. Thích thú trong việc trau chuốt xác thân, tôi đã không tỏ ra rộng lượng đối với những lời nói về sự xấu xa của các sắc thân.
BJT 455Khi ấy, với sáng kiến nhằm giúp đỡ cho tôi, đức vua Bimbisāra đã ngợi khen về Veḷuvana(Trúc Lâm) và đã bảo các ca sĩ ca hát cho tôi nghe rằng:
BJT 456“Chúng tôi quan niệm rằng: ‘Người nào chưa nhìn thấy Veḷuvana đáng yêu, chốn ngụ cư của đấng Thiện Thệ, thì người ấy chưa nhìn thấy (vườn hoa) Nandana (của cõi trời).
BJT 457Người nào đã nhìn thấy Veḷuvana là (vườn hoa) hoan lạc Nandana của nhân loại, người ấy đã nhìn thấy (vườn hoa) Nandana vô cùng hoan lạc của vị Thiên Vương.
BJT 458Chư Thiên sau khi rời (vườn hoa) Nandana ngự xuống mặt đất và đã nhìn thấy Veḷuvana đáng yêu thì vô cùng sửng sốt và không còn tiếc nuối nữa.
BJT 459(Veḷuvana) đã được sanh lên do phước báu của đức vua, được làm đẹp nhờ vào phước báu của đức Phật, có ai là người thuật lại một cách trọn vẹn về tổng thể các đức tính tốt đẹp của khu vườn ấy?”
BJT 460Sau khi nghe được sự thành công của khu rừng ấy, đối với tôi là có sự quyến rũ vào tai. Lúc bấy giờ, có lòng mong muốn nhìn thấy khu vườn ấy tôi đã trình lên đức vua.
BJT 461Và khi ấy, vị lãnh chúa ấy đã sốt sắng ra lệnh cho đoàn tùy tùng đông đảo đưa tôi đi để nhìn xem khu vườn ấy (và đã nói với tôi rằng):
BJT 462“Hỡi nàng là của cải vĩ đại, nàng hãy đi, hãy nhìn xem khu rừng đem lại sự bổ ích cho cặp mắt, là nơi luôn luôn chói sáng với sự vinh quanh, được rực rỡ với hào quang của đấng Thiện Thệ.”
BJT 463Và vào lúc đấng Hiền Trí đã đi vào kinh thành Giribbaja để khất thực, đúng vào lúc ấy tôi đã đi đến để nhìn thấy khu rừng.
BJT 464Khi ấy, khu rừng cây trải dài ấy được rì rào tiếng vo ve của ong vò vẽ các loại, được phối hợp với tiếng rù rù của loài chim cu, được nhảy múa bởi đám chim công.
BJT 465(Khu rừng cây) có ít tiếng động, không bị phân tán, được điểm tô bằng các đường kinh hành khác nhau, được rải rác với các cụm liêu cốc, được nổi bậc với các hành giả cao quý.
BJT 466Trong khi dạo quanh, tôi đã suy nghĩ rằng: “Mắt ta có được thành quả.” Cũng tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy vị tỳ khưu trẻ gắn bó (thiền tập) và đã suy gẫm rằng:
BJT 467“Vị này ở vào độ tuổi rất trẻ và được phú cho dáng vóc dễ thương như là mùa xuân lại chịu ở trong khu rừng dẫu cho là đáng yêu như vầy.
BJT 468Ngồi ở gốc cây, đầu cạo, đắp y hai lớp, tham thiền, quả nhiên vị tỳ khưu này đã từ bỏ khoái lạc sanh lên từ đối tượng (bên ngoài).
BJT 469Phải chăng con người vô cùng hiền thiện này nên thọ hưởng (ngũ) dục cho thoải mái với cuộc đời tại gia, sau này về già mới nên thực hành Giáo Pháp?”
BJT 470Sau khi biết được rằng “Suññaka” là hương thất, là chỗ ngụ của đấng Chiến Thắng, tôi đã đi đến gần và đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng tợ như mặt trời đang mọc lên.
BJT 471(Tôi đã nhìn thấy đấng Chiến Thắng) ngồi mỗi một mình một cách an lạc, đang được quạt bởi người nữ quý phái. Sau khi nhìn thấy tôi đã suy gẫm như vầy: “Bậc Nhân Ngưu này không có quê kệch.”
BJT 472Người thiếu nữ ấy có diện mạo (sáng) như vàng, có khuôn mặt và đôi mắt như đóa sen, có môi đỏ, có răng màu hoa nhài, có sự thuhút con tim và ánh mắt.
BJT 473Có đôi tai lấp lánh khuyên vàng, có ngực dạng bầu bầu, có eo thon, có mông đẹp, có đùi thân chuối, và có đồ trang sức xinh xắn.
BJT 474Với chiếc áo khoác ngoài lên đôi vai gợi tình, với y phục tinh khiết màu xanh, được sở hữu tính chất phụ nữ với hình dáng (nhìn) không thể nào thỏa mãn.
BJT 475Sau khi nhìn thấy nàng ấy, tôi đã suy nghĩ như vầy: “Ôi, nàng này tuyệt đẹp, ta chưa từng nhìn thấy trước đây bằng (cặp) mắt này.”
BJT 476Kế đó, bị chế ngự bởi sự già, nàng ấy (trở nên) có dung nhan tàn tạ, khuôn mặt chảy dài, răng sứt mẻ, đầu bạc, miệng có nước dãi, dơ dáy.
BJT 477(Nàng ấy) có tai bị co rút, mắt trắng (đục), bộ ngực xấu xí đong đưa, tất cả các bộ phận cơ thể bị nhăn nheo chảy xệ, thân thể nổi đầy gân.
BJT 478(Nàng ấy) có lưng bị còng, có gậy là bạn, vô cùng nhợt nhạt, gầy còm, trong lúc run rẩy bị té nhào, chốc chốc lại bị hụt hơi.
BJT 479Do đó, tôi đã có sự chấn động, kinh ngạc, lông dựng đứng: “Thật là xấu hổ cho xác thân bất tịnh là nơi mà những kẻ ngu hứng thú!”
BJT 480Lúc bấy giờ, sau khi nhìn thấy (tôi có) tâm bị chấn động, đấng Đại Bi, bậc Thiện Thệ với tâm phấn chấn đã nói lên những lời kệ này:
BJT 481“Này Khemā, hãy nhìn xem thân thể bệnh hoạn, bất tịnh, hôi thối đang tiết ra, đang rò rỉ lại được hứng thú đối với những kẻ ngu.
BJT 482Nàng hãy tu tập tâm cho được chuyên nhất khéo tập trung về đề mục bất mỹ, niệm hãy được hướng đến thân, nàng hãy có nhiều sự nhàm chán.
BJT 483Thân này như thế nào thì xác kia như vậy, xác kia như thế nào thì thân này như vậy. Nàng hãy lìa bỏ sự mong muốn về thân ở bên trong lẫn bên ngoài.
BJT 484Và nàng hãy tu tập về vô tướng, hãy dứt bỏ ngã mạn ngũ ngầm. Từ đó, có được sự lãnh hội về ngã mạn nàng sẽ sống thanh tịnh.
BJT 485Những người bị đắm nhiễm ái dục rơi vào dòng chảy, tương tợ như con nhện sa vào mạng lưới được tạo nên bởi chính nó, sau khi cắt đứt luôn cả điều ấy, xuất gia, từ bỏ dục lạc, trở thành những người vô tư lự.”
BJT 486Kế đó, sau khi biết được tôi có tâm đã được sẵn sàng, đấng Điều Phục Nhân đã thuyết giảng bài Kinh Mahānidāna nhằm hướng dẫn cho tôi.
BJT 487Sau khi lắng nghe bài kinh tuyệt vời ấy, tôi đã tưởng nhớ về quá khứ. Tôi được an tịnh ngay khi đang đứng tại nơi ấy, tôi đã làm cho Pháp nhãn được thanh tịnh.
BJT 488Ngay khi ấy, tôi đã cúi xuống ở nơi bàn chân của bậc Đại Hiền Trí nhằm mục đích bày tỏ tội lỗi, và đã nói lời nói này:
BJT 489“Bạch đấng Toàn Tri, con kính lễ Ngài! Bạch đấng hành bi mẫn, con kính lễ Ngài! Bạch đấng đã vượt qua luân hồi, con kính lễ Ngài! Bạch đấng ban cho sự Bất Tử, con kính lễ Ngài!
BJT 490Con đã lao theo sự nắm bắt tà kiến, bị lầm lạc trong ái dục, nhờ vào Ngài với phương pháp đúng đắn con đã được dẫn dắt, được thỏa thích trong sự rèn luyện.
BJT 491Do việc không nhìn thấy các bậc Đại Hiền Trí như thế ấy, các chúng sanh không có phước phần phải gánh chịu khổ đau lớn lao trong biển cả luân hồi.
BJT 492Vào lúc con đã không nhận ra Ngài là chốn nương nhờ của thế gian, là bậc không dục vọng đã đạt đến tận cùng của sự chết, là sự lợi ích cận kề, con xin bày tỏ lỗi lầm ấy.
BJT 493Bị đắm say xác thân, con đã không đến gần bậc có lợi ích lớn, vị có sự bố thí cao quý, hoài nghi là: ‘Không có lợi ích,’ con xin bày tỏ lỗi lầm ấy.”
BJT 494Khi ấy, trong lúc rưới rắc sự Bất Tử đến tôi, bậc Đại Bi, đấng Chiến Thắng, vị có giọng nói vang ngọt ngào, đã nói rằng: “Này Khemā, hãy đứng lại.”
BJT 495Khi ấy, sau khi đã đê đầu đảnh lễ và đã thực hiện việc nhiễu quanh vị ấy, tôi đã ra đi. Sau khi nhìn thấy đấng quân vương, tôi đã nói lời nói này:
BJT 496“Ôi vị khuất phục kẻ thù, phương pháp đúng đắn này đã được suy tính bởi bệ hạ. Do ước muốn nhìn thấy khu rừng mà bậc Hiền Trí, vị ban phát Niết Bàn, đã được nhìn thấy.
BJT 497Tâu bệ hạ, nếu ngài vui thích thiếp sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của vị như thế ấy. Nhờ vào lời nói của bậc Hiền Trí, thiếp đã nhàm chán sắc thân.”
Tụng phẩm thứ nhì.
BJT 498Khi ấy, vị lãnh chúa ấy đã chắp tay lên và nói rằng: “Này hiền thê, trẫm cho phép nàng. Cầu chúc sự xuất gia được thành tựu đến nàng.”
BJT 499Và sau khi xuất gia, khi ấy đã được nửa tháng, sau khi nhìn thấy sự sáng lên của ngọn đèn và sự diệt tắt, tôi có tâm bị chấn động.
BJT 500Nhàm chán tất cả các hành, được rành rẽ về biểu hiện của duyên (tùy thuận sanh khởi), sau khi đã vượt qua bốn dòng nước lũ, tôi đã đạt được phẩm vị A-la-hán.
BJT 501Tôi đã có năng lực về thần thông, về thiên nhĩ giới, và tôi cũng đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
BJT 502Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 503Trí tuệ hoàn toàn thanh tịnh của tôi về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là được thành tựu trong Giáo Pháp của đức Phật.
BJT 504Tôi được thiện xảo về các (pháp) thanh tịnh, tự tin trong vấn đề tranh luận, biết về phương thức của vi diệu pháp, và đã đạt được năng lực ở Giáo Pháp.
BJT 505Sau đó, được đức vua (Pasenadi) chủ quản xứ Kosala hỏi các câu hỏi khôn khéo về vấn đề vật thực, tôi đã giải thích đúng theo bản thể.
BJT 506Sau đó, vị vua ấy đã đi đến gặp đấng Thiện Thệ và đã hỏi lại. Các điều ấy đã được tôi giải thích như thế nào thì đức Phật đã giải thích y như thế ấy.
BJT 507Đấng Chiến Thắng, bậc Tối Thượng Nhân hoan hỷ về đức hạnh ấy đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng là “Vị đứng đầu các vị có đại tuệ” trong số các vị tỳ khưu ni.
BJT 508Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 509Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 510Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Khemā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Khemā là phần thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. Khemātherīapadānaṃ
8. The Apadāna of the Therī Khemā
8. Truyện về Trưởng lão ni Khemā
289.
289.
289.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammesu cakkhumā;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
The Conqueror named Padumuttara, the one with vision in all dhammas, the Leader, arose one hundred thousand aeons ago.
“Cách đây một trăm ngàn kiếp, Đấng Chiến Thắng tên là Padumuttara, bậc có tuệ nhãn trong tất cả các pháp, bậc Lãnh đạo, đã xuất hiện.
290.
290.
290.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, jātā seṭṭhikule ahuṃ †;
Nānāratanapajjote, mahāsukhasamappitā.
At that time in Haṃsavatī, I was born into a treasurer's family, one radiant with various gems and endowed with great happiness.
“Khi ấy, tôi sanh ra trong gia đình trưởng giả ở thành Haṃsavatī, nơi sáng chói với nhiều loại bảo vật, và đầy đủ hạnh phúc lớn lao.
291.
291.
291.
‘‘Upetvā taṃ mahāvīraṃ, assosiṃ dhammadesanaṃ;
Tato jātappasādāhaṃ, upemi saraṇaṃ jinaṃ.
Having approached that great hero, I listened to his Dhamma discourse; then, with confidence arisen, I went for refuge to the Conqueror.
“Sau khi đến gần bậc Đại Hùng ấy, tôi đã nghe pháp thoại; sau đó, với lòng tịnh tín phát sanh, tôi xin quy y Đấng Chiến Thắng.
292.
292.
292.
‘‘Mātaraṃ pitaraṃ cāhaṃ, āyācitvā vināyakaṃ;
Nimantayitvā sattāhaṃ, bhojayiṃ sahasāvakaṃ.
Having asked permission from my mother and father, I invited the Leader and, for seven days, I fed him together with his disciples.
“Tôi, sau khi xin phép mẹ và cha, đã thỉnh mời bậc Điều Ngự cùng với các vị Thinh văn, và đã cúng dường vật thực trong bảy ngày.
293.
293.
293.
‘‘Atikkante ca sattāhe, mahāpaññānamuttamaṃ;
Bhikkhuniṃ etadaggamhi, ṭhapesi narasārathi.
And when seven days had passed, the Charioteer of Men established a bhikkhunī as the foremost among those of great wisdom.
“Và khi bảy ngày đã trôi qua, bậc Điều Ngự nhân loại đã đặt một vị Tỳ-khưu-ni, bậc tối thượng trong những người có trí tuệ lớn, vào vị trí tối thượng.
294.
294.
294.
‘‘Taṃ sutvā muditā hutvā, puno tassa mahesino;
Kāraṃ katvāna taṃ ṭhānaṃ, paṇipacca paṇīdahiṃ.
Having heard that, I was joyful, and again I showed reverence to that great seer. Having paid homage, I made an aspiration for that same position.
Nghe lời ấy, con hoan hỷ, lại nữa đối với bậc Đại Ṛṣi ấy; Sau khi đã tỏ lòng tôn kính, con đảnh lễ và phát nguyện về địa vị ấy.
295.
295.
295.
‘‘Tato mama jino † āha, ‘sijjhataṃ paṇidhī tava;
Sasaṅghe me kataṃ kāraṃ, appameyyaphalaṃ tayā.
Then the Conqueror said to me: ‘May your aspiration succeed! The service you have rendered to me and my Saṅgha will have immeasurable fruit for you.
Khi ấy, bậc Chiến Thắng nói với con: ‘Nguyện vọng của ngươi mong được thành tựu. Sự tôn kính mà ngươi đã làm đối với ta cùng với Tăng chúng có quả báo không thể lường được.’
296.
296.
296.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘One hundred thousand aeons from now, one born into the Okkāka clan, named Gotama by clan, will be the Teacher in the world.
‘Một trăm ngàn kiếp kể từ kiếp này, một vị sanh trong dòng dõi Okkāka, có tên là Gotama, sẽ là bậc Đạo Sư xuất hiện ở trên đời.’
297.
297.
297.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādā, orasā dhammanimmitā;
Etadaggamanuppattā, khemā nāma bhavissati’.
‘His heir in the Dhamma, his true-born daughter created by the Dhamma, will be one named Khemā, who will attain the foremost position.’
‘Vị ấy sẽ là người thừa tự trong các Pháp của ngài, là người con gái sanh từ ngực, do Pháp hóa sanh, đã đạt đến địa vị tối thượng, có tên là Khemā.’
298.
298.
298.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsūpagā ahaṃ.
By that well-done kamma, and by my volition and aspirations, when I abandoned my human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Do nghiệp đã được làm tốt đẹp ấy, và do các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, con đã sanh lên cõi trời Ba Mươi Ba.
299.
299.
299.
‘‘Tato cutā yāmamagaṃ, tatohaṃ tusitaṃ gatā;
Tato ca nimmānaratiṃ, vasavattipuraṃ tato.
Having passed away from there, I went to the Yāma world; from there I went to the Tusita world; from there to the Nimmānarati world; and from there to the Paranimmitavasavattī world.
Từ đó mệnh chung, con đã đến cõi trời Yāma, từ đó con đã đi đến cõi Tusita. Và từ đó đến cõi Nimmānarati, rồi từ đó đến thành Vasavatti.
300.
300.
300.
‘‘Yattha yatthūpapajjāmi, tassa kammassa vāhasā;
Tattha tattheva rājūnaṃ, mahesittamakārayiṃ.
Wherever I was reborn, carried by the force of that kamma, I exercised the sovereignty of a chief queen of kings.
Bất cứ nơi nào con sanh ra, do năng lực của nghiệp ấy, chính tại nơi đó con đã làm chánh hậu của các vị vua.
301.
301.
301.
‘‘Tato cutā manussatte, rājūnaṃ cakkavattinaṃ;
Maṇḍalīnañca rājūnaṃ, mahesittamakārayiṃ.
Having passed away from there, in human existence I exercised the sovereignty of a chief queen to wheel-turning monarchs and to provincial kings.
Từ đó mệnh chung, trong kiếp người, con đã làm chánh hậu của các vị vua Chuyển Luân và của các vị vua chư hầu.
302.
302.
302.
‘‘Sampattiṃ anubhotvāna, devesu manujesu ca;
Sabbattha sukhitā hutvā, nekakappesu saṃsariṃ.
Having experienced good fortune among both gods and humans, being happy everywhere, I wandered in saṃsāra for many aeons.
Sau khi hưởng thụ tài sản ở cõi trời và cõi người, được an lạc ở khắp mọi nơi, con đã luân hồi trong nhiều kiếp.
303.
303.
303.
‘‘Ekanavutito kappe, vipassī lokanāyako;
Uppajji cārudassano †, sabbadhammavipassako.
In the ninety-first aeon from now, the world-leader Vipassī arose, one of lovely appearance, who had insight into all phenomena.
Cách đây chín mươi mốt kiếp, bậc Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī đã xuất hiện, Ngài có tướng mạo khả ái, là người thấy rõ tất cả các pháp.
304.
304.
304.
‘‘Tamahaṃ lokanāyakaṃ, upetvā narasārathiṃ;
Dhammaṃ bhaṇitaṃ sutvāna, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
Having approached that world-leader, the charioteer of men, and having heard the Dhamma he taught, I went forth into the homeless life.
Con đã đến gần bậc Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Điều Ngự Trượng Phu ấy, sau khi nghe Pháp được thuyết giảng, con đã xuất gia vào đời sống không nhà.
305.
305.
305.
‘‘Dasavassasahassāni, tassa vīrassa sāsane;
Brahmacariyaṃ caritvāna, yuttayogā bahussutā.
For ten thousand years in the dispensation of that hero, I lived the holy life, devoted to the practice and very learned.
Mười ngàn năm trong giáo pháp của bậc Dũng Mãnh ấy, sau khi thực hành phạm hạnh, con đã chuyên tâm tu tập và là người đa văn.
306.
306.
306.
‘‘Paccayākārakusalā, catusaccavisāradā;
Nipuṇā cittakathikā, satthusāsanakārikā.
I was skilled in dependent origination, an expert in the four truths, a subtle and eloquent speaker, and a follower of the Teacher’s instruction.
Con đã thiện xảo về duyên khởi, vô úy về Tứ Thánh Đế, tinh tế, là người thuyết pháp tài tình, và là người thực hành lời dạy của bậc Đạo Sư.
307.
307.
307.
‘‘Tato cutāhaṃ tusitaṃ, upapannā yasassinī;
Abhibhomi tahiṃ aññe, brahmacārīphalenahaṃ.
Having passed away from there, I was reborn in the Tusita heaven, glorious. There I surpassed the others by means of the fruit of my holy life.
Từ đó mệnh chung, con đã sanh lên cõi Tusita, là người có danh tiếng. Ở đó, do quả của phạm hạnh, con đã vượt trội hơn những vị khác.
308.
308.
308.
‘‘Yattha yatthūpapannāhaṃ, mahābhogā mahaddhanā;
Medhāvinī sīlavatī †, vinītaparisāpi ca.
Wherever I was reborn, I had great enjoyments and great wealth; I was intelligent, virtuous, and had a well-disciplined retinue.
Bất cứ nơi nào con sanh ra, con đều có nhiều tài sản, nhiều của cải, có trí tuệ, có giới hạnh, và cũng có đoàn tùy tùng được huấn luyện.
309.
309.
309.
‘‘Bhavāmi tena kammena, yogena jinasāsane;
Sabbā sampattiyo mayhaṃ, sulabhā manaso piyā.
Because of that kamma and that endeavor in the Conqueror’s Dispensation, all accomplishments dear to the mind became easy for me to obtain.
Do nghiệp ấy, do sự nỗ lực ấy trong giáo pháp của bậc Chiến Thắng, tất cả tài sản làm vui thích tâm ý đều dễ dàng đến với con.
310.
310.
310.
‘‘Yopi me bhavate bhattā, yattha yattha gatāyapi;
Vimāneti na maṃ koci, paṭipattibalena me.
Whoever became my husband, in whatever existence I arrived, no one ever disrespected me, because of the power of my practice.
Dù con đã đi đến bất cứ nơi đâu, bất cứ ai trở thành chồng của con, không một ai khinh thường con, đó là do năng lực thực hành của con.
311.
311.
311.
‘‘Imamhi bhaddake kappe, brahmabandhu mahāyaso;
Nāmena koṇāgamano, uppajji vadataṃ varo.
In this fortunate aeon, a kinsman of Brahmā, of great fame, named Koṇāgamana, the best of speakers, arose.
Trong kiếp hiền thiện này, bậc Thân Quyến của Phạm Thiên, có danh tiếng lớn, bậc Tối Thượng trong những người thuyết giảng, có tên là Koṇāgamana đã xuất hiện.
312.
312.
312.
‘‘Tadā hi bārāṇasiyaṃ, susamiddhakulappajā †;
Dhanañjānī sumedhā ca, ahampi ca tayo janā.
At that time in Bārāṇasī, we were three people born into a very prosperous family: Dhanañjānī, Sumedhā, and I.
Khi ấy, ở tại Bārāṇasī, sanh trong gia đình rất thịnh vượng, có Dhanañjānī, Sumedhā, và cả con nữa, là ba người chúng con.
313.
313.
313.
‘‘Saṅghārāmamadāsimha, dānasahāyikā pure †;
Saṅghassa ca vihārampi †, uddissa kārikā † mayaṃ.
In a former time, being companions in giving, we gave a monastery for the Saṅgha. We also had a dwelling made, dedicated to the Saṅgha.
Chúng con đã cúng dường khu vườn cho Tăng chúng, trước đây là những người bạn trong việc bố thí. Chúng con cũng đã cho xây dựng tịnh xá dâng đến Tăng chúng.
314.
314.
314.
‘‘Tato cutā mayaṃ sabbā, tāvatiṃsūpagā ahuṃ;
Yasasā aggataṃ pattā, manussesu tatheva ca.
Having passed away from there, all of us went to the Tāvatiṃsa realm. We attained the foremost state in glory, and likewise among humans.
Từ đó mệnh chung, tất cả chúng con đã sanh lên cõi trời Ba Mươi Ba. Chúng con đã đạt đến địa vị tối thượng về danh tiếng, và cũng như vậy ở giữa loài người.
315.
315.
315.
‘‘Imasmiṃyeva kappamhi, brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena, uppajji vadataṃ varo.
In this very aeon, a kinsman of Brahmā, of great fame, Kassapa by name and clan, the best of speakers, arose.
Cũng chính trong kiếp này, bậc Thân Quyến của Phạm Thiên, có danh tiếng lớn, bậc Tối Thượng trong những người thuyết giảng, có tên là Kassapa đã xuất hiện.
316.
316.
316.
‘‘Upaṭṭhāko mahesissa, tadā āsi narissaro;
Kāsirājā kikī nāma, bārāṇasipuruttame.
At that time, the attendant of the great seer was the lord of men, the King of Kāsī named Kikī, in the excellent city of Bārāṇasī.
Khi ấy, ở tại thành phố Bārāṇasī cao quý, có vị vua của loài người, vua xứ Kāsī tên là Kiki, là người hộ độ của bậc Đại Ṛṣi.
317.
317.
317.
‘‘Tassāsiṃ jeṭṭhikā dhītā, samaṇī iti vissutā;
Dhammaṃ sutvā jinaggassa, pabbajjaṃ samarocayiṃ.
I was his eldest daughter, renowned as Samaṇī. Having heard the Dhamma of the chief of conquerors, I requested to go forth.
Con là con gái lớn nhất của vị vua ấy, nổi tiếng với tên gọi Samaṇī. Sau khi nghe Pháp của bậc Tối Thắng, con đã xin phép xuất gia.
318.
318.
318.
‘‘Anujāni na no tāto, agāreva tadā mayaṃ;
Vīsavassasahassāni, vicarimha atanditā.
Our father did not give us permission. At that time, we remained in the home. For twenty thousand years, we lived unweariedly.
Phụ thân đã không cho phép chúng con, khi ấy chúng con đã sống tại gia, không mệt mỏi, trong suốt hai mươi ngàn năm.
319.
319.
319.
‘‘Komāribrahmacariyaṃ, rājakaññā sukhedhitā;
Buddhopaṭṭhānaniratā, muditā satta dhītaro.
We seven daughters, royal princesses raised in comfort, joyful and delighting in attending on the Buddha, lived the holy life from our maidenhood.
Bảy người con gái là các công chúa, được nuôi dưỡng trong an lạc, đã thực hành phạm hạnh thời thiếu nữ, đã hoan hỷ, chuyên tâm trong việc hầu hạ đức Phật.
320.
320.
320.
‘‘Samaṇī samaṇaguttā ca, bhikkhunī bhikkhudāyikā;
Dhammā ceva sudhammā ca, sattamī saṅghadāyikā.
Samaṇī, and Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāyikā, and Dhammā, and Sudhammā, and the seventh was Saṅghadāyikā.
Samaṇī, và Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāyikā, và Dhammā, và Sudhammā, người thứ bảy là Saṅghadāyikā.
321.
321.
321.
‘‘Ahaṃ uppalavaṇṇā ca, paṭācārā ca kuṇḍalā;
Kisāgotamī dhammadinnā, visākhā hoti sattamī.
I, and Uppalavaṇṇā, and Paṭācārā, and Kuṇḍalā, Kisāgotamī, Dhammadinnā, and the seventh is Visākhā.
Con (là Khemā), và Uppalavaṇṇā, và Paṭācārā, và Kuṇḍalā (Bhaddā Kuṇḍalakesī), Kisāgotamī, Dhammadinnā, người thứ bảy là Visākhā.
322.
322.
322.
‘‘Kadāci so narādicco, dhammaṃ desesi abbhutaṃ;
Mahānidānasuttantaṃ, sutvā taṃ pariyāpuṇiṃ.
Once, that Sun among Men taught the marvelous Dhamma, the Mahānidāna Suttanta. Having heard that discourse, I mastered it.
Có một khi, bậc Mặt Trời của loài người ấy đã thuyết bài Pháp vi diệu, là kinh Đại Duyên. Sau khi nghe, con đã học thuộc kinh ấy.
323.
323.
323.
‘‘Tehi kammehi sukatehi, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By those well-done kammas and by my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to Tāvatiṃsa.
Do những nghiệp đã được làm tốt đẹp ấy, và do các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, con đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
324.
324.
324.
‘‘Pacchime ca bhave dāni, sākalāya puruttame;
Rañño maddassa dhītāmhi, manāpā dayitā piyā.
And now in this final existence, in the excellent city of Sākala, I am the daughter of King Madda, agreeable, cherished, and dear.
Và trong kiếp cuối cùng này, tại thành phố Sākala cao quý, tôi là con gái của vua Madda, người làm vui lòng, đáng yêu, và được yêu mến.
325.
325.
325.
‘‘Saha me jātamattamhi, khemaṃ tamhi pure ahu;
Tato khemāti nāmaṃ me, guṇato upapajjatha.
As soon as I was born, there was safety in that city. Therefore, from that quality, my name ‘Khemā’ arose.
Ngay khi tôi vừa sinh ra, trong thành phố ấy đã được an ổn. Do đó, tên của tôi là Khemā, phát sinh từ phẩm chất ấy.
326.
326.
326.
‘‘Yadāhaṃ yobbanaṃ pattā, rūpalāvaññabhūsitā †;
Tadā adāsi maṃ tāto, bimbisārassa rājino.
When I reached my youth, adorned with beauty and grace, my father gave me to King Bimbisāra.
Khi tôi đến tuổi thanh xuân, được trang điểm bởi vẻ đẹp yêu kiều của dung sắc, khi ấy phụ vương đã gả tôi cho vua Bimbisāra.
327.
327.
327.
‘‘Tassāhaṃ suppiyā āsiṃ, rūpake lāyane ratā;
Rūpānaṃ dosavādīti, na upesiṃ mahādayaṃ.
I was his greatly beloved queen, delighting in the play of beauty. Thinking that the Greatly Compassionate One was a critic of physical form, I did not approach him.
Tôi là hoàng hậu rất được yêu quý của vua ấy, say mê vẻ đẹp của dung sắc. Vì nghĩ rằng Ngài là người nói về lỗi lầm của các sắc, nên tôi đã không đến gần bậc Đại Bi.
328.
328.
328.
‘‘Bimbisāro tadā rājā, mamānuggahabuddhiyā;
Vaṇṇayitvā veḷuvanaṃ, gāyake gāpayī mamaṃ.
Then King Bimbisāra, with the intention of favoring me, had singers sing praises of the Bamboo Grove in my presence.
Khi ấy, vua Bimbisāra, với ý muốn nâng đỡ tôi, đã tán thán khu vườn Trúc Lâm và cho các ca sĩ hát cho tôi nghe.
329.
329.
329.
‘‘Rammaṃ veḷuvanaṃ yena, na diṭṭhaṃ sugatālayaṃ;
Na tena nandanaṃ diṭṭhaṃ, iti maññāmase mayaṃ.
“Whoever has not seen the delightful Bamboo Grove, the abode of the Sugata, has not seen the Nandana Grove—so we think.
Người nào chưa thấy Trúc Lâm khả ái, nơi ở của bậc Thiện Thệ, người ấy chưa được xem là đã thấy vườn Nandana. Chúng tôi nghĩ như vậy.
330.
330.
330.
‘‘Yena veḷuvanaṃ diṭṭhaṃ, naranandananandanaṃ;
Sudiṭṭhaṃ nandanaṃ tena, amarindasunandanaṃ.
“One who has seen the Bamboo Grove, the delight of the Delighter of Men, has thereby well seen the Nandana, the great delight of the Lord of the Immortals.”
Người nào đã thấy Trúc Lâm, nơi làm vui lòng nhân loại, người ấy đã thấy rõ vườn Nandana, nơi làm vua trời rất vui thích.
331.
331.
331.
‘‘Vihāya nandanaṃ devā, otaritvā mahītalaṃ †;
Rammaṃ veḷuvanaṃ disvā, na tappanti suvimhitā.
“The devas, leaving their Nandana Grove and descending to the earth, upon seeing the delightful Bamboo Grove, are so amazed they cannot get their fill of it.”
Các vị trời, rời bỏ vườn Nandana, hạ xuống mặt đất; thấy Trúc Lâm khả ái, họ vô cùng kinh ngạc và không thể thỏa mãn.
332.
332.
332.
‘‘Rājapuññena nibbattaṃ, buddhapuññena bhūsitaṃ;
Ko vattā tassa nissesaṃ, vanassa guṇasañcayaṃ.
“Produced by the king’s merit and adorned by the Buddha’s merit, who can completely describe that grove’s collection of virtues?”
Được tạo ra do phước của vua, được trang hoàng do phước của Đức Phật; ai có thể kể hết được tập hợp các phẩm chất của khu vườn ấy?
333.
333.
333.
‘‘Taṃ sutvā vanasamiddhaṃ, mama sotamanoharaṃ;
Daṭṭhukāmā tamuyyānaṃ, rañño ārocayiṃ tadā.
Having heard of the flourishing of that grove, which was captivating to my ear, I became desirous of seeing that park and then informed the king.
Nghe về sự sung túc của khu vườn ấy, điều làm say đắm tai và tâm tôi, tôi muốn thấy khu vườn ấy, nên khi đó đã tâu với đức vua.
334.
334.
334.
‘‘Mahatā parivārena, tadā ca so † mahīpati;
Maṃ pesesi † tamuyyānaṃ, dassanāya samussukaṃ.
Then that lord of the earth, with a great retinue, sent me to that park, as I was eager to see it.
Khi ấy, vị quốc vương đó, với đoàn tùy tùng đông đảo, đã phái tôi đến khu vườn ấy để chiêm ngưỡng, với lòng háo hức.
335.
335.
335.
‘‘Gaccha passa mahābhoge, vanaṃ nettarasāyanaṃ;
Yaṃ sadā bhāti siriyā, sugatābhānurañjitaṃ.
“Go and see, you of great fortune, the grove that is a tonic for the eyes, which always shines with splendor, colored by the radiance of the Sugata.”
Hỡi người có tài sản lớn, hãy đi và xem khu vườn là thuốc bổ cho mắt, nơi luôn tỏa sáng huy hoàng, được tô điểm bởi ánh quang của bậc Thiện Thệ.
336.
336.
336.
‘‘Yadā ca piṇḍāya muni, giribbajapuruttamaṃ;
Paviṭṭhohaṃ tadāyeva, vanaṃ daṭṭhumupāgamiṃ.
And just when the Sage had entered the excellent city of Giribbaja for alms, I went to see the grove.
Và chỉ khi bậc Mâu-ni đã vào thành Giribbaja cao quý để khất thực, tôi mới đến khu vườn để chiêm ngưỡng.
337.
337.
337.
‘‘Tadā taṃ phullavipinaṃ, nānābhamarakūjitaṃ;
Kokilāgītasahitaṃ, mayūragaṇanaccitaṃ.
Then I saw that blossoming forest, resounding with the humming of various bees, filled with the songs of cuckoos, and where flocks of peacocks danced.
Khi ấy, khu rừng ấy nở đầy hoa, vang tiếng vo ve của nhiều loài ong, cùng với tiếng hót của chim tu hú, và là nơi các đàn công múa lượn.
338.
338.
338.
‘‘Appasaddamanākiṇṇaṃ, nānācaṅkamabhūsitaṃ;
Kuṭimaṇḍapasaṅkiṇṇaṃ, yogīvaravirājitaṃ.
It was quiet and uncrowded, adorned with various walking paths, strewn with huts and pavilions, and made splendid by the best of yogis.
Ít tiếng ồn, không đông đúc, được trang hoàng bởi nhiều con đường kinh hành, đầy các am thất và nhà nghỉ, rực rỡ với các bậc hành giả cao quý.
339.
339.
339.
‘‘Vicarantī amaññissaṃ, saphalaṃ nayanaṃ mama;
Tatthāpi taruṇaṃ bhikkhuṃ, yuttaṃ disvā vicintayiṃ.
As I wandered about, I thought, ‘My eyes have borne their fruit.’ But then, seeing a young bhikkhu there, engaged in his practice, I reflected:
Đi dạo, tôi đã nghĩ rằng mắt mình thật có kết quả. Ở đó, thấy một vị Tỳ-khưu trẻ tuổi đang chuyên tâm, tôi đã suy nghĩ.
340.
340.
340.
‘‘‘Īdise vipine ramme, ṭhitoyaṃ navayobbane;
Vasantamiva kantena, rūpena ca samanvito.
“In such a delightful forest stands this one in the prime of his youth, endowed with a lovely form, like the spring season itself.
‘Vị này đang ở tuổi thanh xuân, trong khu rừng khả ái như thế này, lại có dung sắc đáng yêu, giống như mùa xuân.
341.
341.
341.
‘‘‘Nisinno rukkhamūlamhi, muṇḍo saṅghāṭipāruto;
Jhāyate vatayaṃ bhikkhu, hitvā visayajaṃ ratiṃ.
“Seated at the foot of a tree, shaven-headed and wearing the outer robe, this bhikkhu meditates, indeed, having abandoned delight born of sense objects.”
‘Ngồi dưới gốc cây, đầu cạo trọc, khoác y tăng-già-lê, vị Tỳ-khưu này quả thật đang thiền định, sau khi từ bỏ sự thích thú sinh ra từ các đối tượng giác quan.
342.
342.
342.
‘‘‘Nanu nāma gahaṭṭhena, kāmaṃ bhutvā yathāsukhaṃ;
Pacchā jiṇṇena dhammoyaṃ, caritabbo subhaddako’.
“Is it not so that a householder, having enjoyed sensual pleasures at will, should later, when old, practice this excellent Dhamma?”
‘Chẳng phải người tại gia nên hưởng thụ dục lạc theo ý muốn, rồi sau đó khi già mới nên thực hành pháp tốt đẹp này sao?’
343.
343.
343.
‘‘Suññakanti viditvāna, gandhagehaṃ jinālayaṃ;
Upetvā jinamaddakkhaṃ, udayantaṃva bhākaraṃ.
Knowing that the fragrant chamber, the Conqueror’s abode, was quiet, I approached and saw the Conqueror, like the rising sun.
Biết rằng hương phòng, nơi ở của bậc Chiến Thắng, vắng lặng, tôi đến gần và đã thấy bậc Chiến Thắng, như mặt trời đang mọc.
344.
344.
344.
‘‘Ekakaṃ sukhamāsīnaṃ, bījamānaṃ varitthiyā;
Disvānevaṃ vicintesiṃ, nāyaṃ lūkho narāsabho.
Seeing him seated alone in bliss, being fanned by an excellent woman, I reflected thus: ‘This bull among men is not an austere one.’
Thấy Ngài ngồi an lạc một mình, được một người phụ nữ tuyệt vời quạt hầu, tôi đã suy nghĩ như vầy: ‘Bậc Nhân Ngưu này không phải là người khô khan’.
345.
345.
345.
‘‘Sā kaññā kanakābhāsā, padumānanalocanā;
Bimboṭṭhī kundadasanā, manonettarasāyanā.
That maiden had a complexion like gold, a face and eyes like lotuses, lips like bimba fruit, and teeth like kunda flowers—a delight to the mind and eyes.
Cô gái ấy có màu da như vàng, mặt và mắt như hoa sen, môi như trái bimba, răng như hoa lài, là thuốc bổ cho tâm và mắt.
346.
346.
346.
‘‘Hemadolābhasavanā †, kalikākārasutthanī †;
Vedimajjhāva sussoṇī †, rambhoru cārubhūsanā.
She had ears like golden swings, fine breasts shaped like flower buds, a waist beautiful like an altar, lovely hips, thighs like golden plantain trunks, and beautiful adornments.
Tai như chiếc võng vàng, vú như nụ hoa, eo thon như bệ thờ, hông đẹp, đùi như thân cây chuối, trang sức đẹp đẽ.
347.
347.
347.
‘‘Rattaṃsakupasaṃbyānā, nīlamaṭṭhanivāsanā;
Atappaneyyarūpena, hāsabhāvasamanvitā †.
She wore a red upper garment and a polished blue lower garment; endowed with insatiable beauty, she possessed smiles and charm.
Mặc áo trong màu đỏ và khăn choàng, y phục dưới màu xanh mịn màng, với dung sắc không thể thỏa mãn, cùng với nụ cười và cử chỉ duyên dáng.
348.
348.
348.
‘‘Disvā tamevaṃ cintesiṃ, ahoyamabhirūpinī;
Na mayānena nettena, diṭṭhapubbā kudācanaṃ.
Seeing her, I thought thus: ‘Oh, how very beautiful she is! Never before with these eyes have I seen such a one.’
Thấy cô ấy, tôi đã nghĩ như vầy: ‘Ồ, cô này thật xinh đẹp! Tôi chưa từng thấy ai như vậy bằng mắt này bao giờ’.
349.
349.
349.
‘‘Tato jarābhibhūtā sā, vivaṇṇā vikatānanā;
Bhinnadantā setasirā, salālā vadanāsuci.
Then, overcome by old age, she became discolored, with a distorted face, broken teeth, and white hair, slobbering from her unclean mouth.
Sau đó, cô ấy bị tuổi già xâm chiếm, dung sắc phai tàn, mặt biến dạng, răng gãy, đầu bạc, miệng dơ bẩn với nước dãi.
350.
350.
350.
‘‘Saṅkhittakaṇṇā setakkhī, lambāsubhapayodharā;
Valivitatasabbaṅgī, sirāvitatadehinī.
Her ears were shrunken, her eyes clouded, her breasts ugly and sagging; her entire body was covered with wrinkles, her frame a network of veins.
Tai nhăn nheo, mắt trắng dã, vú chảy xệ xấu xí, toàn thân nhăn nheo, thân thể nổi đầy gân.
351.
351.
351.
‘‘Nataṅgā daṇḍadutiyā, upphāsulikatā † kisā;
Pavedhamānā patitā, nissasantī muhuṃ muhuṃ.
With a bent body, a staff as her companion, emaciated with protruding ribs, she fell down trembling, panting again and again.
Thân còng, có cây gậy làm bạn thứ hai, xương sườn trơ ra, gầy gò, run rẩy, ngã xuống, thở hổn hển liên tục.
352.
352.
352.
‘‘Tato me āsi saṃvego, abbhuto lomahaṃsano;
Dhiratthu rūpaṃ asuciṃ, ramante yattha bālisā.
Then a sense of spiritual urgency arose in me, amazing and causing my hair to stand on end. ‘Shame on this impure form, in which fools delight!’
Khi ấy, tôi phát sinh một sự chấn động chưa từng có, dựng tóc gáy. Đáng khinh thay sắc, vật không trong sạch, nơi mà kẻ ngu vui thích!
353.
353.
353.
‘‘Tadā mahākāruṇiko, disvā saṃviggamānasaṃ;
Udaggacitto sugato, imā gāthā abhāsatha.
Then the Greatly Compassionate One, the Sugata, seeing my mind struck with urgency, with an uplifted heart, spoke these verses:
Khi ấy, bậc Đại Bi, thấy tâm tôi chấn động, với tâm hoan hỷ, bậc Thiện Thệ đã nói những câu kệ này.
354.
354.
354.
‘‘‘Āturaṃ asuciṃ pūtiṃ, passa kheme samussayaṃ;
Uggharantaṃ paggharantaṃ, bālānaṃ abhinanditaṃ.
“Behold, Khemā, this body: afflicted, impure, and foul, oozing and trickling, delighted in by fools.”
Này Khemā, hãy nhìn xem thân này, đau khổ, bất tịnh, hôi thối; nó trào lên, nó chảy xuống, được những kẻ ngu si ưa thích.
355.
355.
355.
‘‘‘Asubhāya cittaṃ bhāvehi, ekaggaṃ susamāhitaṃ;
Sati kāyagatā tyatthu, nibbidā bahulā bhava.
“Develop the mind on the unattractive; make it one-pointed and well-concentrated. Let your mindfulness be directed to the body; be full of disenchantment.”
Hãy tu tập tâm về sự bất tịnh, nhất tâm và định tĩnh tốt đẹp. Chánh niệm của ngươi hãy hướng về thân, hãy có nhiều sự nhàm chán.
356.
356.
356.
‘‘‘Yathā idaṃ tathā etaṃ, yathā etaṃ tathā idaṃ;
Ajjhattañca bahiddhā ca, kāye chandaṃ virājaya.
“‘As this is, so is that; as that is, so is this. Both internally and externally, dispel desire for the body.’
Như thân này, thân kia cũng vậy; như thân kia, thân này cũng vậy. Cả bên trong lẫn bên ngoài, hãy từ bỏ lòng tham muốn đối với thân.
357.
357.
357.
‘‘‘Animittañca bhāvehi, mānānusayamujjaha;
Tato mānābhisamayā, upasantā carissasi.
“‘Develop the signless and abandon the underlying tendency of conceit. Then, through the full understanding of conceit, you will dwell in peace.’
Hãy tu tập cả pháp vô tướng, hãy từ bỏ ngã mạn tùy miên. Do đó, nhờ sự thấu hiểu ngã mạn, ngươi sẽ sống an tịnh.
358.
358.
358.
‘‘‘Ye rāgarattānupatanti sotaṃ, sayaṃ kataṃ makkaṭakova jālaṃ;
Etampi chetvāna paribbajanti, na pekkhino † kāmasukhaṃ pahāya’.
“‘Those impassioned by lust follow the stream they have made themselves, just as a spider follows the web it has made. Having cut even this, they wander forth, abandoning sensual pleasure, without any longing.’”
Những người bị tham ái nhuộm đỏ đi theo dòng chảy do chính mình tạo ra, giống như con nhện (đi theo) mạng lưới do chính nó giăng. Cắt đứt cả điều này, không luyến tiếc, từ bỏ lạc thú của dục, họ xuất gia.
359.
359.
359.
‘‘Tato kallitacittaṃ † maṃ, ñatvāna narasārathi;
Mahānidānaṃ desesi, suttantaṃ vinayāya me.
“Then the Guide of Men, knowing my mind was receptive, taught me the Mahānidāna Sutta for my discipline.”
Khi ấy, bậc Ngự Pháp Trượng Phu, biết ta có tâm thích hợp, đã thuyết giảng kinh Đại Duyên cho ta để điều phục.
360.
360.
360.
‘‘Sutvā suttantaseṭṭhaṃ taṃ, pubbasaññamanussariṃ;
Tattha ṭhitāvahaṃ santī, dhammacakkhuṃ visodhayiṃ.
“Having heard that supreme discourse, I recollected a former memory. Standing right there, serene, I purified the eye of the Dhamma.”
Nghe xong kinh tối thượng ấy, ta đã nhớ lại tưởng niệm xưa. Đứng tại nơi đó, được an tịnh, ta đã thanh lọc pháp nhãn.
361.
361.
361.
‘‘Nipatitvā mahesissa, pādamūlamhi tāvade;
Accayaṃ desanatthāya, idaṃ vacanamabraviṃ.
“Falling down at the Great Seer’s feet right then, in order to confess my transgression, I spoke these words:”
Khi ấy, đảnh lễ dưới chân bậc Đại Sĩ, để sám hối lỗi lầm, ta đã nói lời này:
362.
362.
362.
‘‘‘Namo te sabbadassāvī, namo te karuṇākara;
Namo te tiṇṇasaṃsāra, namo te amataṃ dada.
“‘Homage to you, the All-Seeing One! Homage to you, the source of compassion! Homage to you who have crossed over saṃsāra! Homage to you, the giver of the Deathless!’
Con xin đảnh lễ Ngài, bậc thấy tất cả; con xin đảnh lễ Ngài, nguồn cội của lòng bi mẫn; con xin đảnh lễ Ngài, bậc đã vượt qua vòng luân hồi; con xin đảnh lễ Ngài, bậc ban cho sự bất tử.
363.
363.
363.
‘‘‘Diṭṭhigahanapakkhandā †, kāmarāgavimohitā;
Tayā sammā upāyena, vinītā vinaye ratā.
“‘Plunged into the thicket of views, deluded by sensual lust, I have been trained by you with skillful means and now delight in the discipline.’”
Con, người đã đi vào rừng rậm tà kiến, bị mê mờ bởi tham dục, đã được Ngài điều phục một cách tốt đẹp bằng phương tiện, và nay ưa thích sự điều phục.
364.
364.
364.
‘‘‘Adassanena vibhogā †, tādisānaṃ mahesinaṃ;
Anubhonti mahādukkhaṃ, sattā saṃsārasāgare.
“‘Through not seeing and being separated from such great seers, beings experience great suffering in the ocean of saṃsāra.’”
Do không thấy được các bậc Đại Sĩ như vậy, bị chia lìa, chúng sanh phải chịu đựng khổ lớn trong biển luân hồi.
365.
365.
365.
‘‘‘Yadāhaṃ lokasaraṇaṃ, araṇaṃ araṇantaguṃ †;
Nāddasāmi adūraṭṭhaṃ, desayāmi † tamaccayaṃ.
“‘That I did not see the world’s refuge, the conflict-free one who has gone to the end of conflict, though he stood nearby—I confess that transgression.’”
Khi con đã không thấy bậc là nơi nương tựa của thế gian, bậc không phiền não, bậc đã đến cuối của sự không phiền não, dù Ngài đang ở gần, con xin sám hối lỗi lầm đó.
366.
366.
366.
‘‘‘Mahāhitaṃ varadadaṃ, ahitoti visaṅkitā;
Nopesiṃ rūpaniratā, desayāmi tamaccayaṃ’.
“‘He who brings great welfare, the giver of the supreme gift—I suspected him of being harmful. Delighting in form, I did not approach him—I confess that transgression.’”
Con, người ưa thích sắc đẹp, đã nghi ngờ rằng bậc mang lại lợi ích lớn, bậc ban cho điều cao quý là không có lợi ích, nên đã không đến gần. Con xin sám hối lỗi lầm đó.
367.
367.
367.
‘‘Tadā madhuranigghoso, mahākāruṇiko jino;
Avoca tiṭṭha khemeti, siñcanto amatena maṃ.
“Then the Conqueror, of sweet utterance and greatly compassionate, sprinkling me with the deathless, said to me, ‘Stay, Khemā!’”
Khi ấy, bậc Chiến Thắng có âm thanh ngọt ngào, có lòng đại bi, đã nói: 'Này Khemā, hãy dừng lại', trong khi tưới tẩm ta bằng nước cam lồ.
368.
368.
368.
‘‘Tadā paṇamya sirasā, katvā ca naṃ padakkhiṇaṃ;
Gantvā disvā narapatiṃ, idaṃ vacanamabraviṃ.
“Then, having bowed with my head and circumambulated him keeping him on my right, I went to see the king and spoke these words:”
Khi ấy, đảnh lễ Ngài bằng đầu và đi nhiễu bên phải, ta đi về, gặp đức vua và đã nói lời này:
369.
369.
369.
‘‘‘Aho sammā upāyo te, cintitoyamarindama;
Vanadassanakāmāya, diṭṭho nibbānato muni.
“‘Ah, O tamer of foes, this stratagem of yours was well-conceived! Desiring to see the park, I saw the Sage who has emerged from the forest of defilements.’”
Tâu Đại vương, ôi, phương tiện này mà ngài đã suy nghĩ thật tốt đẹp! Do muốn xem khu vườn, con đã thấy được bậc Mâu-ni đã thoát khỏi rừng phiền não.
370.
370.
370.
‘‘‘Yadi te ruccate rāja †, sāsane tassa tādino;
Pabbajissāmi rūpehaṃ, nibbinnā munivāṇinā’ †.
“‘If it pleases you, O king, I will go forth in the Dispensation of that Such-a-one; I have become disenchanted with form through the Sage's utterance.’”
Tâu Đại vương, nếu ngài hài lòng, con sẽ xuất gia trong giáo pháp của bậc Như Nhiên ấy. Do lời của bậc Mâu-ni, con đã nhàm chán đối với sắc.
Dutiyaṃ bhāṇavāraṃ.
The second recitation section [is finished].
Phần tụng thứ hai.
371.
371.
371.
‘‘Añjaliṃ paggahetvāna, tadāha sa mahīpati;
‘Anujānāmi te bhadde, pabbajjā tava sijjhatu’.
“Then that king, having raised his hands in reverence, said: ‘I grant you permission, good lady. May your going forth be successful!’”
Khi ấy, vị vua ấy chắp tay và nói: 'Này hiền nữ, ta cho phép nàng. Sự xuất gia của nàng hãy được thành tựu'.
372.
372.
372.
‘‘Pabbajitvā tadā cāhaṃ, addhamāse † upaṭṭhite;
Dīpodayañca bhedañca, disvā saṃviggamānasā.
“Then, having gone forth, when half a month had passed, seeing the arising and passing away of a lamp flame, my mind was stirred with a sense of urgency.”
Và khi ấy, sau khi xuất gia, khi nửa tháng đã trôi qua, thấy sự cháy lên và sự tắt đi của ngọn đèn, ta có tâm xúc động.
373.
373.
373.
‘‘Nibbinnā sabbasaṅkhāre, paccayākārakovidā;
Caturoghe atikkamma, arahattamapāpuṇiṃ.
“Disenchanted with all formations, skilled in the causal structure, having crossed over the four floods, I attained arahantship.”
Nhàm chán đối với tất cả các pháp hữu vi, thông thạo về duyên khởi, vượt qua bốn dòng bộc lưu, ta đã đạt được quả A-la-hán.
374.
374.
374.
‘‘Iddhīsu ca vasī āsiṃ, dibbāya sotadhātuyā;
Cetopariyañāṇassa, vasī cāpi bhavāmahaṃ.
“I was a master of psychic powers and of the divine ear element; I am also a master of the knowledge of others’ minds.”
Ta đã thuần thục trong các thần thông, và trong thiên nhĩ giới. Ta cũng là người thuần thục trong tha tâm thông.
375.
375.
375.
‘‘Pubbenivāsaṃ jānāmi, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Sabbāsavaparikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
“I know my former abodes, my divine eye is purified; all my taints are destroyed, now there is no further becoming.”
Ta biết được túc mạng, thiên nhãn đã được thanh lọc. Tất cả lậu hoặc đã được đoạn tận, bây giờ không còn tái sanh nữa.
376.
376.
376.
‘‘Atthadhammaniruttīsu, paṭibhāne tatheva ca;
Parisuddhaṃ mama ñāṇaṃ, uppannaṃ buddhasāsane.
“In meaning, Dhamma, and language, and likewise in inspired eloquence, my knowledge has arisen, completely pure, within the Buddha’s Dispensation.”
Trong giáo pháp của Đức Phật, trí tuệ thanh tịnh của ta đã sanh khởi trong Nghĩa, Pháp, Ngữ và cũng như vậy trong Biện Vô Ngại Giải.
377.
377.
377.
‘‘Kusalāhaṃ visuddhīsu, kathāvatthuvisāradā;
Abhidhammanayaññū ca, vasippattāmhi sāsane.
“I am skilled in the purifications, an expert in the subjects of discourse, a knower of the Abhidhamma method; I have attained mastery in the Dispensation.”
Ta thiện xảo trong các pháp thanh tịnh, không rụt rè trong các luận sự, biết phương pháp của A-tỳ-đàm, và đã đạt đến sự thuần thục trong giáo pháp.
378.
378.
378.
‘‘Tato toraṇavatthusmiṃ, raññā kosalasāminā;
Pucchitā nipuṇe pañhe, byākarontī yathātathaṃ.
“Then, at the gateway, having been asked subtle questions by the king, the lord of Kosala, I explained them in accordance with reality.”
Sau đó, tại Toraṇavatthu, được vua nước Kosala hỏi những câu hỏi vi tế, ta đã trả lời như thật.
379.
379.
379.
‘‘Tadā sa rājā sugataṃ, upasaṅkamma pucchatha;
Tatheva buddho byākāsi, yathā te byākatā mayā.
“Then that king approached the Well-farer and asked, and the Buddha explained them in the very same way as I had explained them.”
Khi ấy, vị vua ấy đến gần Đức Thiện Thệ và hỏi. Đức Phật đã trả lời cũng như cách những câu hỏi ấy đã được ta trả lời.
380.
380.
380.
‘‘Jino tasmiṃ guṇe tuṭṭho, etadagge ṭhapesi maṃ;
Mahāpaññānamaggāti, bhikkhunīnaṃ naruttamo.
“Pleased with that quality, the Conqueror, the best of men, placed me in the foremost position among the bhikkhunīs, as the chief of those with great wisdom.”
Bậc Chiến Thắng, bậc Tối Thượng trong loài người, hài lòng về đức hạnh ấy, đã đặt ta vào vị trí tối thượng, tuyên bố rằng (ta) là bậc nhất trong số các Tỳ-khưu-ni có trí tuệ lớn.
381.
381.
381.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
“My defilements are burnt up … I dwell free of taints.”
Các phiền não của ta đã được thiêu đốt... (vân vân)... ta sống không còn lậu hoặc.
382.
382.
382.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“Welcome indeed was my coming … the Buddha’s teaching has been done.”
Sự đến của ta thật là một sự đến tốt đẹp... (vân vân)... giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
383.
383.
383.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges … the Buddha’s teaching has been done.”
Bốn Tuệ Phân Tích... v.v... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ khemā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the bhikkhunī Khemā spoke these verses.
Như vậy, Tỳ khưu ni Khemā đã nói lên những câu kệ này.
Khemātheriyāpadānaṃ aṭṭhamaṃ.
The Apadāna of the Therī Khemā: The Eighth.
Trưởng Lão Ni Kệ Khemā, phẩm thứ tám.