Bản dịch
THI -ap17 — Ký sự về Mahāpajāpatigotamī
Mahāpajāpatigotamītherīapadāna
BJT 226Một thời, bậc Quang Đăng của thế gian, đấng Điều Phục Nhân trú tại thành Vesālī, khu Đại Lâm, ở ngôi nhà mái nhọn, trong giảng đường xinh xắn.
BJT 227Khi ấy, người dì ruột của đấng Chiến Thắng là tỳ khưu ni Mahāgotamī đã cư ngụ tại tu viện của tỳ khưu ni được xây dựng ở tại nơi ấy, trong thành phố đáng yêu.
BJT 228Khi đang ở nơi thanh vắng cùng với năm trăm vị tỳ khưu ni đã được giải thoát, có điều suy tầm đã khởi đến tâm của vị ni ấy như vầy:
BJT 229“Ta sẽ không thể chứng kiến sự viên tịch Niết Bàn của đức Phật, hoặc của hai vị Tối Thượng Thinh Văn, của Rāhula, Ānanda, vā Nanda.
BJT 230Trước khi có thể buông bỏ thọ hành rồi thành tựu Niết Bàn, ta cần được đấng Bảo Hộ Thế Gian, bậc Đại Ẩn Sĩ cho phép.”
BJT 231Sự suy tầm của năm trăm vị tỳ khưu ni cũng như thế, chính điều suy tầm này cũng đã khởi đến các vị ni như là Khemā, v.v…
BJT 232Khi ấy, đã có sự lay động của trái đất, tiếng trống của cõi trời đã vang lên. Các Thiên nhân cư ngụ ở ni viện đã bị dày vò bởi sầu muộn. Tại nơi ấy, trong khi than vãn với niềm bi mẫn họ đã tuôn rơi những giọt nước mắt.
BJT 233Cùng với các vị (Thiên nhân) ấy, các vị tỳ khưu ni bạn đã đi đến gặp bà Gotamī. Họ đã quỳ xuống đê đầu ở bàn chân và đã nói lời nói này:
BJT 234“Thưa ni sư, chúng tôi đã tưới nước ở tại nơi ấy rồi đã đi đến nơi thanh vắng. Trái đất có sự vững chải đã bị lay động, tiếng trống của cõi trời đã được vang lên, và những tiếng than khóc đã được nghe đến. Bà Gotamī, chẳng lẽ có sự việc gì hay sao?”
BJT 235Khi ấy, bà Gotamī đã kể lại mọi việc theo như đã được suy tầm. Các vị ni ấy cũng đã kể lại mọi việc theo như đã được suy tầm:
BJT 236“Thưa ni sư, thưa vị có sự hành trì tốt đẹp, nếu Niết Bàn tối thắng thù diệu được bà thích thú, thì tất cả chúng tôi cũng sẽ Niết Bàn với sự chấp thuận của đức Phật.
BJT 237Chúng tôi sẽ cùng nhau rời khỏi ngôi nhà và rời khỏi luôn cả sự hiện hữu, chúng tôi sẽ cùng nhau đi đến thành phố Niết Bàn tối thượng.”
BJT 238Bà Gotamī đã nói rằng: “Ta sẽ nói gì đây đối với những người đang đi đến Niết Bàn?” Khi ấy, bà Gotamī cùng với tất cả các vị ni ấy đã rời khỏi chỗ cư ngụ của các tỳ khưu ni.
BJT 239“Xin chư Thiên đang ngự tại trú xá hãy thông cảm cho ta. Đây là sự nhìn thấy ni viện lần cuối cùng của ta.
BJT 240Nơi nào sự già hoặc sự chết, sự gần gũi với những gì không yêu thích, sự xa lìa với những gì yêu thích là không có, thì ta nên đi đến nơi ấy là nơi không bị tạo tác.”
BJT 241Nghe được lời nói ấy, những vị tỳ khưu ni của đấng Thiện Thệ có tham ái chưa được xa lìa bị dằn vặt bởi sầu muộn nên đã than vãn rằng: “Than ôi, chúng tôi có phước báu kém cỏi.
BJT 242Trú xứ này của các tỳ khưu ni thiếu vắng các vị ấy (sẽ) trở nên trống không. Các vị tỳ khưu ni của đấng Chiến Thắng (sẽ) không còn được nhìn thấy, ví như các vì sao không còn được nhìn thấy vào ban ngày.
BJT 243Bà Gotamī đi đến Niết bàn cùng với năm trăm vị tương tợ như sông Gaṅgā cùng với năm trăm dòng sông chảy về biển cả.”
BJT 244Sau khi nhìn thấy bà Gotamī đang đi ở trên đường, các nữ cư sĩ thành tín đã di ra khỏi nhà rồi đã quỳ xuống ở hai bàn chân (của bà) và đã nói điều này:
BJT 245“Hỡi vị có tài sản vĩ đại, xin người hoan hỷ. Xin chớ lìa bỏ chúng con (trở thành) không người bảo hộ. Xin người chớ quyết định Niết Bàn,” họ đã than van ầm ĩ như thế.
BJT 246Nhằm mục đích xóa đi nỗi sầu muộn của họ, bà Gotamī đã nói với giọng nói ngọt ngào rằng: “Này các con, than khóc đã đủ rồi, hôm nay đây là thời điểm vui cười của các con.
BJT 247Khổ đã được ta biết toàn diện, nhân của Khổ đã được ta dứt bỏ, sự Diệt Tận đã được ta tác chứng, và Đạo cũng đã được ta thực hành khéo léo.
(Tụng phẩm thứ nhất).
BJT 248Bậc Đạo Sư đã được ta phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được ta thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.
BJT 249Vì mục đích nào ta đã rời khỏi gia đình xuất gia vào đời sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được ta đạt đến.
BJT 250Này các con, đức Phật và Chánh Pháp không bị thiếu sót của Ngài vẫn còn tồn tại vào thời điểm Niết Bàn của ta, chớ có khóc than cho ta.
BJT 251Koṇḍañña, Ānanda, Nanda, v.v…, vị Rāhula chiến thắng còn tại tiền, hội chúng là được an lạc, hòa hợp, còn đối với các ngoại đạo thì niềm kiêu hãnh đã bị tiêu tan.
BJT 252Danh tiếng của dòng tộc Okkāka với sự tiêu diệt Ma Vương đã được giương cao. Này các con, chẳng phải chính lúc này là thời điểm cho mục đích Niết Bàn của ta hay sao?
BJT 253Điều ước nguyện của ta được nung đúc từ lâu hôm nay được thành tựu. Này các con, giờ đây là thời điểm của những tiếng trống vui mừng, việc gì với những giọt nước mắt của các con?
BJT 254Nếu có lòng thương mến đối với ta, và nếu có lòng bi mẫn, tất cả các con hãy thể hiện sự tinh tấn kiên cố cho sự tồn tại của Chánh Pháp.
BJT 255Khi được ta thỉnh cầu, đấng Toàn Giác đã ban cho sự xuất gia một cách lưỡng lự. Do điều đó, ta đã hoan hỷ như thế nào thì các con hãy thuận theo điều ấy như thế.”
BJT 256Sau khi dặn dò như thế, bà Gotamī dẫn đầu các vị tỳ khưu ni đã đi đến đảnh lễ đức Phật, rồi đã nói lời nói này:
BJT 257“Bạch đấng Thiện Thệ, con là mẹ của Ngài. Và bạch đấng Anh Hùng, Ngài là cha của con. Bạch đấng Bảo Hộ, Ngài là người ban cho niềm an lạc trong Chánh Pháp. Bạch ngài Gotama, con đã được sanh ra bởi Ngài.
BJT 258Bạch đấng Thiện Thệ, hình hài và thân xác này của Ngài đã được lớn mạnh là nhờ con. Còn Pháp thân không thể phê phán của con đã được tăng trưởng là nhờ vào Ngài.
BJT 259Nhờ con, Ngài đã được uống nước sữa làm dịu đi sự khao khát trong chốc lát. Nhờ Ngài, con cũng đã được uống chính dòng sữa Giáo Pháp thanh tịnh vô cùng tận.
BJT 260Bạch đấng Đại Hiền Trí, trong việc dưỡng nuôi chăm sóc của con Ngài không có nợ nần. Mong sao cho các phụ nữ có lòng mong mỏi con trai có thể đạt được người con trai như thế này.
BJT 261Mẹ của các vị vua như đức vua Mandhātu, v.v… là ở trong biển cả của hiện hữu. Này con trai, ta đã bị chìm đắm, nhờ Ngài ta đã vượt qua khỏi đại dương của hiện hữu.
BJT 262Đối với hàng phụ nữ, danh xưng ‘Hoàng hậu mẹ của đức vua’ là dễ dàng đạt được. Còn danh xưng ‘Người mẹ của đức Phật’ là đạt được vô cùng khó khăn.
BJT 263Và bạch đấng Anh Hùng, nhờ Ngài con đã đạt được điều ước nguyện ấy của con. Với con toàn bộ điều ấy dầu nhỏ bé hay lớn lao đều đã được tròn đủ.
BJT 264Con muốn từ bỏ xác thân này, con muốn viên tịch Niết Bàn. Bạch đấng Anh Hùng, bậc Lãnh Đạo, vị Đoạn Tận Khổ Đau, xin Ngài hãy cho phép con.
BJT 265Xin Ngài hãy duỗi ra (hai) bàn chân mềm dịu như hoa sen được điểm tô bằng những cây căm bánh xe và các ngọn cờ, con sẽ thể hiện sự tôn kính đến Ngài với lòng yêu mến đối với người con trai.
BJT 266Bạch đấng Lãnh Đạo, xin Ngài hãy thể hiện rõ ràng thân thể tợ như khối vàng, sau khi thực hiện việc chiêm ngưỡng thân thể của Ngài, con sẽ đi về chốn an tịnh.”
BJT 267Đấng Chiến Thắng đã khiến cho người dì nhìn thấy thân thể được thành tựu ba mươi hai tướng trạng và được điểm tô với những hào quang xinh xắn trông giống như ánh mặt trời non trẻ từ đám mây chiều.
BJT 268Sau đó, bà Gotamī đã đê đầu ở lòng bàn chân được in dấu hình bánh xe, trông tợ như đóa hoa sen nở rộ có ánh sáng của mặt trời buổi bình minh.
BJT 269“Con xin đảnh lễ đấng mặt trời của nhân loại, vị tiêu biểu của dòng dõi mặt trời. Đây là lần tử biệt cuối cùng của con, con không gặp Ngài nữa rồi.
BJT 270Bạch đấng Cao Cả của thế gian, hàng nữ nhân gây nên mọi điều xấu xa rồi chết đi. Và bạch đấng Thể Hiện lòng bi mẫn, nếu con có điều sai trái gì xin Ngài tha thứ.
BJT 271Và bạch đấng Nhân Ngưu, con đã liên tục cầu xin sự xuất gia cho hàng phụ nữ, trong việc này nếu con có điều sai trái xin Ngài hãy thứ tha điều ấy.
BJT 272Bạch đấng Đại Hùng, các tỳ khưu ni đã được con dạy dỗ với sự cho phép của Ngài. Bạch đấng Chúa Tể về kham nhẫn, trong trường hợp này nếu có vấn đề huấn luyện kém cỏi, xin Ngài hãy thứ tha điều ấy.”
BJT 273(Đức Phật đáp lại rằng): “Này người có đức hạnh là vật trang điểm, có thể kham nhẫn những điều gọi là không thể kham nhẫn thì còn có việc gì? Ta sẽ nói điều gì hơn nữa đối với bà là người đang tiến đến Niết Bàn?
BJT 274Khi hội chúng tỳ khưu của Ta là thanh tịnh không khiếm khuyết đang tiến bước để ra khỏi thế gian này, ví như quầng trăng ra đi vào lúc rạng đông sau khi nhìn thấy sự biến mất dần của các vì thiên thể.”
BJT 275Khi ấy, các vị tỳ khưu ni kia đã hướng vai phải nhiễu quanh đấng Chiến Thắng cao cả, trông giống như các vì sao theo gót mặt trăng di chuyển xung quanh núi Sumeru. Sau đó họ đã quỳ xuống đê đầu ở bàn chân (đức Phật) rồi đứng lên chiêm ngưỡng khuôn mặt (của Ngài).
BJT 276“Mắt chưa có sự thỏa mãn đối với việc nhìn ngắm Ngài, tai chưa có sự thoả mãn đối với việc được (nghe) Ngài thuyết giảng, chỉ riêng một mình tâm của con đã đạt được sự thoả mãn ấy nhờ vào hương vị của Giáo Pháp.
BJT 277Bạch đấng Cao Quý của loài người, trong khi Ngài tuyên thuyết ở hội chúng, những người nào nhìn thấy khuôn mặt của Ngài là vị đánh đổ sự kiêu căng của những người đối chất, những người ấy là hữu duyên.
BJT 278Bạch đấng có lóng (tay chân) dài, những người nào sẽ khom mình ở bàn chân xinh đẹp có gót chân nhô ra, bạch bậc Thượng Đức, những người ấy cũng là hữu duyên.
BJT 279Bạch đấng Thượng Nhân, những người nào sẽ lắng nghe những lời nói ngọt ngào, vui vẻ, tiêu diệt lỗi lầm, và có lợi ích của Ngài, những người ấy cũng là hữu duyên.
BJT 280Bạch đấng Đại Hùng, với sự nhiệt tâm trong việc lễ bái bàn chân (Ngài), con đã vượt qua khu rừng rậm luân hồi nhờ vào lời thiện thuyết của đấng Quang Vinh, con là hữu duyên với Ngài.”
BJT 281Sau đó, vị ni có hạnh kiểm tốt đẹp ấy cũng đã thông báo đến hội chúng tỳ khưu. Và sau khi đảnh lễ các vị Rāhula, Ānanda, Nanda, bà đã nói điều này:
BJT 282“Mẹ nhờm gớm cái xác thân tợ như chỗ trú của rắn độc, là chỗ ngụ của bệnh tật, bị chồng chất khổ đau, là chốn lai vãng của sự già và sự chết, –
BJT 283– đầy rẫy nhiễm ô và tội lỗi, bị lệ thuộc vào người khác, không năng động. Vì thế Mẹ muốn Niết Bàn. Này các con trai, hãy thông cảm (cho Mẹ).”
BJT 284Vị Nanda và bậc hiền thiện Rāhula, có sầu muộn đã lìa, không còn lậu hoặc, bền vững, không bị lay động, chắc chắn, kiên quyết, đã suy xét về lẽ tự nhiên rằng:
BJT 285“Thật là xấu hổ cho (xác thân) bị tạo tác, chao đảo, không có lõi, tương tợ như cây chuối, giống như trò xảo thuật hay ảo ảnh, ngắn ngủi, không bền vững.
BJT 286Ngay cả bà Gotamī này, đối với đấng Chiến Thắng là người dì, là người nuôi dưỡng Đức Phật, rồi cũng đi đến sự tử vong; tất cả pháp hữu vi là vô thường.”
BJT 287Và lúc bấy giờ, ngài Ānanda, vị có lòng thương mến đối với đấng Chiến Thắng, là bậc hữu học, đã bị dằn vặt vì sầu muộn. Tại đó, trong khi tuôn trào những giọt lệ, vị ấy rên rĩ nỗi tiếc thương:
BJT 288“Hỡi ôi! Bà Gotamī đi đến chốn thanh tịnh. Hiển nhiên, chẳng bao lâu nữa đức Phật cũng đi đến tịch diệt ví như ngọn lửa hết nguồn nhiên liệu.”
BJT 289Bà Gotamī đã nói với vị Ānanda đang than vãn ấy như vầy: “Này vị sâu sắc như biển cả về việc nghe (học hỏi). Này vị nhiệt tâm trong việc hầu cận đức Phật.
BJT 290Này con trai, chớ miệt mài thương tiếc khi thời điểm cười vui đã đến đối với con. Này con trai, nơi nương nhờ của ta là Niết Bàn đã đến.
BJT 291Này con yêu, được cầu khẩn bởi con (đức Phật) đã cho phép sự xuất gia đến chúng tôi. Này con trai, chớ có phiền muộn, sự nỗ lực của con là có kết quả.
BJT 292Đạo lộ ấy thậm chí không được nhìn thấy bởi các vị ngoại đạo sư trước đây lại được biết đến bởi những bé gái hiền thiện bảy tuổi.
BJT 293Này vị hộ trì Giáo Pháp của đức Phật, (giờ là) lần nhìn thấy cuối cùng của con. Này con trai, nơi nào khi đã đi đến là không được nhìn thấy thì ta đi đến nơi ấy.”
BJT 294Có lần nọ đấng Lãnh Đạo cao cả của thế gian bị hắt hơi trong khi đang thuyết giảng Giáo Pháp, khi ấy với lòng thương tưởng tôi đã nói lời mong mỏi rằng:
BJT 295“Bạch đấng Đại Hùng, xin Ngài hãy sống thọ. Bạch bậc Đại Hiền Trí, xin Ngài hãy tồn tại trọn kiếp. Vì lợi ích của tất cả thế gian, xin Ngài hãy là vị Thiên Thần bất lão.”
BJT 296Với tôi là người nữ có lời nói như thế về điều ấy, đức Phật ấy đã nói điều này: “Này Gotamī, chư Phật không nên được tôn vinh như thế, giống như cách bà đã tôn vinh.”
BJT 297“Bạch đấng Toàn Tri, vậy thì các đấng Như Lai là nên được tôn vinh như thế nào? Chư Phật là không nên được tôn vinh như thế nào? Được hỏi, xin Ngài hãy giảng cho con về điều ấy.”
BJT 298“Bà hãy nhìn xem các vị đệ tử là có sự hòa hợp, có sự ra sức tinh tấn, có tính khẳng quyết, có sự nỗ lực mạnh mẽ một cách bền bĩ; ấy là sự tôn vinh chư Phật.”
BJT 299Từ nơi ấy, sau khi đi về ni viện, chỉ có một mình tôi đã suy nghiệm rằng: “Đấng Bảo Hộ, vị đi đến tận cùng Tam Giới hài lòng về tập thể có sự hòa hợp.
BJT 300Vậy thì ta sẽ Niết Bàn, ta chớ chứng kiến sự băng hoại ấy.” Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đã diện kiến bậc Đệ Nhất Ẩn Sĩ.
BJT 301Tôi đã thông báo thời điểm viên tịch Niết Bàn của tôi đến bậc Hướng Đạo. Do đó, Ngài đã đồng ý rằng: “Này Gotamī, bà hãy biết lấy thời điểm.”
BJT 302“Các phiền não của con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), con sống không còn lậu hoặc.
BJT 303Quả vậy, con đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 304Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được con đắc chứng; con đã thực hành lời dạy của đức Phật.”
BJT 305“Này Gotamī, những kẻ ngu có khuynh hướng không chú tâm và trì trệ trong việc lãnh hội Giáo Pháp, bà hãy thị hiện thần thông vì lợi ích cho sự từ bỏ tà kiến của những kẻ ấy.”
BJT 306Khi ấy, với sự cho phép của đức Phật, bà Gotamī đã quỳ xuống (đảnh lễ) đấng Toàn Giác rồi đã bay lên không trung và đã thị hiện nhiều loại thần thông.
BJT 307308. Là một, bà đã trở thành nhiều, và tương tợ như thế là nhiều trở thành một. Bà đã hiện ra, biến mất, đi xuyên qua vách tường, xuyên qua ngọn núi không bị chướng ngại. Bà cũng đã chìm vào trong trái đất. Bà đã đi ở trên nước mà không làm chao động như là ở trên đất liền.
BJT 309Khi ấy, bà đã di chuyển với thế kiết già tương tợ như loài chim ở trên không trung. Bằng thân bà đã thể hiện sự tác động đến tận chỗ ngụ của đấng Phạm Thiên.
BJT 310Sau khi đã làm ngọn núi Sineru thành cây cán lọng và đã làm đại địa cầu thành cái lọng che, bà đã xoay ngược lại đến tận gốc rễ. Trong khi cầm (lọng che), bà đã đi kinh hành ở hư không.
BJT 311Và bà đã làm thế gian mù mịt khói đúng vào lúc mọc lên của sáu mặt trời. Bà đã gây rối ren bằng những tràng hoa rực lửa như là thế gian vào lúc hoại kiếp.
BJT 312Về tảng đá khổng lồ Mucalinda, núi Meru, núi Mandāra, và núi Daddara, bà đã nắm lấy toàn bộ bằng một nắm tay như là (nắm lấy) những hạt cải.
BJT 313Với đầu ngón tay bà đã che khuất mặt trời cùng với mặt trăng. Bà đã nắm giữ một ngàn mặt trăng và mặt trời như là (nắm giữ) tràng hoa đội đầu.
BJT 314Bà đã nắm giữ nước của bốn bể bằng một bàn tay, đã làm đổ mưa trận mưa lớn có hình dáng của đám mây đen vào lúc tận thế.
BJT 315Bà đã biến hóa thành đấng Chuyển Luân Vương cùng với tùy tùng ở bề mặt của không trung. Bà đã khiến cho nhìn thấy loài kim-sỉ-điểu, loài voi, và loài sư tử đang gầm rống.
BJT 316Chỉ một mình, bà đã biến hóa thành hội chúng tỳ khưu ni vô số kể sau đó lại làm cho biến mất chỉ còn một mình, rồi đã nói với bậc Hiền Trí rằng:
BJT 317“Bạch đấng Đại Hùng, bạch bậc Hữu Nhãn, người dì cùa Ngài là người nữ thực hành theo lời dạy của Ngài và đã đạt được lợi ích cho bản thân, giờ (xin) đảnh lễ ở bàn chân (Ngài).”
BJT 318Sau khi thị hiện nhiều thể loại thần thông, vị ni ấy đã từ bề mặt của không trung đáp xuống đảnh lễ đấng Quang Đăng của thế gian rồi đã ngồi xuống ở một bên.
BJT 319“Bạch đấng Đại Hiền Trí, con đây đã được một trăm hai mươi tuổi tính từ lúc sanh. Bạch đấng Anh Hùng, chừng ấy là vừa đủ. Bạch đấng Lãnh Đạo, con sẽ Niết Bàn.”
BJT 320Khi ấy, toàn thể hội chúng ấy vô cùng sửng sốt đã chắp tay lên nói rằng: “Thưa ni sư, làm thế nào bà đã trở thành vị có thần thông và sự nỗ lực không thể sánh bằng?”
BJT 321Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 322Khi ấy, tôi đã được sanh ra ở tại Haṁsavatī, trong gia đình vị quan cận thần được đầy đủ mọi thứ tiện nghi, sung túc, thịnh vượng, có đại tài sản.
BJT 323Có lần nọ, tôi đã dẫn đầu nhóm nữ tỳ cùng người cha với đoàn tùy tùng đông đảo đi đến đấng Nhân Ngưu ấy.
BJT 324Tợ như vị (Thiên Vương) Vāsava đang làm mưa, đấng Chiến Thắng bậc không còn lậu hoặc, rực rỡ với quầng hào quang giống như mặt trời của mùa thu, đang làm đổ xuống cơn mưa Pháp.
BJT 325Sau khi nhìn thấy, tôi đã làm cho tâm được tịnh tín và đã lắng nghe (Giáo Pháp) khéo được thuyết giảng của đấng Lãnh Đạo nhân loại ấy trong khi Ngài đang thiết lập vị tỳ khưu ni Mātucchā vào vị thế hàng đầu.
BJT 326Sau khi lắng nghe, tôi đã dâng cúng đại thí và nhiều vật dụng trong bảy ngày đến bậc Tối Thượng Nhân như thế ấy cùng với hội chúng (của Ngài).
BJT 327Tôi đã nằm dài xuống ở bàn chân (Ngài) và đã phát nguyện vị thế ấy. Sau đó, vị Đệ Nhất Ẩn Sĩ đã nói với đoàn tùy tùng đông đảo rằng:
BJT 328“Người nữ nào đã chăm lo bữa ăn đến đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng trong bảy ngày, Ta sẽ tán dương người nữ ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 329Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 330(Người nữnày) sẽ trở thành nữ Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tựGiáo Pháp của vị(Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từGiáo Pháp, có tên là Gotamī.
BJT 331Người nữ này sẽ là người dì nuôi dưỡng mạng sống của vị Phật ấy và sẽ đạt được vị thế hạng nhất trong số các tỳ khưu ni kỳ cựu.”
BJT 332Sau khi nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, tôi đã hộ độ đấng Chiến Thắng bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời, sau đó đã từ trần.
BJT 333Được sanh lên giữa chư Thiên thuộc cõi Đạo Lợi có các sự dồi dào về mọi dục lạc, tôi đã vượt trội các vị (Trời) khác về mười phương diện:
BJT 334Là các sắc, các thinh, các hương, các vị, và các xúc, luôn cả tuổi thọ và sắc đẹp, sự an lạc và luôn cả danh tiếng nữa.
BJT 335Với ưu thế như thế ấy, tôi đã nổi bật và sáng chói. Tôi đã là hoàng hậu yêu dấu của vị Trời Đế Thích ở tại nơi ấy.
BJT 336Trong khi trôi nổi luân hồi, bị dời chuyển dưới tác động của nghiệp, tôi đã được sanh ra ở trong ngôi làng dân nô lệ thuộc lãnh địa của đức vua Kāsi.
BJT 337Khi ấy, có không dưới năm trăm người nô lệ cư ngụ ở nơi ấy. Tại đó, người nào là đứng đầu của tất cả (nhóm người), tôi đã trở thành vợ của người ấy.
BJT 338Năm trăm bậc Tự Chủ đã đi vào làng để khất thực. Sau khi nhìn thấy các vị ấy, tôi cùng với tất cả quyến thuộc đã vui mừng.
BJT 339Chúng tôi cùng với những người chồng đã xây dựng năm trăm cốc liêu, đã hộ độ trong bốn tháng, đã dâng cúng ba y, và đã trở nên hoan hỷ.
BJT 340Từ nơi ấy chết đi, chúng tôi cùng với những người chồng đã đi đến cõi trời Đạo Lợi. Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, chúng tôi đã được sanh ra ở thành phố Devadaha.
BJT 341Cha của tôi là Añjana thuộc dòng Sakya, mẹ của tôi là (hoàng hậu) Sulakkhaṇā. Sau đó, tôi đã đi đến nhà (làm vợ) của (đức vua) Suddhodana ở thành Kapilavatthu.
BJT 342Những người còn lại đã được sanh vào gia tộc Sakya, đã đi đến nhà (làm vợ) của các vị dòng Sakya. Là ưu việt trong số tất cả, tôi đã là người bảo mẫu của đấng Chiến Thắng.
BJT 343Người con trai của tôi sau khi lìa bỏ ra đi đã trở thành đức Phật, bậc Hướng Đạo. Về sau, tôi đã xuất gia cùng với năm trăm vị (công nương).
BJT 344Cùng với các công nương dòng Sakya, tôi đã chạm đến sự an lạc của Niết Bàn. Khi ấy, những người nào đã là chồng của chúng tôi trong cuộc sống trước đây, –
BJT 345– những người cùng thực hiện phước báu, những người đã tạo ra thời điểm trọng đại, được đấng Thiện Thệ thương tưởng những người ấy đã chạm đến phẩm vị A-la-hán.
BJT 346Khi ấy, các vị tỳ khưu ni kia đã ngự lên bề mặt của không trung. Có đại thần lực, các vị ni đã chói sáng như là các vì sao đã được quần tụ lại.
BJT 347Các vị ni đã thị hiện nhiều loại thần thông, tương tợ như những thợ vàng khéo được huấn luyện đã làm ra nhiều mẫu mã trang sức đối với kim loại vàng đã được chế biến.
BJT 348Khi ấy, các vị ni đã thị hiện các phép lạ đa dạng nhiều loại và đã làm hoan hỷ bậc Hiền Trí, vị thuyết giảng hàng đầu, cùng với đồ chúng.
BJT 349Sau khi từ không trung đáp xuống, các vị ni đã đảnh lễ bậc Ẩn Sĩ tối thượng. Được sự cho phép của đấng Tối Thượng Nhân, các vị ni đã ngồi xuống đúng theo vị thế (nói rằng):
BJT 350“Ôi! Bạch đấng Anh Hùng, bà Gotamī là người có lòng từ mẫn đối với tất cả chúng con. Được sống nhờ vào những phước báu của Ngài, chúng con đã đạt được sự đoạn tận các lậu hoặc.
BJT 351Các phiền não của chúng con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là những con voi cái (đã được cởi trói), chúng con sống không còn lậu hoặc.
BJT 352Quả vậy, chúng con đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 353Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được chúng con đắc chứng; chúng con đã thực hành lời dạy của đức Phật.
BJT 354Bạch đấng Đại Hiền Trí, chúng con đã có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, chúng con đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
BJT 355Chúng con biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 356Bạch đấng Đại Hùng, trí của chúng con về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và về phép biện giải được phát hiện và được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.
BJT 357Bạch đấng Lãnh Đạo, Ngài đã hành sử đối với chúng con bằng các tâm từ ái. Bạch đấng Đại Hiền Trí, xin Ngài cho phép về việc Niết Bàn đến tất cả (chúng con).”
BJT 358Đấng Chiến Thắng đã nói rằng: “Khi các nàng nói: ‘Chúng con sẽ Niết Bàn,’ như thế thì Ta còn nói điều gì nữa. Vậy thì giờ đây, các nàng hãy suy nghĩ về thời điểm của các nàng.”
BJT 359Khi ấy, các vị tỳ khưu ni ấy đứng đầu là Gotamī, v.v… đã đảnh lễ đấng Chiến Thắng. Rồi các vị ni ấy đã từ chỗ ngồi ấy đứng dậy và đã ra đi.
BJT 360Bậc Anh Hùng ấy, vị Lãnh Đạo cao cả của thế gian cùng với đại chúng đông đảo đã cùng đi theo người dì cho đến tận cổng.
BJT 361Khi ấy, bà Gotamī đã cúi xuống ở các bàn chân của đấng quyến thuộc thế gian, là sự đảnh lễ bàn chân lần cuối cùng với tất cả các vị ni kia.
BJT 362“Đây là lần nhìn thấy đấng Bảo Hộ Thế Gian lần cuối cùng của con. Con sẽ không còn nhìn thấy lại khuôn mặt của Ngài là nguồn phát sanh lên sự Bất Tử.
BJT 363Và bạch đấng Anh Hùng, (đây) không phải là sự đảnh lễ của con ở bàn chân vô cùng mềm mại của ngài. Bạch đấng Cao Cả của thế gian, con sẽ sờ nắn (chúng); hôm nay con đi đến nơi an tịnh.
BJT 364Có gì với sắc tướng này của Ngài khi pháp đã được thấy đúng theo bản thể? Toàn bộ sắc tướng này chỉ là hữu vi, không được thoải mái, là tạm bợ.”
BJT 365Sau khi đi về tu viện tỳ khưu ni của mình cùng với các vị ni ấy, bà Gotamī đã xếp chân bán già ngồi xuống ở trên chỗ ngồi cao nhất.
BJT 366Khi ấy, các nữ cư sĩ mến chuộng Phật Pháp ở tại nơi ấy, sau khi nghe được tin tức về bà ấy, đã đi đến đảnh lễ ở bàn chân (của bà).
BJT 367Bị dằn vặt vì sầu muộn, họ đã đấm vào ngực bằng những bàn tay. Rồi giống như là các dây leo bị chặt đứt gốc rễ, họ đã ngã xuống ở trên đất trong khi nức nở tiếng khóc lóc thảm thương rằng:
BJT 368“Hỡi người ban bố sự nương nhờ, hỡi người bảo hộ, xin người đừng từ bỏ chúng con mà đi đến nơi an tịnh. Toàn thể người nữ chúng con quỳ xuống đê đầu thỉnh cầu (người).”
BJT 369Trong khi xoa đầu của người nữ cư sĩ có sự nỗ lực cao nhất, có tín tâm, có trí tuệ trong số ấy, bà Gotamī đã nói lời nói này:
BJT 370“Này các con, thôi đủ rồi bởi vì thất vọng là sự xoay vần theo mưu kế của Ma Vương. Tất cả pháp hữu vi là vô thường, sự chia lìa và sự tử vong là không chừng đổi.”
BJT 371Sau đó, bà ấy đã giã từ những người nữ ấy rồi đã thể nhập thiền tối thượng bậc thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, và luôn cả bậc thứ tư.
BJT 372Tương tợ như thế, theo tuần tự bà đã thể nhập (các bậc thiền) không gian xứ, thức xứ, vô sở hữu, phi tưởng.
BJT 373Bà Gotamī đã thể nhập các bậc thiền theo chiều nghịch về lại bậc thiền thứ nhất, rồi từ đó tiến đến bậc thứ tư.
BJT 374Từ đó bà đã xuất ra và đã Niết Bàn tợ như ngọn lửa của cây đèn cạn dầu. Đã có sự chuyển động dữ dội của trái đất, sét đã giáng xuống từ bầu trời.
BJT 375Các tiếng trống đã được vang lên, chư Thiên đã than vãn, và cơn mưa bông hoa từ bầu trời đã đổ xuống trái đất.
BJT 376Ngọn núi chúa Meru cũng đã rung động tương tợ như người vũ công ở giữa sàn nhảy. Chính vì sầu muộn, biển cả đã có sự gào thét vô cùng thảm thiết.
BJT 377Vào giây phút ấy, chư Thiên, các Long Vương, các Atula, và đấng Phạm Thiên bị chấn động đã thốt lên rằng: “Các pháp hữu vi quả thật là vô thường, theo như thế ấy vị ni này đã đi đến sự hoại diệt.
BJT 378Và các vị ni nào là những người thực hành theo lời dạy của bậc Đạo Sư đã tháp tùng vị ni này, các vị ni ấy cũng không còn chấp thủ, như là ngọn lửa của cây đèn đã bị lụi tàn.”
BJT 379Và đã có sự than vãn rằng: “Chao ôi! Các sự hội tụ có sự chia lìa là điểm kết thúc. Chao ôi! Tất cả pháp hữu vi là vô thường. Chao ôi! Cuộc sống có sự tiêu hoại là điểm kết thúc.”
BJT 380Sau đó, chư Thiên và đấng Phạm Thiên (đã) tiến hành công việc thuận theo pháp thế gian, thích hợp thời điểm, rồi đã đi đến gần vị Đệ Nhất Ẩn Sĩ.
BJT 381Khi ấy, bậc Đạo Sư đã bảo ngài Ānanda là vị có sự học ví như biển cả rằng: “Này Ānanda, hãy đi thông báo đến các tỳ khưu về việc Niết Bàn của mẹ.”
BJT 382Khi ấy, ngài Ānanda, không còn nét hân hoan, mắt đẫm lệ, đã nói với giọng nói nghẹn ngào rằng: “Hỡi chư tỳ khưu, hãy cùng nhau đi đến.
BJT 383Hỡi chư tỳ khưu là các đệ tử của đấng Thiện Thệ đang ngụ ở các hướng đông, nam, tây, bắc, xin hãy lắng nghe lời nói của tôi.
BJT 384Bà gotamī ấy, người đã ra sức nuôi dưỡng xác thân cuối cùng của đấng Hiền Trí, đã đi đến nơi an tịnh nhưlà vì sao vào lúc ló dạng của mặt trời.
BJT 385Sau khi đã thiết lập danh xưng cho vị ni đã ngự đến Niết Bàn là ‘Người Mẹ của đức Phật,’ đấng Lãnh Đạo, dầu là bậc Ngũ Nhãn, cũng không nhìn thấy nơi nào là nơi (bà) đã đi đến.
BJT 386Vịnào có niềm tin vào đấng Thiện Thệ, và vị nào yêu quý bậc Đại Hiền Trí, xin vịđệ tửcủa đấng Thiện Thệhãy thể hiện sự tôn kính đối với người mẹ của đức Phật.”
BJT 387Sau nghe được điều ấy, các vị tỳ khưu thậm chí từ quốc độ vô cùng xa xôi đã nhanh chóng đi đến, một số vị là nhờ vào năng lực của đức Phật, một số vị là được rành rẽ về các phép thần thông.
BJT 388Ở trong ngôi nhà mái nhọn cao quý đáng yêu toàn bộ làm bằng vàng sáng chói, các vị đã cùng nhau sắp đặt chiếc giường nhỏ là nơi bà Gotamī an nghỉ.
BJT 389Bốn vị (Trời) hộ trì thế gian ấy đã cùng nhau gánh vác bằng những bả vai. Chư Thiên còn lại như là (vua Trời) Sakka, v.v… đã cùng nhau khiêng các ngôi nhà mái nhọn.
BJT 390Toàn bộ đã có đến năm trăm ngôi nhà mái nhọn có màu sắc như ánh mặt trời vào mùa thu đều đã được tạo nên bởi vị Trời Vissakamma.
BJT 391Toàn thể các vị tỳ khưu ni ấy đã được đặt nằm trên những chiếc giường được nâng lên đặt ở vai của chư Thiên rồi được tuần tự rước đi.
BJT 392Có mái che đã che phủ toàn bộ bề mặt của không trung. Mặt trăng, mặt trời, cùng các vì sao đã được ghi dấu hiệu bằng vàng.
BJT 393Vô số ngọn cờ đã được dựng lên, các tấm màn hoa đã được trải rộng. Từ trên không trung những đóa hoa sen đã rơi xuống, ở trên mặt đất là bông hoa đã được vun cao.
BJT 394Mặt trăng và mặt trời được nhìn thấy và các vì sao lấp lánh. Và mặt trời dầu đã đi đến chính ngọ nhưng không làm cho nóng bức, tợ như là mặt trăng vậy.
BJT 395Chư Thiên đã cúng dường bằng các hương thơm ở cõi trời, những tràng hoa thơm ngát, các khúc nhạc, những điệu vũ, và các bản đồng ca.
BJT 396Và các vị Long Vương, chư Thiên, và các Phạm Thiên tùy theo khả năng, tùy theo sức lực đã cúng dường người mẹ của đức Phật đã Niết Bàn đang được rước đi.
BJT 397Toàn bộ các vị ni đệ tử của đấng Thiện Thệ đã tịch diệt là được rước đi ở phía trước, bà Gotamī, người đã nuôi dưỡng đức Phật, được kính trọng, đã được rước đi ở phía sau.
BJT 398Chư Thiên và nhân loại cùng với các Long Vương, A-tu-la, Phạm Thiên là ở phía trước, đức Phật cùng các vị Thinh Văn đi ở phía sau nhằm mục đích tôn vinh người mẹ.
BJT 399Lễ viên tịch Niết Bàn của đức Phật đã là như thế nào chứ không được như thế này, lễ viên tịch Niết Bàn của bà Gotamī đã là vô cùng phi thường.
BJT 400Ở lễ Niết Bàn của đức Phật, đức Phật không hiện diện (chỉ có) các vị tỳ khưu. Ở lễ Niết Bàn của bà Gotamī có đức Phật cũng như có các vị Sāriputta, v.v…
BJT 401Các vị ấy đã thực hiện các giàn hỏa thiêu được làm bằng tất cả các loại vật thơm, được rải rắc các loại bột phấn thơm, rồi đã hỏa thiêu bà ở nơi đó.
BJT 402Các phần còn sót lại đã được đốt cháy toàn bộ, toàn bộ phần còn lại là các hạt xương. Và khi ấy, ngài Ānanda đã nói lời nói khơi dậy nỗi chấn động:
BJT 403“Bà Gotamī đã đi đến sự yên nghỉ, và thi thể của bà ấy đã được thiêu đốt. Tôi e rằng sự Niết Bàn của đức Phật sẽ là không lâu.”
BJT 404Sau đó, được đức Phật khuyên bảo vị Ānanda ấy đã dâng lên đấng Bảo Hộ các xá-lợi của bà Gotamī đã được đặt vào trong bình bát của bà ấy.
BJT 405Sau khi đã nâng lên các xá-lợi bằng bàn tay, vị Đệ Nhất Ẩn Sĩ đã nói rằng: “So sánh với thân cây to lớn có lõi đang đứng thẳng, –
BJT 406– giống cây nào dầu có tầm vóc lớn hơn vẫn bị ngã xuống bởi vì tính chất vô thường, tương tợ như thế bà Gotamī của hội chúng tỳ khưu ni đã viên tịch Niết Bàn.
BJT 407Ôi! Quả là ngạc nhiên đối với Ta! Ngay cả trong sự Niết Bàn của người mẹ chỉ còn lại phần nhỏ về xá-lợi, và không có sự sầu muộn hay than vãn.
BJT 408Không có sự sầu khổ ở những người khác. Bà ấy có biển cả luân hồi đã được vượt qua, có sự bực bội đã lìa, được trạng thái mát mẻ, đã Niết Bàn tốt đẹp.
BJT 409Bà đã là vị thông thái có tuệ vĩ đại, và tương tợ như thế ấy bà là vị có tuệ bao quát, là vị kỳ cựu trong số các tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, các ngươi hãy ghi nhận như thế.
BJT 410Bà Gotamī đã có năng lực về thần thông, về thiên nhĩ giới, và đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
BJT 411Bà đã biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, đối với bà ấy không còn tái sanh nữa.
BJT 412Bà ấy đã có được trí hoàn toàn thanh tịnh về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải; vì thế không nên sầu muộn.
BJT 413Giống như đối với ngọn lửa cháy sáng hủy hoại luôn cả chiếc búa sắt (nhưng khi) đã được dập tắt theo tuần tự thì nơi đi đến cũng không được biết.
BJT 414Tương tợ như vậy, đối với những người đã được giải thoát đúng đắn, có sự vượt qua dòng lũ ràng buộc của các dục lạc, đã đạt được vị thế bất động thì không còn cảnh giới tái sanh nào đế nhận biết nữa.
BJT 415Do đó, các ngươi hãy là hòn đảo của chính bản thân, có hành xứ là các sự thiết lập niệm. Sau khi tu tập bảy chi phần giác ngộ, các ngươi sẽ làm chấm dứt sự khổ đau.”
Vị tỳ khưu ni Mahāpajāpatigotamī đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Mahāpajāpatigotamī là phần thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Mahāpajāpatigotamītherīapadānaṃ
7. The Apadāna of the Therī Mahāpajāpatī Gotamī
7. Thánh Ký về Trưởng Lão Ni Mahāpajāpatigotamī
97.
97.
97.
‘‘Ekadā lokapajjoto, vesāliyaṃ mahāvane;
Kūṭāgāre susālāyaṃ, vasate narasārathi.
Once the Illuminator of the World, the Guide of Men, was dwelling in Vesālī, in the Great Wood, in the hall with the gabled roof.
Một thuở nọ, bậc Soi Sáng Thế Gian, bậc Điều Ngự Chúng Sanh đang ngự tại giảng đường có nóc nhọn ở Đại Lâm, tại thành Vesālī.
98.
98.
98.
‘‘Tadā jinassa mātucchā, mahāgotami bhikkhunī;
Tahiṃ kate † pure ramme, vasī bhikkhunupassaye.
Then the Victor’s maternal aunt, the bhikkhunī Mahāgotamī, dwelt in a delightful nunnery built in that city.
Khi ấy, vị di mẫu của đấng Chiến Thắng, Tỳ-khưu-ni Mahāgotamī, đã trú ngụ ở tu viện ni khả ái được xây dựng tại thành phố ấy.
99.
99.
99.
‘‘Bhikkhunīhi vimuttāhi, satehi saha pañcahi;
Rahogatāya tassevaṃ, citassāsi † vitakkitaṃ.
Accompanied by five hundred liberated bhikkhunīs, while she was in seclusion, this thought arose in her mind:
(Bà) đã cùng với năm trăm vị Tỳ-khưu-ni đã được giải thoát (trú ngụ). Khi đang ở nơi vắng vẻ, trong tâm của vị ấy đã khởi lên sự suy nghĩ như vầy:
100.
100.
100.
‘‘Buddhassa parinibbānaṃ, sāvakaggayugassa vā;
Rāhulānandanandānaṃ, nāhaṃ lacchāmi passituṃ.
“The final Nibbāna of the Buddha, or that of the chief pair of disciples, or of Rāhula, Ānanda, and Nanda—I shall not get to see.”
‘Ta sẽ không có được (cơ hội) để nhìn thấy sự viên tịch của đức Phật, hoặc của cặp đôi Thượng Thủ Thinh Văn, hoặc của các ngài Rāhula, Ānanda, và Nanda.
101.
101.
101.
‘‘Buddhassa parinibbānā, sāvakaggayugassa vā;
Mahākassapanandānaṃ, ānandarāhulāna ca.
“Before the final Nibbāna of the Buddha, or of the chief pair of disciples, and of Mahākassapa, Nanda, Ānanda, and Rāhula,
Sau sự viên tịch của đức Phật, hoặc của cặp đôi Thượng Thủ Thinh Văn, của các ngài Mahākassapa và Nanda, và của các ngài Ānanda và Rāhula.
102.
102.
102.
‘‘Paṭikaccāyusaṅkhāraṃ †, osajjitvāna nibbutiṃ;
Gaccheyyaṃ lokanāthena, anuññātā mahesinā.
“I should relinquish my life-force in advance and attain extinguishment, having been permitted by the Lord of the World, the Great Seer.”
sau khi từ bỏ hành mạng từ trước, ta sẽ đi đến sự tịch tịnh, sau khi được đấng Lãnh Đạo Thế Gian, bậc Đại Sĩ, cho phép.
103.
103.
103.
‘‘Tathā pañcasatānampi, bhikkhunīnaṃ vitakkitaṃ;
Āsi khemādikānampi, etadeva vitakkitaṃ.
So too was the thought of the five hundred bhikkhunīs; of Khemā and the others, this very same thought arose.
Cũng thế, sự suy nghĩ đã khởi lên ở năm trăm vị Tỳ-khưu-ni. Và đối với các vị đứng đầu là Khemā, chính sự suy nghĩ này cũng đã (khởi lên).
104.
104.
104.
‘‘Bhūmicālo tadā āsi, nāditā devadundubhī;
Upassayādhivatthāyo, devatā sokapīḷitā.
Then there was an earthquake and the celestial drums resounded; the deities inhabiting the nunnery were afflicted with sorrow.
Khi ấy, đã có sự rung chuyển đất đai, các trống trời đã vang rền. Các vị chư thiên trú ngụ ở tu viện ni đã bị sầu muộn áp bức.
105.
105.
105.
‘‘Vilapantā sukaruṇaṃ †, tatthassūni pavattayuṃ;
Mittā † bhikkhuniyo tāhi, upagantvāna gotamiṃ.
Lamenting very piteously, they shed tears there. Her friends, the bhikkhunīs, approached Gotamī together with them.
Trong khi đang than khóc một cách rất bi thương, các vị ấy đã làm tuôn rơi nước mắt ở nơi ấy. Các vị Tỳ-khưu-ni là bạn hữu đã cùng với các vị ấy đi đến gần bà Gotamī.
106.
106.
106.
‘‘Nipacca sirasā pāde, idaṃ vacanamabravuṃ;
‘Tattha toyalavāsittā, mayamayye rahogatā.
Having bowed down with their heads to her feet, they spoke these words: “Noble lady, while in seclusion we have been sprinkled with drops of water.
sau khi cúi đầu đảnh lễ nơi bàn chân, đã nói lên lời này: ‘Thưa tôn nữ, ở nơi ấy, chúng con đã được vẩy các giọt nước, đã đi đến nơi vắng vẻ.
107.
107.
107.
‘‘‘Sā calā calitā bhūmi, nāditā devadundubhī;
Paridevā ca suyyante, kimatthaṃ nūna gotamī’.
“‘That unshakeable earth has shaken, the celestial drums resound, and laments are heard. For what reason is this, O Gotamī?’”
‘Mặt đất vốn không rung chuyển ấy đã bị rung chuyển, các trống trời đã vang rền, và các lời than van cũng được nghe thấy. Thưa bà Gotamī, sự việc ấy chắc chắn là vì mục đích gì?’
108.
108.
108.
‘‘Tadā avoca sā sabbaṃ, yathāparivitakkitaṃ;
Tāyopi sabbā āhaṃsu, yathāparivitakkitaṃ.
Then she told them everything, just as she had thought it; they too all spoke, just as they had thought.
Khi ấy, vị ấy đã nói ra tất cả theo như đã được suy xét. Tất cả các vị kia cũng đã trình bày theo như đã được suy xét.
109.
109.
109.
‘‘‘Yadi te rucitaṃ ayye, nibbānaṃ paramaṃ sivaṃ;
Nibbāyissāma sabbāpi, buddhānuññāya subbate.
“If Nibbāna, supreme and blissful, is your wish, noble lady, then we too shall all attain Nibbāna with the Buddha’s permission, O virtuous one.”
‘Thưa tôn nữ, nếu Niết-bàn tối thượng, an lành là điều ngài ưa thích thì, hỡi bậc thiện hạnh, tất cả chúng con cũng sẽ nhập diệt với sự cho phép của đức Phật.
110.
110.
110.
‘‘‘Mayaṃ sahāva nikkhantā, gharāpi ca bhavāpi ca;
Sahāyeva gamissāma, nibbānaṃ padamuttamaṃ’.
“We went forth together from home and from existence; together we shall go to Nibbāna, the supreme state.”
‘Chúng con đã cùng nhau ra đi từ nhà cửa và cũng từ sự hiện hữu. Chúng con sẽ cùng nhau đi đến Niết-bàn, là trạng thái tối thượng.’
111.
111.
111.
‘‘‘Nibbānāya vajantīnaṃ, kiṃ vakkhāmī’ti sā vadaṃ;
Saha sabbāhi niggañchi, bhikkhunīnilayā tadā.
Saying, “What shall I say to those going to Nibbāna?” she then departed from the bhikkhunīs’ dwelling along with them all.
Vị ấy trong khi đang nói: ‘Ta sẽ nói gì đối với các vị đang đi đến Niết-bàn?’ thì khi ấy đã cùng với tất cả (các vị kia) đi ra khỏi nơi ở của các Tỳ-khưu-ni.
112.
112.
112.
‘‘Upassaye yādhivatthā, devatā tā khamantu me;
Bhikkhunīnilayassedaṃ, pacchimaṃ dassanaṃ mama.
“May the deities who dwell in this residence forgive me. This is my last sight of the bhikkhunīs’ dwelling.”
Các vị chư thiên nào trú ngụ ở tu viện ni, mong các vị ấy hãy tha thứ cho tôi. Việc nhìn thấy nơi ở của các Tỳ-khưu-ni này là lần cuối cùng của tôi.
113.
113.
113.
‘‘Na jarā maccu vā yattha, appiyehi samāgamo;
Piyehi na viyogotthi, taṃ vajissaṃ † asaṅkhataṃ.
“I shall go to that unconditioned state where there is no aging or death, no meeting with the unloved, and no separation from the loved.”
Nơi nào không có sự già hoặc sự chết, không có sự hội hợp với những người không đáng ưa, không có sự chia ly với những người đáng mến, ta sẽ đi đến trạng thái vô vi ấy.
114.
114.
114.
‘‘Avītarāgā taṃ sutvā, vacanaṃ sugatorasā;
Sokaṭṭā parideviṃsu, aho no appapuññatā.
The daughters of the Sugata who were not yet free from passion, having heard those words, afflicted by sorrow, lamented: 'Alas, how little is our merit!'
Các vị con gái của đấng Thiện Thệ chưa ly tham, sau khi nghe được lời nói ấy, đã bị sầu muộn áp bức, đã than van rằng: ‘Ôi, sự ít ỏi phước đức của chúng ta!’
115.
115.
115.
‘‘Bhikkhunīnilayo suñño, bhūto tāhi vinā ayaṃ;
Pabhāte viya tārāyo, na dissanti jinorasā.
This dwelling of the bhikkhunīs has become empty without them; like stars at dawn, the daughters of the Victor are no longer seen.
Nơi ở của các Tỳ-khưu-ni này đã trở nên trống vắng vì không có các vị ấy. Các vị con gái của đấng Chiến Thắng đã không được nhìn thấy, giống như các vì sao vào lúc rạng đông.
116.
116.
116.
‘‘Nibbānaṃ gotamī yāti, satehi saha pañcahi;
Nadīsatehiva saha, gaṅgā pañcahi sāgaraṃ.
Gotamī goes to Nibbāna with five hundred bhikkhunīs, just as the Ganges with five hundred rivers flows to the ocean.
Bà Gotamī đi đến Niết-bàn cùng với năm trăm vị, giống như sông Gaṅgā (đi) ra biển cả cùng với năm trăm con sông.
117.
117.
117.
‘‘Rathiyāya vajantiyo †, disvā saddhā upāsikā;
Gharā nikkhamma pādesu, nipacca idamabravuṃ.
Seeing them walking along the street, faithful laywomen came out from their homes, bowed down at their feet, and said this:
Các nữ cận sự có đức tin, sau khi nhìn thấy các vị đang đi ở trên đường, đã đi ra khỏi nhà, đã cúi mình đảnh lễ nơi bàn chân, và đã nói lên lời này:
118.
118.
118.
‘‘‘Pasīdassu mahābhoge, anāthāyo vihāya no;
Tayā na yuttā † nibbātuṃ, icchaṭṭā vilapiṃsu tā’.
“Be gracious, O greatly fortunate one, do not leave us helpless! It is not right for you to attain Parinibbāna.” Thus they lamented, afflicted by longing.
“Hỡi bậc đại phú, xin hãy đoái thương, xin đừng từ bỏ chúng con là những người không nơi nương tựa; Ngài không nên nhập Niết-bàn,” những người ấy bị ý muốn chi phối đã than khóc như vậy.
119.
119.
119.
‘‘Tāsaṃ sokapahānatthaṃ, avoca madhuraṃ giraṃ;
‘Ruditena alaṃ puttā, hāsakāloyamajja vo.
To dispel their sorrow, she spoke sweet words: “Enough of weeping, my daughters! Today is a time for you to rejoice.”
Để xua tan sầu muộn của họ, ngài đã nói lời ngọt ngào: “Hỡi các con gái, đừng khóc lóc nữa, hôm nay là thời điểm để các con hoan hỷ.
120.
120.
120.
‘‘‘Pariññātaṃ mayā dukkhaṃ, dukkhahetu vivajjito;
Nirodho me sacchikato, maggo cāpi subhāvito.
“Suffering has been fully understood by me, the cause of suffering has been abandoned, cessation has been realized by me, and the path, too, has been well developed.”
“Ta đã liễu tri Khổ, đã từ bỏ nguyên nhân của khổ; Ta đã chứng ngộ Diệt, và cũng đã tu tập tốt đẹp Đạo.”
Paṭhamaṃ bhāṇavāraṃ.
The first recitation section [is finished].
Phần tụng thứ nhất.
121.
121.
121.
‘‘‘Pariciṇṇo mayā satthā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ;
Ohito garuko bhāro, bhavanetti samūhatā.
“The Teacher has been served by me, the Buddha’s teaching has been done; the heavy burden is laid down, the guide to existence is uprooted.”
“Ta đã phụng sự bậc Đạo Sư, đã thực hành giáo pháp của Đức Phật; Gánh nặng đã được đặt xuống, ái dục dẫn dắt trong các cõi đã được nhổ bật.”
122.
122.
122.
‘‘‘Yassatthāya pabbajitā, agārasmānagāriyaṃ;
So me attho anuppatto, sabbasaṃyojanakkhayo.
“The goal for which I went forth from home into homelessness—that goal has been attained by me: the destruction of all fetters.”
“Vì mục đích nào ta đã xuất gia, từ đời sống gia đình đến đời sống không gia đình; mục đích ấy, sự đoạn tận tất cả các kiết sử, ta đã đạt được.”
123.
123.
123.
‘‘‘Buddho tassa ca saddhammo, anūno yāva tiṭṭhati;
Nibbātuṃ tāva kālo me, mā maṃ socatha puttikā.
“While the Buddha and his good Dhamma stand undiminished, it is time for me to attain Parinibbāna. Do not grieve for me, my daughters.”
“Chừng nào Đức Phật và Chánh pháp của ngài còn tồn tại không suy giảm, chừng đó là thời điểm để ta nhập Niết-bàn. Hỡi các con gái, đừng sầu muộn vì ta.”
124.
124.
124.
‘‘‘Koṇḍaññānandanandādī, tiṭṭhanti rāhulo jino;
Sukhito sahito saṅgho, hatadabbā ca titthiyā.
“Koṇḍañña, Ānanda, Nanda, and others remain, as do Rāhula and the Victor. The Saṅgha is happy and harmonious, and the conceit of the sectarians is shattered.”
“Các vị Koṇḍañña, Ānanda, Nanda, v.v., Rāhula, và bậc Chiến Thắng vẫn còn tại thế; Tăng chúng an lạc, hòa hợp, và các ngoại đạo đã bị dẹp tan sự kiêu mạn.”
125.
125.
125.
‘‘‘Okkākavaṃsassa yaso, ussito māramaddano;
Nanu sampati kālo me, nibbānatthāya puttikā.
“The glory of the Okkāka clan has been raised high by the crusher of Māra. Surely now, my daughters, is it not the time for my Parinibbāna?”
“Danh tiếng của dòng dõi Okkāka đã được nâng cao, Ma vương đã bị nhiếp phục; Hỡi các con gái, bây giờ chẳng phải là thời điểm để ta nhập Niết-bàn sao?”
126.
126.
126.
‘‘‘Cirappabhuti yaṃ mayhaṃ, patthitaṃ ajja sijjhate;
Ānandabherikāloyaṃ, kiṃ vo assūhi puttikā.
“That which I have longed for since long ago is accomplished today. This is the time for the drum of joy! What use are your tears, my daughters?”
“Điều ta đã mong nguyện từ lâu xa, hôm nay đã được thành tựu; Đây là thời điểm của tiếng trống hân hoan, hỡi các con gái, nước mắt của các con có ích gì?”
127.
127.
127.
‘‘‘Sace mayi dayā atthi, yadi catthi kataññutā;
Saddhammaṭṭhitiyā sabbā, karotha vīriyaṃ daḷhaṃ.
“If there is any affection for me, and if there is any gratitude, then all of you must make a firm effort for the stability of the good Dhamma.
“Nếu các con có lòng từ ái đối với ta, và nếu có lòng biết ơn, thì tất cả các con hãy tinh tấn vững chắc vì sự trường tồn của Chánh pháp.”
128.
128.
128.
‘‘‘Thīnaṃ adāsi pabbajjaṃ, sambuddho yācito mayā;
Tasmā yathāhaṃ nandissaṃ, tathā tamanutiṭṭhatha’.
“The Fully Enlightened One, requested by me, granted the going-forth to women. Therefore, you must uphold that effort in such a way that I may rejoice.”
“Được ta thỉnh cầu, bậc Chánh Đẳng Giác đã ban cho người nữ sự xuất gia; Do đó, các con hãy duy trì sự tinh tấn theo cách mà ta sẽ hoan hỷ.”
129.
129.
129.
‘‘Tā evamanusāsitvā, bhikkhunīhi purakkhatā;
Upecca buddhaṃ vanditvā, idaṃ vacanamabravi.
Having instructed them thus, escorted by the bhikkhunīs, she approached the Buddha, paid homage, and spoke these words:
Sau khi giáo huấn họ như vậy, được các Tỳ-khưu-ni vây quanh, ngài đến gần Đức Phật, đảnh lễ và nói lời này.
130.
130.
130.
‘‘‘Ahaṃ sugata te mātā, tvañca vīra pitā mama;
Saddhammasukhada † nātha, tayā jātāmhi gotama.
“O Sugata, I am your mother, and you, O Vīra, are my father. O Nātha, giver of the happiness of the good Dhamma, by you, O Gotama, I have been born anew.”
“Hỡi bậc Thiện Thệ, con là mẹ của ngài; hỡi bậc Anh Hùng, ngài là cha của con; Hỡi bậc Hộ Trì, người ban cho hạnh phúc của Chánh pháp, hỡi Gotama, con được sinh ra từ ngài.”
131.
131.
131.
‘‘‘Saṃvaddhitoyaṃ sugata, rūpakāyo mayā tava;
Anindito † dhammakāyo †, mama saṃvaddhito tayā.
“O Sugata, this physical body of yours was nurtured by me; and my blameless Dhamma-body has been nurtured by you.
“Hỡi bậc Thiện Thệ, sắc thân này của ngài đã được con nuôi dưỡng; Pháp thân không thể chê trách của con đã được ngài nuôi dưỡng.”
132.
132.
132.
‘‘‘Muhuttaṃ taṇhāsamaṇaṃ, khīraṃ tvaṃ pāyito mayā;
Tayāhaṃ santamaccantaṃ, dhammakhīrañhi † pāyitā.
“For a moment, you were given milk by me to appease your thirst; by you, I have been given the milk of the Dhamma to drink, which is utterly serene.
“Con đã cho ngài uống sữa làm dịu cơn khát trong chốc lát; Ngài đã cho con uống sữa pháp hoàn toàn tịch tịnh.”
133.
133.
133.
‘‘‘Bandhanārakkhane mayhaṃ, aṇaṇo † tvaṃ mahāmune;
Puttakāmā thiyo yācaṃ, labhanti tādisaṃ sutaṃ.
“By protecting me from bondage, O Great Sage, you are free from any debt to me. Women who desire a son, by praying, obtain such a son.
“Hỡi bậc Đại Muni, trong việc bảo vệ con khỏi sự trói buộc, ngài không còn mắc nợ (sữa); Những người phụ nữ mong muốn có con, khi cầu xin, họ nhận được người con như vậy.”
134.
134.
134.
‘‘‘Mandhātādinarindānaṃ, yā mātā sā bhavaṇṇave;
Nimuggāhaṃ tayā putta, tāritā bhavasāgarā.
“The mothers of kings such as Mandhāta are sunk in the ocean of existence; but I, O son, have been carried across the ocean of becoming by you.
“Những người mẹ của các vị vua như Mandhātu đã bị chìm đắm trong đại dương của sự tồn tại; Hỡi con trai, con đã được ngài cứu vớt từ biển cả của sự tồn tại.”
135.
135.
135.
‘‘‘Rañño mātā mahesīti, sulabhaṃ nāmamitthinaṃ;
Buddhamātāti yaṃ nāmaṃ, etaṃ paramadullabhaṃ.
“For women, the name ‘mother of a king’ or ‘chief queen’ is easily obtained; but this name, ‘mother of a Buddha,’ is supremely difficult to obtain.
“Đối với phụ nữ, danh xưng 'mẹ của vua' hay 'hoàng hậu' là dễ dàng có được; Nhưng danh xưng 'mẹ của Đức Phật' là vô cùng khó có được.”
136.
136.
136.
‘‘‘Tañca laddhaṃ mahāvīra, paṇidhānaṃ mamaṃ tayā;
Aṇukaṃ vā mahantaṃ vā, taṃ sabbaṃ pūritaṃ mayā.
“And that aspiration of mine has been obtained through you, O Mahāvīra. Whether small or great, all of it has been fulfilled by me.
“Hỡi bậc Đại Anh Hùng, lời nguyện ấy của con đã được thành tựu nhờ ngài; Dù nhỏ hay lớn, tất cả những điều đó con đã làm cho viên mãn.”
137.
137.
137.
‘‘‘Parinibbātumicchāmi, vihāyemaṃ kaḷevaraṃ;
Anujānāhi me vīra, dukkhantakara nāyaka.
“I wish to attain Parinibbāna, having abandoned this body. Grant me permission, O Vīra, O Nāyaka, maker of the end of suffering.
“Con mong muốn từ bỏ thân xác này để nhập Niết-bàn; Hỡi bậc Anh Hùng, người chấm dứt khổ đau, hỡi bậc Lãnh Đạo, xin hãy cho phép con.”
138.
138.
138.
‘‘‘Cakkaṅkusadhajākiṇṇe, pāde kamalakomale;
Pasārehi paṇāmaṃ te, karissaṃ puttauttame †.
“Extend your feet, tender as a lotus and marked with the wheel, goad, and banner. O son, I shall pay homage to your supreme feet.
“Xin hãy duỗi ra đôi chân mềm mại như hoa sen, được trang điểm với bánh xe, câu liêm, cờ phướn; Hỡi con trai, con sẽ đảnh lễ đôi chân tối thượng của ngài.”
139.
139.
139.
‘‘‘Suvaṇṇarāsisaṅkāsaṃ, sarīraṃ kuru pākaṭaṃ;
Katvā dehaṃ sudiṭṭhaṃ te, santiṃ gacchāmi nāyaka’.
“Please make manifest your body, which resembles a heap of gold. O Nāyaka, having seen your form well, I shall go to peace.”
“Hỡi bậc Lãnh Đạo, xin hãy làm cho thân thể ngài, giống như một khối vàng, được hiển lộ; Sau khi đã nhìn thấy rõ ràng thân của ngài, con sẽ đi đến nơi tịch tịnh.”
140.
140.
140.
‘‘Dvattiṃsalakkhaṇūpetaṃ, suppabhālaṅkataṃ tanuṃ;
Sañjhāghanāva bālakkaṃ, mātucchaṃ dassayī jino.
The Victor then showed his aunt his body—endowed with the thirty-two marks and adorned with glorious radiance—like the young sun revealed from a dense evening cloud.
Bậc Chiến Thắng đã cho người dì thấy thân thể được trang bị ba mươi hai tướng tốt, được trang hoàng bởi hào quang rực rỡ, như mặt trời non hiện ra từ đám mây chiều.
141.
141.
141.
‘‘Phullāravindasaṃkāse, taruṇādiccasappabhe;
Cakkaṅkite pādatale, tato sā sirasā pati.
Then she fell with her head upon the sole of his foot, which was marked with the wheel, resembled a blooming lotus, and had the radiance of the young sun.
Sau đó, bà ấy đã cúi đầu lạy trên lòng bàn chân, nơi được đánh dấu bằng bánh xe, giống như hoa sen nở, và có ánh sáng như mặt trời non.
142.
142.
142.
‘‘‘Paṇamāmi narādicca, ādiccakulaketukaṃ;
Pacchime maraṇe mayhaṃ †, na taṃ ikkhāmahaṃ puno.
“I pay homage to you, O sun among men, O banner of the Solar clan. At this, my final death, I shall not see you again.
“Con xin đảnh lễ ngài, hỡi mặt trời của nhân loại, ngọn cờ của dòng dõi mặt trời; Trong lúc lâm chung cuối cùng của con, con sẽ không còn được nhìn thấy ngài nữa.”
143.
143.
143.
‘‘‘Itthiyo nāma lokagga, sabbadosākarā matā;
Yadi ko catthi doso me, khamassu karuṇākara.
“O foremost in the world, women are known to be a source of all faults. O source of compassion, if there is any fault in me, please forgive it.
“Hỡi bậc tối thượng trong thế gian, những người gọi là phụ nữ được xem là nguồn gốc của mọi lỗi lầm; Hỡi nguồn suối của lòng bi mẫn, nếu con có bất kỳ lỗi lầm nào, xin hãy tha thứ.”
144.
144.
144.
‘‘‘Itthikānañca pabbajjaṃ, haṃ taṃ yāciṃ punappunaṃ;
Tattha ce atthi doso me, taṃ khamassu narāsabha.
“I requested from you again and again the going-forth for women. O bull among men, if there is any fault of mine in that, please forgive it.
“Con đã lặp đi lặp lại thỉnh cầu sự xuất gia cho phụ nữ; Hỡi bậc Ngưu vương trong loài người, nếu trong việc đó con có lỗi, xin hãy tha thứ cho lỗi đó.”
145.
145.
145.
‘‘‘Mayā bhikkhuniyo vīra, tavānuññāya sāsitā;
Tatra ce atthi dunnītaṃ, taṃ khamassu khamādhipa †.
“O Vīra, with your permission, the bhikkhunīs were instructed by me. If there was any wrong guidance in that, please forgive it, O lord of forbearance.”
“Hỡi bậc Anh Hùng, với sự cho phép của ngài, con đã giáo huấn các Tỳ-khưu-ni; Nếu trong việc đó có sự hướng dẫn sai lầm, hỡi bậc chủ của sự nhẫn nại, xin hãy tha thứ cho điều đó.”
146.
146.
146.
‘‘‘Akkhante nāma khantabbaṃ, kiṃ bhave guṇabhūsane;
Kimuttaraṃ te vakkhāmi, nibbānāya vajantiyā.
“One should be patient even with the intolerant; how could one not be patient with one adorned with virtues? What more can I say to you, who are going to Nibbāna?
“Hỡi người được trang hoàng bằng các đức hạnh, trong việc không cần phải tha thứ, có điều gì để tha thứ chăng? Đối với bà, người đang đi đến Niết-bàn, ta còn có thể nói lời đáp nào hơn nữa?”
147.
147.
147.
‘‘‘Suddhe anūne mama bhikkhusaṅghe, lokā ito nissarituṃ khamante;
Pabhātakāle byasanaṅgatānaṃ, disvāna niyyātiva candalekhā’.
“My Saṅgha of bhikkhus is pure and complete, capable of escaping from this world. You depart like the crescent moon at dawn, having seen the stars that have met their demise.”
‘Như vầng trăng non rút lui khi thấy các vì sao biến mất vào lúc rạng đông, (cũng vậy) khi thấy Tăng đoàn của ta, thanh tịnh và không thiếu sót, có khả năng thoát khỏi thế gian này, (ta cũng sẽ ra đi)’.
148.
148.
148.
‘‘‘Tadetarā bhikkhuniyo jinaggaṃ, tārāva candānugatā sumeruṃ;
Padakkhiṇaṃ kacca nipacca pāde, ṭhitā mukhantaṃ samudikkhamānā.
Then the other bhikkhunīs circumambulated the foremost Victor, like stars following the moon around Sumeru. Having bowed down at his feet, they stood gazing upon his face.
‘Các vị Tỳ-khưu-ni khác, giống như các vì sao đi theo mặt trăng (quanh núi) Tu-di, đã đi quanh đấng Tối Thắng theo chiều bên phải, đảnh lễ dưới chân Ngài, và đứng nhìn ngắm thánh nhan của Ngài.
149.
149.
149.
‘‘‘Na tittipubbaṃ tava dassanena, cakkhuṃ na sotaṃ tava bhāsitena;
Cittaṃ mamaṃ kevalamekameva, pappuyya taṃ dhammarasena titti.
“My eye has never been satisfied with the sight of you, nor my ear with your speech. Only my mind, having attained that state, is satisfied by the taste of the Dhamma.
‘Mắt con chưa từng thỏa mãn với việc được thấy Ngài, tai con cũng chưa từng thỏa mãn với lời dạy của Ngài; tâm của con, chỉ có một đối tượng duy nhất, đã đạt đến trạng thái ấy (Niết-bàn), cũng không thỏa mãn với hương vị của Pháp.’
150.
150.
150.
‘‘‘Nadato parisāyaṃ te, vāditabbapahārino;
Ye te dakkhanti vadanaṃ, dhaññā te narapuṅgava.
“O bull among men, fortunate are they who see your face as you roar in the assembly, your voice like the striking of musical instruments.
‘Hỡi bậc Nhân Ngưu, những ai được thấy thánh nhan của Ngài khi Ngài thuyết giảng giữa hội chúng, (âm thanh) như tiếng nhạc cụ được tấu lên, những người ấy thật có phước thay.’
151.
151.
151.
‘‘‘Dīghaṅgulī tambanakhe, subhe āyatapaṇhike;
Ye pāde paṇamissanti †, tepi dhaññā guṇandhara.
“Fortunate too, O bearer of virtues, are those who will pay homage to your beautiful feet with their long toes, copper-colored nails, and long heels.
‘Hỡi bậc mang giữ các đức hạnh, những ai được đảnh lễ đôi bàn chân của Ngài, với những ngón chân dài, móng chân màu đồng, gót chân dài và đẹp đẽ, những người ấy cũng thật có phước thay.’
152.
152.
152.
‘‘‘Madhurāni pahaṭṭhāni, dosagghāni hitāni ca;
Ye te vākyāni suyyanti, tepi dhaññā naruttama.
“Sweet and delightful, destroying faults and beneficial—fortunate too, O supreme among men, are they who hear such words from you.
‘Hỡi bậc Tối Thắng trong loài người, những ai được nghe lời dạy của Ngài, những lời ngọt ngào, làm cho hoan hỷ, trừ diệt lỗi lầm và đem lại lợi ích, những người ấy cũng thật có phước thay.’
153.
153.
153.
‘‘‘Dhaññāhaṃ te mahāvīra, pādapūjanatapparā †;
Tiṇṇasaṃsārakantārā, suvākyena sirīmato’.
“Fortunate am I, O great hero, devoted to honoring your feet. I have crossed the wilderness of saṃsāra through the good words of the glorious one.”
‘Hỡi bậc Đại Hùng, con thật có phước thay, nhờ lời dạy cao quý của Ngài, bậc đầy uy đức, con đã chuyên tâm cúng dường đôi chân Ngài và đã vượt qua được sa mạc luân hồi.’
154.
154.
154.
‘‘Tato sā anusāvetvā †, bhikkhusaṅghampi subbatā;
Rāhulānandanande ca, vanditvā idamabravi.
Then that virtuous one, having informed the Saṅgha of bhikkhus and also Rāhula, Ānanda, and Nanda, paid homage and said this:
Bấy giờ, vị ni có đức hạnh tốt đẹp ấy, sau khi thông báo cho Tăng đoàn Tỳ-khưu, cùng các vị Rāhula, Ānanda, và Nanda, đã đảnh lễ và nói lên lời này.
155.
155.
155.
‘‘‘Āsīvisālayasame, rogāvāse kaḷevare;
Nibbindā dukkhasaṅghāṭe, jarāmaraṇagocare.
“Disenchanted with this body—like a viper’s lair, a home for disease, a mass of suffering, the pasture of aging and death.
‘Con đã nhàm chán thân này, vốn giống như hang ổ của loài rắn độc, là nơi ở của bệnh tật, là sự kết hợp của khổ đau, là nơi chốn của già và chết.’
156.
156.
156.
‘‘‘Nānākalimalākiṇṇe †, parāyatte nirīhake;
Tena nibbātumicchāmi, anumaññatha puttakā’.
“It is filled with various stains, dependent on others, and without volition. For this reason, I wish to attain Nibbāna. Grant me permission, my sons.”
‘(Thân này) đầy dẫy các loại ô uế, phụ thuộc vào người khác, không có nỗ lực (tự thân). Vì thế, con mong muốn nhập Niết-bàn. Hỡi các con, xin hãy chấp thuận.’
157.
157.
157.
‘‘Nando rāhulabhaddo ca, vītasokā nirāsavā;
Ṭhitācalaṭṭhiti thirā, dhammatamanucintayuṃ.
Nanda and the good Rāhula, being sorrowless and taintless, firm and of unshakeable stance, reflected on the nature of things:
Nanda và Rāhula hiền thiện, đã thoát khỏi sầu muộn, không còn lậu hoặc, đứng vững vàng, không lay chuyển, và suy nghiệm về pháp tánh.
158.
158.
158.
‘‘‘Dhiratthu saṅkhataṃ lolaṃ, asāraṃ kadalūpamaṃ;
Māyāmarīcisadisaṃ, itaraṃ anavaṭṭhitaṃ.
“Fie on this conditioned thing, which is fickle, essenceless, like a plantain trunk; like an illusion, a mirage, short-lived and unstable.
‘Thật đáng chán thay pháp hữu vi, vốn hay thay đổi, không có lõi cây, giống như thân cây chuối, tương tự như ảo ảnh, huyễn hóa, phù du và không bền vững.’
159.
159.
159.
‘‘‘Yattha nāma jinassāyaṃ, mātucchā buddhaposikā;
Gotamī nidhanaṃ yāti, aniccaṃ sabbasaṅkhataṃ’.
“When even Gotamī—the Victor’s aunt, the Buddha’s foster-mother—is meeting her end, then truly, all conditioned things are impermanent!”
‘Khi mà ngay cả vị Gotamī này, dì của đấng Chiến Thắng, người đã nuôi dưỡng Đức Phật, cũng đi đến chỗ kết thúc, (điều đó cho thấy) tất cả các pháp hữu vi đều là vô thường.’
160.
160.
160.
‘‘Ānando ca tadā sekho, sokaṭṭo † jinavacchalo;
Tatthassūni karonto so, karuṇaṃ paridevati.
But Ānanda, at that time still a trainee, afflicted with sorrow and devoted to the Victor, shed tears there and lamented piteously:
Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda, vẫn còn là bậc hữu học, người thương mến đấng Chiến Thắng, bị sầu muộn xâm chiếm, đã rơi lệ tại nơi ấy và than khóc một cách bi thương.
161.
161.
161.
‘‘Hā santiṃ † gotamī yāti, nūna buddhopi nibbutiṃ;
Gacchati na cireneva, aggiriva nirindhano.
“Alas! Gotamī is going to peace. Surely the Buddha too will attain Nibbāna before long, like a fire without fuel.”
‘Than ôi, Gotamī đang đi đến nơi tịch tịnh! Chắc chắn chẳng bao lâu nữa, Đức Phật cũng sẽ nhập Niết-bàn, giống như ngọn lửa không còn nhiên liệu.’
162.
162.
162.
‘‘Evaṃ vilāpamānaṃ taṃ, ānandaṃ āha gotamī;
Sutasāgaragambhīra, buddhopaṭṭhānatappara.
As he was lamenting thus, Gotamī spoke to Ānanda, who was deep as an ocean of learning and dedicated to attending upon the Buddha:
Gotamī nói với Tôn giả Ānanda đang than khóc như vậy: ‘Hỡi người có học văn sâu rộng như biển cả, hỡi người chuyên tâm hầu cận Đức Phật.’
163.
163.
163.
‘‘‘Na yuttaṃ socituṃ putta, hāsakāle upaṭṭhite;
Tayā me saraṇaṃ putta, nibbānaṃ tamupāgataṃ.
“It is not fitting to grieve, son, when a time for rejoicing has arisen; because of you, son, my refuge, I have reached that Nibbāna.”
‘Này con, không nên sầu muộn khi thời điểm hoan hỷ đã đến; này con, con chính là nơi nương tựa của mẹ, mẹ đã đạt đến Niết-bàn.’
164.
164.
164.
‘‘‘Tayā tāta samajjhiṭṭho, pabbajjaṃ anujāni no;
Mā putta vimano hohi, saphalo te parissamo.
“Through your urging, dear one, he permitted our going forth. Do not be disheartened, my son; your effort has been fruitful.
‘Này con thân yêu, do con thỉnh cầu, (Đức Phật) đã cho phép chúng ta được xuất gia. Này con, chớ có buồn lòng; sự nỗ lực của con đã kết thành quả.’
165.
165.
165.
‘‘‘Yaṃ na diṭṭhaṃ purāṇehi, titthikācariyehipi;
Taṃ padaṃ sukumārīhi, sattavassāhi veditaṃ.
“That state which was not seen by the ancients, not even by the sectarian teachers, has been realized by delicate girls of seven years.
‘Trạng thái mà ngay cả các vị đạo sư ngoại đạo xưa kia cũng không thấy được, trạng thái ấy đã được các thiếu nữ trẻ trung mới bảy tuổi chứng ngộ.’
166.
166.
166.
‘‘‘Buddhasāsanapāleta, pacchimaṃ dassanaṃ tava;
Tattha gacchāmahaṃ putta, gato yattha na dissate.
“O protector of the Buddha’s dispensation, this is the last sight of you. I am going there, my son, to where one who has gone is not seen.”
‘Hỡi người bảo hộ giáo pháp của Đức Phật, đây là lần cuối cùng mẹ được thấy con. Này con, mẹ sẽ đi đến nơi mà người đã đến đó thì không còn được thấy nữa.’
167.
167.
167.
‘‘‘Kadāci dhammaṃ desento, khipī lokagganāyako;
Tadāhaṃ āsīsavācaṃ, avocaṃ anukampikā.
‘Once, while the world’s foremost leader was teaching the Dhamma, he sneezed. Then I, being compassionate, spoke a word of blessing.’
‘Có một lần, khi đang thuyết Pháp, bậc Đạo Sư Tối Thượng của thế gian đã hắt hơi. Khi ấy, với lòng bi mẫn, con đã nói lên lời cầu chúc.’
168.
168.
168.
‘‘‘Ciraṃ jīva mahāvīra, kappaṃ tiṭṭha mahāmune;
Sabbalokassa atthāya, bhavassu ajarāmaro.
‘“Live long, O great hero! Remain for an aeon, O great sage! For the welfare of the entire world, be ageless and deathless.”’
‘Xin Ngài hãy sống lâu, hỡi bậc Đại Hùng! Xin Ngài hãy trụ thế một kiếp, hỡi bậc Đại Mâu-ni! Vì lợi ích của toàn thể thế gian, xin Ngài hãy trở thành bất lão, bất tử.’
169.
169.
169.
‘‘‘Taṃ tathāvādiniṃ buddho, mamaṃ so etadabravi;
‘Na hevaṃ vandiyā buddhā, yathā vandasi gotamī.
‘To me who was speaking thus, the Buddha said this: “Gotamī, Buddhas are not to be venerated in the way that you venerate.”’
‘Với con, người đã nói như vậy, Đức Phật đã dạy lời này: ‘Này Gotamī, các vị Phật không được tôn kính theo cách mà bà đang tôn kính.’
170.
170.
170.
‘‘‘Kathaṃ carahi sabbaññū, vanditabbā tathāgatā;
Kathaṃ avandiyā buddhā, taṃ me akkhāhi pucchito.
‘How then, O All-Knowing One, are the Tathāgatas to be venerated? How are Buddhas not to be venerated? Being asked, please explain this matter to me.’
‘Vậy thì, thưa bậc Toàn Tri, các đấng Như Lai nên được tôn kính như thế nào? Khi được hỏi, xin Ngài hãy giải thích điều đó cho con.’
171.
171.
171.
‘‘‘Āraddhavīriye pahitatte, niccaṃ daḷhaparakkame;
Samagge sāvake passa, etaṃ buddhānavandanaṃ.
‘“See the disciples who have aroused energy, are resolute, ever firm in their striving, and harmonious: this is the veneration of the Buddhas.”’
‘Hãy nhìn các vị đệ tử, những người có tinh tấn đã được khởi lên, có tâm đã được hướng đến (Niết-bàn), luôn nỗ lực kiên cường, và sống hòa hợp. Đây chính là sự tôn kính các vị Phật.’
172.
172.
172.
‘‘‘Tato upassayaṃ gantvā, ekikāhaṃ vicintayiṃ;
Samaggaparisaṃ nātho, rodhesi tibhavantago.
‘Then, having gone to my dwelling, I reflected alone: “The Lord, who has gone to the end of the three realms of existence, delights in a harmonious assembly.”’
‘Sau đó, khi trở về tu viện, một mình con đã suy ngẫm: ‘Đấng Lãnh Đạo, người đã đi đến tận cùng của ba cõi, Ngài ưa thích một hội chúng hòa hợp.’
173.
173.
173.
‘‘‘Handāhaṃ parinibbissaṃ, mā vipattitamaddasaṃ;
Evāhaṃ cintayitvāna, disvāna isisattamaṃ.
‘“Now, I will attain final Nibbāna, may I not see that misfortune.” Having reflected thus, and having seen the supreme sage,’
‘Thôi, ta sẽ nhập Niết-bàn, mong rằng ta sẽ không phải thấy sự tan rã (của hội chúng).’ Suy nghĩ như vậy xong, con đã đến yết kiến bậc Thánh Tối Thượng.’
174.
174.
174.
‘‘‘Parinibbānakālaṃ me, ārocesiṃ † vināyakaṃ;
Tato so samanuññāsi, kālaṃ jānāhi gotamī.
‘I announced my time for final Nibbāna to the Leader. Then he gave his consent: “Know the time, Gotamī.”’
‘Con đã trình báo với bậc Đạo Sư về thời điểm nhập Niết-bàn của con. Bấy giờ, Ngài đã chấp thuận: ‘Này Gotamī, bà hãy biết thời điểm (thích hợp).’
175.
175.
175.
‘‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
‘My defilements are burnt up … I dwell free of taints.’
‘Các phiền não của con đã được thiêu đốt… (v.v.)… con an trú không còn lậu hoặc.’
176.
176.
176.
‘‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
‘A good coming indeed it was for me … the Buddha’s teaching has been done.’
‘Thật vậy, sự đến của con là một sự đến tốt đẹp… (v.v.)… giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.’
177.
177.
177.
‘‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
‘The four analytical knowledges … the Buddha’s teaching has been followed.’
“Bốn Tuệ Phân Tích... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
178.
178.
178.
‘‘‘Thīnaṃ dhammābhisamaye, ye bālā vimatiṃ gatā;
Tesaṃ diṭṭhippahānatthaṃ, iddhiṃ dassehi gotamī’.
‘“O Gotamī, regarding the realization of the Dhamma by women, certain fools have fallen into doubt; for the sake of abandoning their wrong view, display your psychic power.”’
“Này Gotamī, đối với sự chứng ngộ Chánh pháp của nữ giới, những kẻ ngu nào đã đi đến hoài nghi; để đoạn trừ tà kiến của họ, hãy thị hiện thần thông.”
179.
179.
179.
‘‘Tadā nipacca sambuddhaṃ, uppatitvāna ambaraṃ;
Iddhī anekā dassesi, buddhānuññāya gotamī.
Then, having bowed down to the Sambuddha, Gotamī flew up into the sky. With the Buddha’s permission, she displayed numerous feats of psychic power.
Khi ấy, sau khi đảnh lễ đức Chánh Đẳng Giác, bà Gotamī bay lên hư không; được sự cho phép của đức Phật, bà đã thị hiện nhiều loại thần thông.
180.
180.
180.
‘‘Ekikā bahudhā āsi, bahukā cetikā tathā;
Āvibhāvaṃ tirobhāvaṃ, tirokuṭṭaṃ † tironagaṃ.
Being one, she became many; and being many, she became one. She appeared and disappeared. She passed through walls and mountains.
Từ một người, bà đã hóa thành nhiều người; và cũng như thế, từ nhiều người lại hóa thành một. Bà hiện ra, rồi lại biến mất, đi xuyên qua tường, qua núi.
181.
181.
181.
‘‘Asajjamānā agamā, bhūmiyampi nimujjatha;
Abhijjamāne udake, agañchi mahiyā yathā.
She went unhindered; she dived into the earth as if in water. She walked on unbroken water as if on land.
Bà đi không bị trở ngại, bà độn thổ như lặn trong nước; bà đi trên mặt nước không bị chìm, như đi trên đất liền.
182.
182.
182.
‘‘Sakuṇīva tathākāse, pallaṅkena kamī tadā;
Vasaṃ vattesi kāyena, yāva brahmanivesanaṃ.
She traveled cross-legged in the sky like a winged bird. She exercised mastery with her body even as far as the Brahma-world.
Khi ấy, bà ngồi kiết-già bay đi trong hư không như loài chim; bà dùng thân thể làm chủ cho đến tận cõi Phạm Thiên.
183.
183.
183.
‘‘Sineruṃ daṇḍaṃ katvāna, chattaṃ katvā mahāmahiṃ;
Samūlaṃ parivattetvā, dhārayaṃ caṅkamī nabhe.
Having made Mount Sineru a staff and the great earth a parasol, having overturned it together with its root, she walked in the sky carrying it.
Lấy núi Sineru làm cán, lấy đại địa làm lọng; lật ngược nó lên cùng với gốc rễ, bà cầm nó và kinh hành trên hư không.
184.
184.
184.
‘‘Chassūrodayakāleva, lokañcākāsi dhūmikaṃ;
Yugante viya lokaṃ sā, jālāmālākulaṃ akā.
As at the time of the rising of six suns, she made the world smoky; as at the end of the aeon, she made the world a tangle of garlands of flame.
Bà làm cho thế gian bốc khói như thể có sáu mặt trời cùng mọc; bà làm cho thế gian tràn ngập vòng lửa, giống như vào lúc kiếp hoại.
185.
185.
185.
‘‘Mucalindaṃ mahāselaṃ, merumūlanadantare †;
Sāsapāriva sabbāni, ekenaggahi muṭṭhinā.
She grasped Mucalinda Lake, the great mountains between the roots of Meru—all of them like mustard seeds—in a single fist.
Hồ Mucalinda, những ngọn núi lớn ở giữa chân núi Meru và các con sông; tất cả những thứ ấy, bà đã nắm lấy trong một bàn tay như thể hạt cải.
186.
186.
186.
‘‘Aṅgulaggena chādesi, bhākaraṃ sanisākaraṃ;
Candasūrasahassāni, āveḷamiva dhārayi.
With the tip of her finger she covered the sun together with the moon. She held a thousand suns and moons as if they were an ear-garland.
Bà dùng đầu ngón tay che khuất mặt trời cùng với mặt trăng; bà đeo một ngàn mặt trời và mặt trăng như thể một vòng hoa tai.
187.
187.
187.
‘‘Catusāgaratoyāni, dhārayī ekapāṇinā;
Yugantajaladākāraṃ, mahāvassaṃ pavassatha.
She held the waters of the four oceans in one hand; like a cloud at the end of an aeon, she poured down a great rain.
Bà đã giữ nước của bốn biển trong một bàn tay; bà làm cho một trận mưa lớn trút xuống, giống như đám mây vào lúc kiếp hoại.
188.
188.
188.
‘‘Cakkavattiṃ saparisaṃ, māpayī sā nabhattale;
Garuḷaṃ dviradaṃ sīhaṃ, vinadantaṃ padassayi.
She created a wheel-turning monarch with his retinue in the sky. She displayed a roaring garuḍa, a trumpeting elephant, and a roaring lion.
Bà đã hóa hiện trên hư không một vị Chuyển Luân Vương cùng với đoàn tùy tùng; bà thị hiện chim garuḷa, voi, và sư tử đang gầm rống.
189.
189.
189.
‘‘Ekikā abhinimmitvā, appameyyaṃ bhikkhunīgaṇaṃ;
Puna antaradhāpetvā, ekikā munimabravi.
She, being one, created an immeasurable assembly of nuns; then, making them disappear again, she, now one again, spoke to the Sage:
Một mình bà hóa hiện ra vô số chúng Tỳ-khưu-ni; rồi lại làm cho họ biến mất, một mình bà bạch cùng bậc Mâu-ni.
190.
190.
190.
‘‘‘Mātucchā te mahāvīra, tava sāsanakārikā;
Anuppattā sakaṃ atthaṃ, pāde vandāmi cakkhuma’.
‘“O great hero, your maternal aunt, a follower of your teaching, has attained her own goal. I venerate your feet, O One with Vision.”’
“Thưa bậc Đại Hùng, di mẫu của Ngài, người thực hành giáo pháp của Ngài, đã đạt được mục đích của mình. Con xin đảnh lễ đôi chân của Ngài, thưa bậc Hữu Nhãn.”
191.
191.
191.
‘‘Dassetvā vividhā iddhī, orohitvā nabhattalā;
Vanditvā lokapajjotaṃ, ekamantaṃ nisīdi sā.
Having displayed various psychic powers and descended from the sky, she venerated the Light of the World and sat down to one side.
Sau khi thị hiện nhiều loại thần thông, bà từ hư không đi xuống; sau khi đảnh lễ bậc Đèn Sáng của thế gian, bà ngồi xuống một bên.
192.
192.
192.
‘‘Sā vīsavassasatikā, jātiyāhaṃ mahāmune;
Alamettāvatā vīra, nibbāyissāmi nāyaka.
‘“I am one hundred and twenty years old by birth, O great sage. This is enough, O hero. I shall attain Parinibbāna, O leader.”’
“Thưa bậc Đại Mâu-ni, con đã một trăm hai mươi tuổi đời; thưa bậc Anh Hùng, như vậy là đủ rồi. Thưa bậc Lãnh Đạo, con sẽ nhập Niết-bàn.”
193.
193.
193.
‘‘Tadātivimhitā sabbā, parisā sā katañjalī;
Avocayye kathaṃ āsi, atuliddhiparakkamā.
Then that whole assembly, greatly amazed and with hands pressed together in reverence, said: ‘Noble lady, how did you come to have such incomparable psychic power and might?’
Khi ấy, toàn thể hội chúng vô cùng kinh ngạc, chắp tay lại và thưa rằng: “Thưa Thánh nữ, làm thế nào mà ngài có được thần thông và năng lực vô song như vậy?”
194.
194.
194.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammesu cakkhumā;
Ito satasahassamhi, kappe uppajji nāyako.
‘A hundred thousand aeons ago from this one, the Victor named Padumuttara arose, the Leader, the one with vision into all phenomena.’
Cách đây một trăm ngàn kiếp, đã xuất hiện một vị Lãnh Đạo, bậc Toàn Thắng tên là Padumuttara, là bậc Hữu Nhãn đối với tất cả các pháp.
195.
195.
195.
‘‘Tadāhaṃ haṃsavatiyaṃ, jātāmaccakule ahuṃ;
Sabbopakārasampanne, iddhe phīte mahaddhane.
‘At that time, in the city of Haṃsavatī, I was born into a minister’s family that was prosperous, flourishing, wealthy, and endowed with all necessities.’
Khi ấy, tại thành Haṃsavatī, con đã được sinh ra trong gia đình của một vị quan, một gia đình thịnh vượng, sung túc, giàu có, và đầy đủ mọi tiện nghi.
196.
196.
196.
‘‘Kadāci pitunā saddhiṃ, dāsigaṇapurakkhatā;
Mahatā parivārena, taṃ upecca narāsabhaṃ.
‘Once, together with my father, attended by a group of female servants and with a great retinue, I approached that bull among men,’
Một hôm, cùng với cha, được đoàn nữ tỳ đi theo, với đoàn tùy tùng đông đảo, con đã đến yết kiến bậc Nhân Ngưu ấy.
197.
197.
197.
‘‘Vāsavaṃ viya vassantaṃ, dhammameghaṃ anāsavaṃ †;
Saradādiccasadisaṃ, raṃsijālasamujjalaṃ †.
‘who was raining down the taintless cloud of the Dhamma like Vāsava, who was like the autumn sun, resplendent with a net of rays.’
Con đã thấy bậc Toàn Thắng, người đang ban cơn mưa Pháp không lậu hoặc như trời Vāsava, người giống như mặt trời mùa thu, rực rỡ với mạng lưới hào quang.
198.
198.
198.
‘‘Disvā cittaṃ pasādetvā, sutvā cassa subhāsitaṃ;
Mātucchaṃ bhikkhuniṃ agge, ṭhapentaṃ naranāyakaṃ.
‘Having seen him, my mind became serene, and I heard his well-spoken words as that leader of men was appointing a nun, his maternal aunt, to the foremost position.’
Khi thấy bậc Lãnh Đạo của nhân loại đang đặt vị Tỳ-khưu-ni là di mẫu của ngài vào địa vị tối thượng, con đã làm cho tâm mình trong sạch và đã nghe lời thuyết giảng tốt đẹp của ngài.
199.
199.
199.
‘‘Sutvā datvā mahādānaṃ, sattāhaṃ tassa tādino;
Sasaṅghassa naraggassa, paccayāni bahūni ca.
‘Having heard this, for seven days I gave a great gift and many requisites to that Such-a-One, the best of men, together with his Saṅgha.’
Sau khi nghe, con đã cúng dường đại thí trong bảy ngày đến bậc Như Nhiên ấy, bậc Tối Thắng giữa loài người, cùng với Tăng chúng, và cả nhiều vật dụng khác nữa.
200.
200.
200.
‘‘Nipacca pādamūlamhi, taṃ ṭhānamabhipatthayiṃ;
Tato mahāparisatiṃ, avoca isisattamo.
‘Having bowed down at his feet, I aspired to that same position. Then the seventh of the seers spoke to the great assembly:’
Con đã đảnh lễ dưới chân ngài và phát nguyện đạt được địa vị ấy. Bấy giờ, bậc Hiền Thánh Tối Thượng đã nói với đại chúng.
201.
201.
201.
‘‘‘Yā sasaṅghaṃ abhojesi, sattāhaṃ lokanāyakaṃ;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘“She who for seven days has provided alms for the world-leader together with his Saṅgha—I shall speak of her. Listen to my words.”’
“Người phụ nữ nào đã cúng dường thực phẩm đến bậc Lãnh Đạo thế gian cùng với Tăng chúng trong bảy ngày, Ta sẽ tuyên thuyết về người ấy. Hãy lắng nghe lời Ta nói đây.”
202.
202.
202.
‘‘‘Satasahassito kappe, okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena, satthā loke bhavissati.
‘“A hundred thousand aeons from now, one sprung from the Okkāka clan will become a Teacher in the world, Gotama by clan name.”’
“Một trăm ngàn kiếp nữa kể từ đây, một vị Đạo Sư sẽ xuất hiện trên thế gian, ngài thuộc dòng dõi Okkāka, có danh xưng là Gotama.”
203.
203.
203.
‘‘‘Tassa dhammesu dāyādā, orasā dhammanimmitā;
Gotamī nāma nāmena, hessati satthu sāvikā.
‘“She will be that Teacher’s disciple, his heir in the Dhamma, his legitimate child, created by the Dhamma, and she will be known by the name of Gotamī.”’
“Sẽ có một vị nữ đệ tử của vị Đạo Sư ấy, tên là Gotamī, là người thừa tự trong Chánh pháp, là người con gái chân chánh do Chánh pháp hóa sanh.”
204.
204.
204.
‘‘‘Tassa buddhassa mātucchā, jīvitāpādikā † ayaṃ;
Rattaññūnañca aggattaṃ, bhikkhunīnaṃ labhissati’.
‘“This one will be that Buddha’s maternal aunt and foster-mother. She will attain the foremost place among the nuns of long standing.”’
“Người phụ nữ này sẽ là di mẫu của vị Phật ấy, là người nuôi dưỡng mạng sống của ngài; và sẽ đạt được địa vị tối thượng trong số các Tỳ-khưu-ni có hạ lạp cao.”
205.
205.
205.
‘‘Taṃ sutvāna pamoditvā †, yāvajīvaṃ tadā jinaṃ;
Paccayehi upaṭṭhitvā, tato kālaṅkatā ahaṃ.
‘Having heard that, I rejoiced. For the rest of my life I attended upon that Victor with requisites, and then I passed away.’
Sau khi nghe lời ấy, con đã hoan hỷ, và suốt đời đã phụng sự bậc Toàn Thắng với các vật dụng. Sau đó, con đã mệnh chung.
206.
206.
206.
‘‘Tāvatiṃsesu devesu, sabbakāmasamiddhisu;
Nibbattā dasahaṅgehi, aññe abhibhaviṃ ahaṃ.
‘I was reborn among the Tāvatiṃsa gods, who are endowed with all sensual pleasures. Possessing ten qualities, I surpassed the other devas there.’
Con đã tái sanh vào cõi trời Tāvatiṃsa, nơi đầy đủ mọi dục lạc; với mười phương diện, con đã vượt trội hơn các vị trời khác.
207.
207.
207.
‘‘Rūpasaddehi gandhehi, rasehi phusanehi ca;
Āyunāpi ca vaṇṇena, sukhena yasasāpi ca.
“With forms, sounds, smells, tastes, and tangibles; and also with lifespan, beauty, happiness, and fame.
Bởi sắc và tiếng, bởi hương, bởi vị, và bởi xúc chạm; cũng bởi tuổi thọ, bởi dung sắc, bởi an lạc, và cũng bởi danh vọng.
208.
208.
208.
‘‘Tathevādhipateyyena, adhigayha virocahaṃ;
Ahosiṃ amarindassa, mahesī dayitā tahiṃ.
“And likewise with sovereignty, surpassing others, I shone. There I became the beloved chief queen of the lord of the deathless.
Cũng giống như thế, bởi quyền thống trị, ta đã tỏa sáng sau khi chinh phục; ở nơi ấy, ta đã là vị chánh hậu được yêu quý của vua trời Amarinda.
209.
209.
209.
‘‘Saṃsāre saṃsarantīhaṃ, kammavāyusameritā;
Kāsissa rañño visaye, ajāyiṃ dāsagāmake.
“Wandering in saṃsāra, driven by the wind of kamma, I was born in a village of slaves in the realm of the king of Kāsi.
Ta, trong khi đang lang thang trong vòng luân hồi, bị ngọn gió của nghiệp thổi dạt, đã được sanh ra trong một ngôi làng của những người nô lệ, trong lãnh địa của vua xứ Kāsi.
210.
210.
210.
‘‘Pañcadāsasatānūnā, nivasanti tahiṃ tadā;
Sabbesaṃ tattha yo jeṭṭho, tassa jāyā ahosahaṃ.
“Not less than five hundred slaves lived there at that time. I became the wife of the one who was the chief among them all.
Vào lúc ấy, không dưới năm trăm người nô lệ đã sống ở nơi đó. Trong số tất cả bọn họ ở đấy, người nào là người đứng đầu, ta đã là vợ của người ấy.
211.
211.
211.
‘‘Sayambhuno pañcasatā, gāmaṃ piṇḍāya pāvisuṃ;
Te disvāna ahaṃ tuṭṭhā, saha sabbāhi itthibhi †.
“Five hundred Self-become Ones entered the village for alms. Having seen them, I was delighted, together with all the women.
Năm trăm vị Tự Sanh Giác (Sayambhū) đã đi vào làng để khất thực. Sau khi nhìn thấy các vị ấy, ta đã hoan hỷ, cùng với tất cả những người phụ nữ.
212.
212.
212.
‘‘Pūgā hutvāva sabbāyo †, catumāse upaṭṭhahuṃ †;
Ticīvarāni datvāna, saṃsarimha † sasāmikā.
“Having formed a group, all of us attended upon them for four months. Having given the three robes, we wandered in saṃsāra together with our husbands.
Sau khi đã hợp thành các nhóm, tất cả (phụ nữ) chúng tôi đã phục vụ trong bốn tháng. Sau khi đã cúng dường ba y, chúng tôi đã lang thang trong vòng luân hồi cùng với các ông chồng của mình.
213.
213.
213.
‘‘Tato cutā sabbāpi tā, tāvatiṃsagatā mayaṃ;
Pacchime ca bhave dāni, jātā devadahe pure.
“Having passed away from there, all of us went to Tāvatiṃsa. And now, in this final existence, we were born in the city of Devadaha.
Sau khi mệnh chung từ nơi ấy, tất cả chúng tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba. Và bây giờ, trong kiếp sống cuối cùng, chúng tôi đã được sanh ra ở thành Devadaha.
214.
214.
214.
‘‘Pitā añjanasakko me, mātā mama sulakkhaṇā;
Tato kapilavatthusmiṃ, suddhodanagharaṃ gatā.
“My father was Añjana the Sakyan, my mother was Sulakkhaṇā. From there, I went to the home of Suddhodana in Kapilavatthu.
Cha của tôi là vua Añjana dòng Sakya, mẹ của tôi là Sulakkhaṇā. Từ đó, tôi đã đi đến nhà của vua Suddhodana ở Kapilavatthu.
215.
215.
215.
‘‘Sesā † sakyakule jātā, sakyānaṃ gharamāgamuṃ;
Ahaṃ visiṭṭhā sabbāsaṃ, jinassāpādikā ahuṃ.
“The remaining women were born in the Sakyan clan and went to the homes of the Sakyans. I was the most distinguished of all; I became the foster-mother of the Jina.
Những người còn lại được sanh ra trong dòng tộc Sakya, họ đã đi đến nhà của những người dòng Sakya. Ta là người ưu việt hơn tất cả, đã trở thành người mẹ nuôi của đấng Chiến Thắng.
216.
216.
216.
‘‘Mama puttobhinikkhamma †, buddho āsi vināyako;
Pacchāhaṃ pabbajitvāna, satehi saha pañcahi.
“My son, having gone forth, became the Buddha, the Guide. Afterwards, I, together with five hundred women, went forth,
Con trai của ta, sau khi đã xuất gia, đã trở thành bậc Giác Ngộ, vị Lãnh Đạo. Về sau, ta đã xuất gia cùng với năm trăm vị (phụ nữ).
217.
217.
217.
‘‘Sākiyānīhi dhīrāhi, saha santisukhaṃ phusiṃ;
Ye tadā pubbajātiyaṃ, amhākaṃ āsu sāmino.
“together with the wise Sakyan women, attained the bliss of peace. Those who, at that time in a former birth, were our husbands,
Cùng với những người phụ nữ dòng Sakya trí tuệ, ta đã chứng ngộ được sự an lạc của tịch tịnh. Những người mà vào lúc ấy, trong kiếp trước, đã là chồng của chúng ta.
218.
218.
218.
‘‘Sahapuññassa kattāro, mahāsamayakārakā;
Phusiṃsu arahattaṃ te, sugatenānukampitā.
“those co-doers of merit, makers of the great assembly, attained Arahantship, having been shown compassion by the Sugata.
Những người cùng làm phước, những người tạo nên sự hội họp vĩ đại, các vị ấy đã chứng đắc A-la-hán quả, do được đấng Thiện Thệ thương tưởng.
219.
219.
219.
‘‘Tadetarā bhikkhuniyo, āruhiṃsu nabhattalaṃ;
Saṃgatā † viya tārāyo, virociṃsu mahiddhikā.
“Then the other nuns ascended into the sky. Like a cluster of stars, those of great psychic power shone brightly.
Khi ấy, các vị Tỳ-khưu-ni khác đã bay lên không trung. Giống như một cụm sao, các vị có đại thần lực đã tỏa sáng rực rỡ.
220.
220.
220.
‘‘Iddhī anekā dassesuṃ, piḷandhavikatiṃ yathā;
Kammāro kanakasseva, kammaññassa susikkhito †.
“Just as a well-trained goldsmith displays various ornaments of malleable gold, so they displayed numerous psychic powers.
Các vị đã biểu diễn nhiều thần thông, giống như người thợ kim hoàn được huấn luyện kỹ càng biểu diễn một món trang sức đặc biệt làm bằng vàng dễ uốn nắn.
221.
221.
221.
‘‘Dassetvā pāṭihīrāni, vicittāni † bahūni ca;
Tosetvā vādipavaraṃ, muniṃ saparisaṃ tadā.
“Having displayed many and varied miracles, and having delighted the Sage, the foremost of speakers, together with his assembly,
Sau khi đã biểu diễn các phép lạ, đa dạng và nhiều loại, và sau khi đã làm hài lòng bậc Thánh nhân, vị tối thắng trong các nhà luận thuyết, cùng với hội chúng của ngài vào lúc ấy.
222.
222.
222.
‘‘Orohitvāna gaganā, vanditvā isisattamaṃ;
Anuññātā naraggena, yathāṭhāne nisīdisuṃ.
“having descended from the sky and venerated the seventh of seers, and having been given permission by the chief of men, they sat down in their respective places.
Sau khi đã từ không trung đi xuống, sau khi đã đảnh lễ bậc Thánh nhân thứ bảy, được sự cho phép của bậc Tối Thắng giữa loài người, các vị đã ngồi xuống ở vị trí thích hợp.
223.
223.
223.
‘‘‘Ahonukampikā amhaṃ, sabbāsaṃ cira gotamī;
Vāsitā tava puññehi, pattā no āsavakkhayaṃ.
“‘Oh, Gotamī, for a long time you have been compassionate towards all of us! Perfumed by your merits, we have attained the destruction of the taints.’
‘Ôi, Gotamī, ngài đã có lòng bi mẫn đối với tất cả chúng con từ lâu! Được ướp hương bởi các công đức của ngài, chúng con đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc.’
224.
224.
224.
‘‘‘Kilesā jhāpitā amhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Nāgīva bandhanaṃ chetvā, viharāma anāsavā.
“‘Our defilements are burnt up; all states of existence are uprooted. Like a female elephant having broken her bonds, we dwell free from taints.’
‘Các phiền não của chúng con đã được thiêu đốt, tất cả các cõi sanh đã được nhổ sạch. Giống như voi cái đã bẻ gãy xiềng xích, chúng con sống không còn lậu hoặc.’
225.
225.
225.
‘‘‘Svāgataṃ vata no āsi, buddhaseṭṭhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“‘Indeed, our coming to the presence of the most excellent Buddha was a good coming. The three knowledges have been attained; the Buddha’s teaching has been done.’
‘Thật vậy, sự đến của chúng con là một sự đến tốt đẹp, ở nơi sự hiện diện của bậc Tối Thắng Giác Ngộ. Ba minh đã được chứng đắc, lời dạy của Đức Phật đã được thực hành.’
226.
226.
226.
‘‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
“‘The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six direct knowledges have been realized; the Buddha’s teaching has been done.’
‘Bốn Tuệ Phân Tích, và tám giải thoát này, sáu thắng trí đã được chứng ngộ, lời dạy của Đức Phật đã được thực hành.’
227.
227.
227.
‘‘‘Iddhīsu ca vasī homa, dibbāya sotadhātuyā;
Cetopariyañāṇassa, vasī homa mahāmune.
“‘We are masters in the psychic powers and in the divine ear element; we are masters of the knowledge of others’ minds, O Great Sage.’
‘Thưa bậc Đại Thánh, chúng con là những người làm chủ các thần thông, và thiên nhĩ thông; chúng con là những người làm chủ tha tâm thông.’
228.
228.
228.
‘‘‘Pubbenivāsaṃ jānāma, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Sabbāsavaparikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
“‘We know our past lives, our divine eye is purified; all our taints are destroyed, now there is no more renewed existence.’
‘Chúng con biết được các kiếp sống quá khứ, thiên nhãn đã được thanh tịnh. Tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, bây giờ không còn tái sanh nữa.’
229.
229.
229.
‘‘‘Atthe dhamme ca nerutte, paṭibhāne † ca vijjati;
Ñāṇaṃ amhaṃ mahāvīra, uppannaṃ tava santike.
“‘In meaning, in the Dhamma, in language, and in inspired eloquence, our knowledge exists; it has arisen in your presence, O great hero.’
‘Về ý nghĩa, về Pháp, về ngữ nguyên, và về biện tài, trí tuệ của chúng con hiện hữu. Thưa bậc Đại Hùng, trí tuệ này đã sanh khởi nơi sự hiện diện của ngài.’
230.
230.
230.
‘‘‘Asmābhi pariciṇṇosi, mettacittāhi nāyaka;
Anujānāhi sabbāsaṃ †, nibbānāya mahāmune’.
“‘You have been served by us with minds of loving-kindness, O leader. Grant permission to all of us for Nibbāna, O great sage.’”
‘Thưa bậc Lãnh Đạo, ngài đã được chúng con, những người có tâm từ, phục vụ. Thưa bậc Đại Thánh, xin hãy cho phép tất cả chúng con được nhập Niết-bàn.’
231.
231.
231.
‘‘Nibbāyissāma iccevaṃ, kiṃ vakkhāmi vadantiyo;
Yassa dāni ca vo kālaṃ, maññathāti jinobravi.
To you who say, ‘We will attain Nibbāna,’ what shall I say? The Victor said: ‘It is for you to know the proper time for it now.’”
Đấng Chiến Thắng đã nói: ‘Các vị nói rằng: “Chúng con sẽ nhập Niết-bàn.” Ta biết nói gì đây? Bây giờ, các vị hãy tự biết thời điểm thích hợp cho việc ấy.’
232.
232.
232.
‘‘Gotamīādikā tāyo, tadā bhikkhuniyo jinaṃ;
Vanditvā āsanā tamhā, vuṭṭhāya agamiṃsu tā.
Then those bhikkhunīs headed by Gotamī, having paid homage to the Victor, rose from that seat and departed.
Khi ấy, các vị Tỳ-khưu-ni ấy, với Gotamī dẫn đầu, sau khi đã đảnh lễ đấng Chiến Thắng, đã đứng dậy từ chỗ ngồi của mình và các vị ấy đã ra đi.
233.
233.
233.
‘‘Mahatā janakāyena, saha lokagganāyako;
Anusaṃyāyī so † vīro, mātucchaṃ yāvakoṭṭhakaṃ.
Together with a great multitude of people, the foremost leader of the world, that hero, accompanied his maternal aunt as far as the gatehouse.
Cùng với một đám đông dân chúng, bậc Lãnh Đạo Tối Thắng của thế gian, vị Anh Hùng ấy, đã đi theo người dì của mình cho đến tận cổng thành.
234.
234.
234.
‘‘Tadā nipati pādesu, gotamī lokabandhuno;
Saheva tāhi sabbāhi, pacchimaṃ pādavandanaṃ.
Then Gotamī, together with all of them, fell at the feet of the Kinsman of the World, performing the final veneration of his feet.
Khi ấy, Gotamī đã cúi mình dưới chân của bậc Thân Hữu của thế gian, cùng với tất cả các vị kia, thực hiện sự đảnh lễ chân lần cuối cùng.
235.
235.
235.
‘‘‘Idaṃ pacchimakaṃ mayhaṃ, lokanāthassa dassanaṃ;
Na puno amatākāraṃ, passissāmi mukhaṃ tava.
“‘This is my last sight of the Lord of the World; I will not again see your face, which has the nature of the deathless.’
‘Đây là lần cuối cùng con được nhìn thấy bậc Hộ Trì của thế gian. Con sẽ không còn được nhìn thấy gương mặt của ngài, gương mặt có dung mạo của sự bất tử.’
236.
236.
236.
‘‘‘Na ca me vandanaṃ † vīra, tava pāde sukomale;
Samphusissati lokagga, ajja gacchāmi nibbutiṃ’.
“‘Nor, O hero, will my bowing touch your very tender feet. O foremost in the world, today I go to Nibbāna.’”
‘Thưa bậc Anh Hùng, và sự đảnh lễ của con sẽ không còn được chạm vào đôi chân vô cùng mềm mại của ngài nữa. Thưa bậc Tối Thắng của thế gian, hôm nay con đi đến nơi tịch diệt.’
237.
237.
237.
‘‘Rūpena kiṃ tavānena, diṭṭhe dhamme yathātathe;
Sabbaṃ saṅkhatamevetaṃ, anassāsikamittaraṃ.
“What use is this form of yours, when the Dhamma has been seen as it truly is? All this is conditioned, unreliable, and trifling.”
Khi đã thấy Pháp như thật, thân này của bà có ích gì? Tất cả pháp hữu vi này đều không có nơi nương tựa, thật thấp kém.
238.
238.
238.
‘‘Sā saha tāhi gantvāna, bhikkhunupassayaṃ sakaṃ;
Aḍḍhapallaṅkamābhujja, nisīdi paramāsane.
Having gone with them to her own nunnery, she sat down on the supreme seat, folding her legs in the half-lotus posture.
Bà cùng với các vị ấy đi đến ni viện của mình; rồi ngồi bán già trên một chỗ ngồi cao quý.
239.
239.
239.
‘‘Tadā upāsikā tattha, buddhasāsanavacchalā;
Tassā pavattiṃ sutvāna, upesuṃ pādavandikā.
Then the female lay followers there, who were devoted to the Buddha’s Dispensation, having heard the news about her, approached to pay homage at her feet.
Khi ấy, các nữ cận sự có lòng mến mộ giáo pháp của đức Phật ở nơi ấy, sau khi nghe tin về bà, đã đến đảnh lễ dưới chân.
240.
240.
240.
‘‘Karehi uraṃ pahantā, chinnamūlā yathā latā;
Rodantā karuṇaṃ ravaṃ, sokaṭṭā bhūmipātitā.
Striking their chests with their hands, like creepers with severed roots, they fell to the ground afflicted by sorrow, wailing a pitiful cry.
Họ lấy tay đấm ngực, như dây leo bị cắt gốc, khóc than thảm thiết, bị sầu não áp bức, ngã xuống đất.
241.
241.
241.
‘‘Mā no saraṇade nāthe, vihāya gami nibbutiṃ;
Nipatitvāna yācāma, sabbāyo sirasā mayaṃ.
“O giver of refuge, O lady, do not abandon us and go to Nibbāna! Having fallen down, all of us implore you with our heads.”
Thưa bậc bảo hộ, người ban cho nơi nương tựa, xin đừng từ bỏ chúng con mà đi vào Niết-bàn. Tất cả chúng con cúi đầu phủ phục, xin van nài ngài.
242.
242.
242.
‘‘Yā padhānatamā tāsaṃ, saddhā paññā upāsikā;
Tassā sīsaṃ pamajjantī, idaṃ vacanamabravi.
The female lay follower who was foremost among them in faith and wisdom, stroking her head, spoke this word:
Vị nữ cận sự có đức tin và trí tuệ, là người ưu tú nhất trong số họ, (bà Gotamī) xoa đầu vị ấy và nói lời này.
243.
243.
243.
‘‘‘Alaṃ puttā visādena, mārapāsānuvattinā;
Aniccaṃ saṅkhataṃ sabbaṃ, viyogantaṃ calācalaṃ’.
“Enough, my daughters, with this despair that follows in Māra’s snare. All that is conditioned is impermanent, ending in separation, and unstable.”
Này các con gái, thôi đừng sầu muộn, đừng đi theo cạm bẫy của Ma vương. Tất cả pháp hữu vi là vô thường, có sự chia ly là kết cuộc, và luôn biến động.
244.
244.
244.
‘‘Tato sā tā visajjitvā, paṭhamaṃ jhānamuttamaṃ;
Dutiyañca tatiyañca, samāpajji catutthakaṃ.
Then, having dismissed them, she attained the supreme first jhāna, and the second, and the third, and the fourth.
Sau đó, bà cho họ ra về, rồi nhập vào Sơ thiền cao thượng, rồi đến Nhị thiền, Tam thiền, và Tứ thiền.
245.
245.
245.
‘‘Ākāsāyatanañceva, viññāṇāyatanaṃ tathā;
Ākiñcaṃ nevasaññañca, samāpajji yathākkamaṃ.
The base of infinite space, and likewise the base of infinite consciousness, the base of nothingness, and the base of neither-perception-nor-non-perception, she attained in due order.
Bà tuần tự nhập vào Không vô biên xứ, rồi Thức vô biên xứ, cũng như Vô sở hữu xứ, và Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
246.
246.
246.
‘‘Paṭilomena jhānāni, samāpajjittha gotamī;
Yāvatā paṭhamaṃ jhānaṃ, tato yāvacatutthakaṃ.
Gotamī entered the jhānas in reverse order down to the first jhāna, and from there she entered them up to the fourth jhāna.
Bà Gotamī nhập các tầng thiền theo thứ tự ngược, cho đến Sơ thiền. Từ đó, bà lại nhập cho đến Tứ thiền.
247.
247.
247.
‘‘Tato vuṭṭhāya nibbāyi, dīpaccīva nirāsavā †;
Bhūmicālo mahā āsi, nabhasā vijjutā pati.
Then, emerging from that, she was extinguished, taintless, like the flame of a lamp. There was a great earthquake; lightning fell from the sky.
Xuất khỏi tầng thiền ấy, bà nhập Niết-bàn, không còn lậu hoặc, như ngọn đèn tắt. Một trận động đất lớn xảy ra, và sấm sét giáng xuống từ trời.
248.
248.
248.
‘‘Panāditā dundubhiyo, parideviṃsu devatā;
Pupphavuṭṭhī ca gaganā, abhivassatha medaniṃ.
Divine kettledrums sounded, the deities lamented, and a shower of flowers rained down from the sky upon the earth.
Trống trời vang dội, chư thiên than khóc. Mưa hoa từ không trung trút xuống mặt đất.
249.
249.
249.
‘‘Kampito merurājāpi, raṅgamajjhe yathā naṭo;
Sokena cātidīnova viravo āsi sāgaro.
Even Meru, king of mountains, trembled like a dancer in the middle of a stage; and as if exhausted by sorrow, the ocean became silent.
Vua núi Meru cũng rung chuyển, như một vũ công giữa sân khấu. Đại dương trở nên im lặng, như thể vô cùng đau khổ vì sầu muộn.
250.
250.
250.
‘‘Devā nāgāsurā brahmā, saṃviggāhiṃsu taṅkhaṇe;
‘Aniccā vata saṅkhārā, yathāyaṃ vilayaṃ gatā’.
Devas, nāgas, asuras, and brahmās were stirred with alarm at that moment, thinking: ‘Indeed, conditioned formations are impermanent, in that this one has gone to dissolution.’
Chư thiên, long vương, a-tu-la, và phạm thiên, trong khoảnh khắc ấy đều cảm thấy chấn động: ‘Than ôi, các pháp hữu vi là vô thường, vì rằng bà đã đi đến hoại diệt!’
251.
251.
251.
‘‘Yā ce maṃ parivāriṃsu, satthu sāsanakārikā;
Tāyopi anupādānā, dīpacci viya † nibbutā.
‘Those who attended upon me, performers of the Teacher's Dispensation, they too, without clinging, have been extinguished like the flame of a lamp.’
Và những vị đã theo hầu ta, những người thực hành giáo pháp của Bậc Đạo Sư, các vị ấy cũng không còn chấp thủ, đã tịch diệt như ngọn đèn tắt.
252.
252.
252.
‘‘Hā yogā vippayogantā, hāniccaṃ sabbasaṅkhataṃ;
Hā jīvitaṃ vināsantaṃ, iccāsi paridevanā.
‘Alas, unions end in separation! Alas, all that is conditioned is impermanent! Alas, life ends in destruction!’—such was the lamentation.
Than ôi, hợp rồi phải tan! Than ôi, tất cả pháp hữu vi là vô thường! Than ôi, sự sống có sự hoại diệt là kết cuộc! Tiếng than khóc đã vang lên như vậy.
253.
253.
253.
‘‘Tato devā ca brahmā ca, lokadhammānuvattanaṃ;
Kālānurūpaṃ kubbanti, upetvā isisattamaṃ.
Then the devas and brahmās, having approached the supreme sage, performed homage appropriate to the time, in conformity with the way of the world.
Sau đó, chư thiên và phạm thiên đến yết kiến bậc Thánh Tối Thượng, và cử hành các nghi lễ phù hợp với thời gian, theo thông lệ của thế gian.
254.
254.
254.
‘‘Tadā āmantayī satthā, ānandaṃ sutasāgaraṃ †;
‘Gacchānanda nivedehi, bhikkhūnaṃ mātu nibbutiṃ’.
Then the Teacher addressed Ānanda, an ocean of learning: ‘Go, Ānanda, and announce to the bhikkhus the final Nibbāna of the mother.’
Khi ấy, Bậc Đạo Sư gọi ngài Ānanda, người có học thức như biển cả: ‘Này Ānanda, hãy đi báo cho các Tỳ-kheo biết về sự viên tịch của mẫu thân.’
255.
255.
255.
‘‘Tadānando nirānando, assunā puṇṇalocano;
Gaggarena sarenāha, ‘samāgacchantu bhikkhavo.
Then Ānanda, joyless, with eyes full of tears, said in a choked voice: ‘Let the bhikkhus assemble.’
Khi ấy, ngài Ānanda, không còn an vui, mắt đẫm lệ, với giọng nghẹn ngào, nói rằng: ‘Xin các Tỳ-kheo hãy tập hợp lại.’
256.
256.
256.
‘‘‘Pubbadakkhiṇapacchāsu, uttarāya ca santike;
Suṇantu bhāsitaṃ mayhaṃ, bhikkhavo sugatorasā.
‘Let the bhikkhus in the east, south, west, and in the north, O true-born sons of the Sugata, listen to my words.’
Này các Tỳ-kheo, những người con của đấng Thiện Thệ, ở phương đông, phương nam, phương tây, và cả phương bắc, xin hãy lắng nghe lời của tôi.
257.
257.
257.
‘‘‘Yā vaḍḍhayi payattena, sarīraṃ pacchimaṃ mune;
Sā gotamī gatā santiṃ, tārāva sūriyodaye.
‘She who with great effort paid homage to the final body of the Sage, that Gotamī has gone to peace, like a star at sunrise.’
Vị nào đã tận tình nuôi dưỡng thân cuối cùng của bậc Mâu-ni, vị Gotamī ấy đã đi đến nơi tịch tịnh, như những vì sao (biến mất) lúc mặt trời mọc.
258.
258.
258.
‘‘‘Buddhamātāti paññattiṃ †, ṭhapayitvā gatāsamaṃ;
Na yattha pañcanettopi, gatiṃ † dakkhati nāyako.
‘Leaving behind the designation ‘Mother of the Buddha,’ she has gone to peace, a destination that not even the Leader with the five eyes can discern.’
Bà đã để lại danh xưng ‘Phật Mẫu’ và đi đến nơi an tịnh, nơi mà ngay cả Bậc Lãnh Đạo với ngũ nhãn cũng không thấy được cảnh giới (tái sanh).
259.
259.
259.
‘‘‘Yassatthi sugate saddhā, yo ca piyo mahāmune;
Buddhamātussa † sakkāraṃ, karotu sugatoraso’.
‘Whoever has faith in the Sugata and is dear to the Great Sage, let him, as a true-born son of the Sugata, pay homage to the Buddha’s mother.’
Vị nào có đức tin nơi đấng Thiện Thệ, và vị nào được bậc Đại Mâu-ni yêu mến, người con của đấng Thiện Thệ ấy hãy tỏ lòng tôn kính đối với Phật Mẫu.
260.
260.
260.
‘‘Sudūraṭṭhāpi taṃ sutvā, sīghamāgacchu bhikkhavo;
Keci buddhānubhāvena, keci iddhīsu kovidā.
Hearing this, even those bhikkhus dwelling far away came quickly; some by the Buddha’s spiritual power, some who were skilled in psychic powers.
Nghe vậy, các Tỳ-kheo dù ở nơi rất xa cũng nhanh chóng đến. Một số đến nhờ oai lực của đức Phật, một số là bậc thiện xảo về thần thông (tự đến).
261.
261.
261.
‘‘Kūṭāgāravare ramme, sabbasoṇṇamaye subhe;
Mañcakaṃ samāropesuṃ, yattha suttāsi gotamī.
In an excellent, delightful, beautiful gabled pavilion made entirely of gold, they placed the couch on which Gotamī lay.
Họ đặt chiếc giường nơi bà Gotamī đã nằm vào trong một ngôi điện có tháp cao quý, đẹp đẽ, khả ái, hoàn toàn làm bằng vàng.
262.
262.
262.
‘‘Cattāro lokapālā te, aṃsehi samadhārayuṃ;
Sesā sakkādikā devā, kūṭāgāre samaggahuṃ.
Those four World-Guardians supported it on their shoulders; the remaining devas headed by Sakka grasped the gabled pavilion in unison.
Bốn vị Hộ Thế Vương dùng vai để khiêng. Các vị trời còn lại, do Đế Thích dẫn đầu, cùng nhau giữ lấy ngôi điện có tháp.
263.
263.
263.
‘‘Kūṭāgārāni sabbāni, āsuṃ pañcasatānipi;
Saradādiccavaṇṇāni, vissakammakatāni hi.
There were five hundred gabled pavilions in all, the color of the autumn sun, for they had been created by Vissakamma.
Tất cả có đến năm trăm ngôi điện có tháp, màu sắc như mặt trời mùa thu, vì chúng đều do trời Vissakamma tạo ra.
264.
264.
264.
‘‘Sabbā tāpi bhikkhuniyo, āsuṃ mañcesu sāyitā;
Devānaṃ khandhamāruḷhā, niyyanti anupubbaso.
All those bhikkhunīs too lay on couches; mounted on the shoulders of the devas, they were carried forth in succession.
Tất cả các vị Tỳ-kheo-ni ấy cũng đều nằm trên giường. Được đặt trên vai của chư thiên, họ được khiêng đi theo thứ tự.
265.
265.
265.
‘‘Sabbaso chāditaṃ āsi, vitānena nabhattalaṃ;
Satārā candasūrā ca, lañchitā kanakāmayā.
The entire surface of the sky was covered with a canopy; the golden moon and sun, along with the stars, were resplendent.
Toàn bộ bầu trời được che phủ bởi một chiếc lọng. Mặt trăng, mặt trời cùng các vì sao, làm bằng vàng, đều tỏa sáng lộng lẫy.
266.
266.
266.
‘‘Paṭākā ussitānekā, vitatā pupphakañcukā;
Ogatākāsapadumā †, mahiyā pupphamuggataṃ.
Many banners were raised, canopies of flowers were spread out; lotuses descended from the sky, and flowers sprang up from the earth.
Vô số cờ phướn được dựng lên, những tràng hoa được giăng khắp nơi. Hoa sen từ trên trời rơi xuống, và hoa từ mặt đất mọc vươn lên.
267.
267.
267.
‘‘Dassanti candasūriyā, pajjalanti ca tārakā;
Majjhaṃ gatopi cādicco, na tāpesi sasī yathā.
The moon and sun became visible, and the stars blazed. Even the sun at its zenith did not burn, just as the moon does not.
“Mặt trăng, mặt trời hiển hiện, các vì sao cũng chiếu sáng; mặt trời dù đã đến giữa trưa, cũng không nóng bức, giống như mặt trăng vậy.
268.
268.
268.
‘‘Devā dibbehi gandhehi, mālehi surabhīhi ca;
Vāditehi ca naccehi, saṅgītīhi ca pūjayuṃ.
The devas paid homage with divine perfumes, with fragrant garlands, and with instrumental music, dances, and songs.
“Chư thiên đã cúng dường bằng các hương thơm cõi trời, bằng những vòng hoa thơm ngát, bằng các loại nhạc cụ, bằng các điệu múa, và bằng các bản hợp xướng.
269.
269.
269.
‘‘Nāgāsurā ca brahmāno, yathāsatti yathābalaṃ;
Pūjayiṃsu ca niyyantiṃ, nibbutaṃ buddhamātaraṃ.
Nāgas, asuras, and brahmās, according to their ability and power, paid homage to the Buddha’s mother, who had attained Nibbāna, as she was carried forth.
“Long vương, A-tu-la, và Phạm thiên, tùy theo khả năng, tùy theo sức lực, đã cúng dường trong khi đưa tiễn Phật mẫu đã nhập Niết-bàn.
270.
270.
270.
‘‘Sabbāyo purato nītā, nibbutā sugatorasā;
Gotamī niyyate pacchā, sakkatā buddhaposikā.
All the true-born daughters of the Sugata who had attained Nibbāna were carried in front; Gotamī, the honored foster-mother of the Buddha, was carried behind.
“Tất cả các vị con gái của Thiện Thệ đã nhập Niết-bàn được đưa đi phía trước; Gotamī, người nuôi dưỡng Đức Phật, được tôn kính đưa đi phía sau.
271.
271.
271.
‘‘Purato devamanujā, sanāgāsurabrahmakā;
Pacchā sasāvako buddho, pūjatthaṃ yāti mātuyā.
In front went devas and humans, along with nāgas, asuras, and brahmās. Behind went the Buddha with his disciples to honor his mother.
“Chư thiên và loài người, cùng với Long vương, A-tu-la, Phạm thiên đi phía trước; Đức Phật cùng với các vị Thinh văn đi phía sau để cúng dường mẹ của Ngài.
272.
272.
272.
‘‘Buddhassa parinibbānaṃ, nedisaṃ āsi yādisaṃ;
Gotamīparinibbānaṃ, atevacchariyaṃ † ahu.
The Parinibbāna of the Buddha was not of such a kind as the Parinibbāna of Gotamī, which was exceedingly wonderful.
“Sự nhập Niết-bàn của Đức Phật đã không được như thế này, trong khi sự nhập Niết-bàn của Gotamī đã vô cùng kỳ diệu.
273.
273.
273.
‘‘Buddho buddhassa nibbāne †, nopaṭiyādi † bhikkhavo;
Buddho gotaminibbāne, sāriputtādikā tathā †.
The Buddha did not make arrangements for the bhikkhus at his own Nibbāna; but at Gotamī's Nibbāna, the Buddha did make arrangements—what then to say of Sāriputta and the others?
“Khi Đức Phật nhập Niết-bàn, Ngài đã không sắp đặt các Tỳ-khưu; khi Gotamī nhập Niết-bàn, Đức Phật đã sắp đặt, và các vị như Sāriputta cũng làm như vậy.
274.
274.
274.
‘‘Citakāni karitvāna, sabbagandhamayāni te;
Gandhacuṇṇapakiṇṇāni, jhāpayiṃsu ca tā tahiṃ.
Having made pyres entirely of fragrant substances and strewn them with aromatic powders, they cremated them there.
“Họ đã làm các giàn hỏa thiêu toàn bằng hương liệu, được rắc bột hương, và đã hỏa thiêu các vị ấy ở đó.
275.
275.
275.
‘‘Sesabhāgāni ḍayhiṃsu, aṭṭhī sesāni sabbaso;
Ānando ca tadāvoca, saṃvegajanakaṃ vaco.
The other parts were burned up, with only the bones remaining entirely. Then Ānanda spoke words that arouse spiritual urgency:
“Các phần còn lại đã bị thiêu cháy, chỉ còn lại toàn bộ xương; khi ấy, Tôn giả Ānanda đã nói lời gây xúc động.
276.
276.
276.
‘‘‘Gotamī nidhanaṃ yātā, ḍayhañcassā sarīrakaṃ;
Saṅketaṃ buddhanibbānaṃ, na cirena bhavissati’.
‘Gotamī has gone to her end, and her body is burned. This is a sign that the Buddha’s Nibbāna will occur before long.’
“‘Gotamī đã đi đến nơi chấm dứt, thân của bà cũng đã bị thiêu cháy; chắc chắn sự nhập Niết-bàn của Đức Phật sẽ xảy ra không lâu nữa’.
277.
277.
277.
‘‘Tato gotamidhātūni, tassā pattagatāni so;
Upanāmesi nāthassa, ānando buddhacodito.
Then Ānanda, urged by the Buddha, took Gotamī’s relics that were in her bowl and presented them to the Lord.
“Sau đó, Tôn giả Ānanda, được Đức Phật thúc giục, đã dâng lên bậc Lãnh đạo các xá-lợi của Gotamī nằm trong bát của bà.
278.
278.
278.
‘‘Pāṇinā tāni paggayha, avoca isisattamo;
‘Mahato sāravantassa, yathā rukkhassa tiṭṭhato.
Taking them in his hand, the supreme seer spoke: ‘Just as of a great and sturdy standing tree,
“Bậc Thánh thứ bảy đã đỡ lấy chúng bằng tay và nói: ‘Giống như của một cây lớn, có lõi, đang đứng vững,
279.
279.
279.
‘‘‘Yo so mahattaro khandho, palujjeyya aniccatā;
Tathā bhikkhunisaṅghassa, gotamī parinibbutā.
‘...its largest branch might break off through its perishable nature, so too from the Order of Bhikkhunīs, Gotamī has attained final Nibbāna.
“‘Thân cây lớn nhất nào bị hủy hoại do vô thường; cũng vậy, Gotamī, vị lớn nhất của Tăng đoàn Tỳ-khưu-ni, đã nhập Niết-bàn.
280.
280.
280.
‘‘‘Aho acchariyaṃ mayhaṃ †, nibbutāyapi mātuyā;
Sarīramattasesāya, natthi sokapariddavo †.
‘Ah, this is wonderful! Though my mother has attained Nibbāna, with only a remnant of her body remaining, there is no grief or lamentation for me.
“‘Ồ, thật kỳ diệu! Dù mẹ của ta đã nhập Niết-bàn, chỉ còn lại xá-lợi, đối với ta không có sầu muộn, than khóc.
281.
281.
281.
‘‘‘Na sociyā paresaṃ sā, tiṇṇasaṃsārasāgarā;
Parivajjitasantāpā, sītibhūtā sunibbutā.
‘She is not one to be mourned by others, for she has crossed the ocean of saṃsāra. She is rid of all torment, has become cooled, and is utterly quenched.
“‘Bà ấy không đáng để người khác sầu muộn, bà đã vượt qua biển luân hồi; đã từ bỏ phiền não, đã trở nên mát mẻ, đã tịch tịnh hoàn toàn.
282.
282.
282.
‘‘‘Paṇḍitāsi mahāpaññā, puthupaññā tatheva ca;
Rattaññū bhikkhunīnaṃ sā, evaṃ dhāretha bhikkhavo.
‘She was wise, of great wisdom, and of vast wisdom too. She was the one of long experience among the bhikkhunīs. Thus, O bhikkhus, should you remember her.
“‘Bà là bậc hiền trí, có trí tuệ lớn, và cũng có trí tuệ sâu rộng; bà là vị Tỳ-khưu-ni có kinh nghiệm lâu năm. Này các Tỳ-khưu, hãy ghi nhớ như vậy.
283.
283.
283.
‘‘‘Iddhīsu ca vasī āsi, dibbāya sotadhātuyā;
Cetopariyañāṇassa, vasī āsi ca gotamī.
‘Gotamī had mastery of psychic powers and of the divine ear element; she also had mastery of the knowledge of encompassing the minds of others.
“‘Gotamī đã thuần thục trong các thần thông, trong thiên nhĩ giới; và cũng đã thuần thục trong tha tâm trí.
284.
284.
284.
‘‘‘Pubbenivāsamaññāsi, dibbacakkhu visodhitaṃ;
Sabbāsavaparikkhīṇā, natthi tassā punabbhavo.
‘She knew her past lives, her divine eye is purified. All her taints are destroyed; now there is no further becoming for her.
“‘Bà đã biết các kiếp quá khứ, thiên nhãn đã được thanh tịnh; tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, đối với bà không còn tái sanh.
285.
285.
285.
‘‘‘Atthadhammaniruttīsu, paṭibhāne tatheva ca;
Parisuddhaṃ ahu ñāṇaṃ, tasmā socaniyā na sā.
‘In meaning, Dhamma, language, and inspiration, her knowledge was completely pure; therefore she is not to be mourned.
“‘Trong các phân tích về nghĩa, pháp, ngôn ngữ, và cũng như trong biện tài, trí tuệ đã trở nên thanh tịnh; do đó, bà không đáng để sầu muộn.
286.
286.
286.
‘‘‘Ayoghanahatasseva, jalato jātavedassa;
Anupubbūpasantassa, yathā na ñāyate gati.
‘Just as the destination is unknown of a blazing fire that, when struck by an iron hammer, has been gradually extinguished,
“‘Giống như hướng đi không được biết đến của ngọn lửa được đập bằng búa sắt, đang cháy rồi dần dần tắt lịm.
287.
287.
287.
‘‘‘Evaṃ sammā vimuttānaṃ, kāmabandhoghatārinaṃ;
Paññāpetuṃ gati natthi, pattānaṃ acalaṃ sukhaṃ.
Thus, for those who are rightly liberated, who have crossed the flood of sensual bonds and have attained unshakable bliss, there is no destination to be designated.
“‘Cũng vậy, không có hướng đi nào để chỉ rõ cho những vị đã giải thoát hoàn toàn, đã vượt qua ái dục và bộc lưu, đã đạt đến hạnh phúc bất động.
288.
288.
288.
‘‘‘Attadīpā tato hotha, satipaṭṭhānagocarā;
Bhāvetvā sattabojjhaṅge, dukkhassantaṃ karissatha’’’.
‘Therefore, be islands for yourselves, with the establishments of mindfulness as your domain. Having developed the seven factors of enlightenment, you will make an end of suffering.’
“‘Do đó, hãy tự mình làm hòn đảo, hãy có niệm xứ làm cảnh giới; sau khi tu tập bảy giác chi, các ông sẽ chấm dứt khổ đau’.
Itthaṃ sudaṃ mahāpajāpatigotamī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, it is said, Mahāpajāpatī Gotamī spoke these verses.
Như vậy, Tỳ-khưu-ni Mahāpajāpati Gotamī đã nói những kệ này.
Mahāpajāpatigotamītheriyāpadānaṃ sattamaṃ.
The Apadāna of the Therī Mahāpajāpatī Gotamī, the Seventh.
Truyện về Trưởng lão ni Mahāpajāpati Gotamī, phẩm thứ bảy.