Bản dịch
THI -ap15 — Ký Sự về Pañcadīpadāyikā
Pañcadīpadāyikātherīapadāna
BJT 190Khi ấy, tôi đã là nữ du sĩ ở thành phố Haṁsavatī. Có sự tầm cầu thiện pháp, tôi (đã) đi từ tu viện này đến tu viện khác.
BJT 191Vào một ngày thuộc hạ huyền, tôi đã nhìn thấy cội cây Bồ Đề tối thượng. Tại đó, sau khi làm cho tâm được tịnh tín tôi đã ngồi xuống ở gốc cây Bồ Đề.
BJT 192Sau khi thiết lập tâm cung kỉnh, tôi đã chắp tay lên ở đầu và bày tỏ lòng hoan hỷ. Ngay khi ấy tôi đã suy nghĩ như vầy:
BJT 193“Nếu đức Phật có đức hạnh vô lượng, không người sánh bằng, xin cội Bồ Đề này hãy thị hiện thần thông,hãy chói sáng cho tôi thấy.”
BJT 194Cùng với điều suy nghĩ của tôi, ngay khi ấy cội Bồ Đề đã phát sáng, đã biến thành vàng toàn bộ, và đã chiếu sáng tất cả các phương.
BJT 195Tôi đã ngồi xuống tại nơi ấy, ở gốc cây Bồ Đề bảy ngày đêm. Khi đạt đến ngày thứ bảy, tôi đã thực hiện việc cúng dường các ngọn đèn.
BJT 196Sau khi được đặt quanh chỗ ngồi, năm ngọn đèn đã phát sáng. Khi ấy, các ngọn đèn của tôi đã phát sáng cho đến khi mặt trời mọc lên.
BJT 197Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 198Tại nơi ấy, cung điện đã được kiến tạo khéo léo dành cho tôi được gọi là “Ngũ Đăng,” có chiều cao sáu mươi do-tuần, chiều rộng ba mươi do-tuần.
BJT 199Xung quanh tôi có vô số ngọn đèn chiếu sáng. Cho đến cung điện của chư Thiên cũng sáng rực bởi ánh sáng của các ngọn đèn.
BJT 200Sau khi ngồi xuống mặt quay về hướng khác, nếu tôi muốn nhìn thấy ở bên trên, bên dưới, và chiều ngang, tôi đều nhìn thấy tất cả bằng mắt.
BJT 201Ngay cả khi tôi mong muốn nhìn thấy những việc tốt đẹp hoặc xấu xa thì không có gì che đậy được việc ấy, dầu ở các cây cối hoặc ở các núi non.
BJT 202Tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của tám mươi vị Thiên Vương. Tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của một trăm đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 203Mỗi khi tôi nhập thai bào dầu là cảnh giới chư Thiên hoặc loài người, có một trăm ngàn ngọn đèn chiếu sáng ở xung quanh tôi.
BJT 204Sau khi mệnh chung từ thế giới chư Thiên, tôi đã tái sanh vào bụng mẹ. Trong khi đi vào bụng mẹ và trụ lại, mắt của tôi không nhắm lại.
BJT 205Một trăm ngàn ngọn đèn là kết quả của nghiệp phước thiện, chúng chiếu sáng ở nhà bảo sanh; điều này là quả báu của năm ngọn đèn.
BJT 206Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, tôi đã gìn giữ tâm ý. Tôi đã chạm đến Niết Bàn là trạng thái mát mẻ, không già, không chết.
BJT 207Bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. Sau khi biết được đức hạnh (của tôi), đức Phật Gotama đã cho tôi tu lên bậc trên.
BJT 208Trong lúc sinh sống ở mái che, ở gốc cây, hoặc ở ngôi nhà trống vắng, luôn luôn có ngọn đèn chiếu sáng; điều này là quả báu của năm ngọn đèn.
BJT 209Thiên nhãn của tôi được thanh tịnh, tôi được thiện xảo về định, được thành tựu các thắng trí và các pháp toàn hảo; điều này là quả báu của năm ngọn đèn.
BJT 210“Bạch đấng Đại Hùng, bậc Hữu Nhãn, con là Pañcadīpā có toàn bộ nguồn nhiên liệu đã cạn, có các phận sự đã được làm xong, không còn các lậu hoặc, con xin đảnh lễ ở bàn chân (Ngài).”
BJT 211Kể từ khi tôi đã dâng cúng ngọn đèn trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của năm ngọn đèn.
BJT 212Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 213Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 214Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Vị tỳ khưu ni Pañcadīpadāyikā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Pañcadīpadāyikā là phần thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Pañcadīpadāyikātherīapadānaṃ
5. The Apadāna of the Therī Pañcadīpadāyikā
5. Trưởng Lão Ni Kệ của vị Thí Chủ Năm Ngọn Đèn
61.
61.
61.
‘‘Nagare haṃsavatiyā, cārikī † āsahaṃ tadā;
Ārāmena ca ārāmaṃ †, carāmi kusalatthikā.
In the city of Haṃsavatī, I was then a wanderer; being desirous of merit, I roamed from park to park.
Khi ấy ở tại thành phố Haṃsavatī, tôi là người thường đi du hành. Mong cầu điều thiện, tôi đi từ tu viện này đến tu viện khác.
62.
62.
62.
‘‘Kāḷapakkhamhi divase, addasaṃ bodhimuttamaṃ;
Tattha cittaṃ pasādetvā, bodhimūle nisīdahaṃ.
On a day of the dark fortnight, I saw the supreme Bodhi tree; having made my mind serene there, I sat down at the foot of the Bodhi tree.
Vào ngày hạ huyền, tôi đã nhìn thấy cây Bồ-đề cao quý. Tại nơi ấy, sau khi làm cho tâm ý trong sạch, tôi đã ngồi xuống dưới gốc cây Bồ-đề.
63.
63.
63.
‘‘Garucittaṃ upaṭṭhetvā, sire katvāna añjaliṃ;
Somanassaṃ pavedetvā, evaṃ cintesi tāvade.
Having established a reverential mind and having placed my joined palms on my head, expressing my gladness, at that moment I thought thus:
Sau khi an trú tâm cung kính và chắp tay trên đầu, tôi đã biểu lộ niềm hoan hỷ và suy nghĩ như vầy vào lúc ấy.
64.
64.
64.
‘‘‘Yadi buddho amitaguṇo, asamappaṭipuggalo;
Dassetu pāṭihīraṃ me, bodhi obhāsatu ayaṃ’.
‘If the Buddha is of incomparable qualities, an unequalled and unrivaled person, let it show a miracle to me; let this Bodhi tree shine forth.’
“‘Nếu đức Phật là bậc có ân đức vô lượng, là người không có đối thủ, xin cây Bồ-đề này hãy thị hiện thần thông cho con, xin hãy tỏa sáng.’”
65.
65.
65.
‘‘Saha āvajjite mayhaṃ, bodhi pajjali tāvade;
Sabbasoṇṇamayā āsi, disā sabbā virocati.
As soon as I adverted, the Bodhi tree blazed at that very moment. It became entirely made of gold; all the directions shone beautifully.
“Ngay khi con vừa suy niệm, cây Bồ-đề liền bừng cháy sáng. (Cây) đã trở thành hoàn toàn bằng vàng, tất cả các phương hướng đều rực rỡ.”
66.
66.
66.
‘‘Sattarattindivaṃ tattha, bodhimūle nisīdahaṃ;
Sattame divase patte, dīpapūjaṃ akāsahaṃ.
For seven nights and days I sat there at the foot of the Bodhi tree. When the seventh day arrived, I made an offering of lamps.
“Con đã ngồi tại đó, ở cội Bồ-đề, trong suốt bảy ngày bảy đêm. Khi đến ngày thứ bảy, con đã thực hiện việc cúng dường đèn.”
67.
67.
67.
‘‘Āsanaṃ parivāretvā, pañca dīpāni pajjaluṃ;
Yāva udeti sūriyo, dīpā me pajjaluṃ tadā.
Having surrounded the seat, five lamps blazed. My lamps then blazed until the sun arose.
“Bao quanh chỗ ngồi (của đức Phật), năm ngọn đèn đã cháy sáng. Khi ấy, những ngọn đèn của con đã cháy sáng cho đến khi mặt trời mọc.”
68.
68.
68.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done deed and by my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
“Do nghiệp tốt đã làm ấy, và do các tác ý và nguyện vọng, sau khi từ bỏ thân người, con đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.”
69.
69.
69.
‘‘Tattha me sukataṃ byamhaṃ, pañcadīpāti vuccati;
Saṭṭhiyojanamubbedhaṃ, tiṃsayojanavitthataṃ.
There, my well-made celestial mansion is called ‘Pañcadīpa.’ It is sixty yojanas high and thirty yojanas wide.
“Ở đó, lâu đài do con tạo ra được gọi là Pañcadīpa (Năm Ngọn Đèn), cao sáu mươi do-tuần, và rộng ba mươi do-tuần.”
70.
70.
70.
‘‘Asaṅkhiyāni dīpāni, parivāre jaliṃsu me;
Yāvatā devabhavanaṃ, dīpālokena jotati.
Innumerable lamps blazed around me as my retinue; the entire divine mansion shines with the light of the lamps.
“Vô số ngọn đèn đã cháy sáng xung quanh con. Toàn cõi trời đều rực sáng bởi ánh sáng của những ngọn đèn.”
71.
71.
71.
‘‘Parammukhā † nisīditvā, yadi icchāmi passituṃ;
Uddhaṃ adho ca tiriyaṃ, sabbaṃ passāmi cakkhunā.
Sitting with my face turned away, if I wish to see, I see everything—above, below, and across—with my eye.
“Dù ngồi quay mặt đi, nếu con muốn nhìn, con đều nhìn thấy tất cả, trên, dưới, và ngang, bằng mắt của mình.”
72.
72.
72.
‘‘Yāvatā abhikaṅkhāmi, daṭṭhuṃ sugataduggate †;
Tattha āvaraṇaṃ natthi, rukkhesu pabbatesu vā.
However far I wish to see those in good and bad destinations, there is no obstruction for me, whether by trees or by mountains.
“Bất cứ khi nào con mong muốn nhìn thấy những chúng sanh ở cõi lành hay cõi dữ, ở đó không có gì che chướng, dù là cây cối hay núi non.”
73.
73.
73.
‘‘Asīti devarājūnaṃ, mahesittamakārayiṃ;
Satānaṃ cakkavattīnaṃ, mahesittamakārayiṃ.
I acted as the chief queen of eighty kings of the devas; I acted as the chief queen of a hundred wheel-turning monarchs.
“Con đã làm hoàng hậu của tám mươi vị thiên chủ. Con đã làm hoàng hậu của một trăm vị Chuyển luân vương.”
74.
74.
74.
‘‘Yaṃ yaṃ yonupapajjāmi, devattaṃ atha mānusaṃ;
Dīpasatasahassāni, parivāre jalanti me.
In whatever existence I am reborn, whether divine or human, a hundred thousand lamps blaze around me as my retinue.
“Bất cứ cảnh giới nào con tái sanh vào, dù là cõi trời hay cõi người, một trăm ngàn ngọn đèn đều cháy sáng xung quanh con.”
75.
75.
75.
‘‘Devalokā cavitvāna, uppajjiṃ mātukucchiyaṃ;
Mātukucchigatā santī, akkhi me na nimīlati.
Having passed away from the deva world, I was conceived in my mother’s womb. While in my mother’s womb, my eyes did not close.
“Sau khi mệnh chung từ cõi trời, con đã sanh vào trong bụng mẹ. Dù đang ở trong bụng mẹ, mắt của con vẫn không nhắm lại.”
76.
76.
76.
‘‘Dīpasatasahassāni, puññakammasamaṅgitā;
Jalanti sūtikāgehe, pañcadīpānidaṃ phalaṃ.
A hundred thousand lamps, endowed by meritorious kamma, blaze in the delivery chamber: this is the fruit of the five lamps.
“Một trăm ngàn ngọn đèn, do được phú cho nghiệp phước, đã cháy sáng trong nhà hộ sinh. Đây là quả của năm ngọn đèn.”
77.
77.
77.
‘‘Pacchime bhave sampatte, mānasaṃ vinivattayiṃ;
Ajarāmataṃ sītibhāvaṃ, nibbānaṃ phassayiṃ ahaṃ.
Having reached my final existence, I turned away from the human state. I realized Nibbāna, the ageless, deathless, peaceful state.
“Khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, con đã trở lại làm người. Con đã chứng ngộ Niết-bàn, trạng thái không già, không chết, tịch tịnh.”
78.
78.
78.
‘‘Jātiyā sattavassāhaṃ, arahattamapāpuṇiṃ;
Upasampādayī buddho, guṇamaññāya gotamo.
At seven years of age, I attained arahantship. The Buddha Gotama, recognizing my qualities, gave me the higher ordination.
“Con, khi được bảy tuổi, đã đắc quả A-la-hán. Đức Phật Gotama, sau khi biết được phẩm hạnh (của con), đã cho con xuất gia.”
79.
79.
79.
‘‘Maṇḍape rukkhamūle vā, suññāgāre vasantiyā;
Sadā pajjalate dīpaṃ, pañcadīpānidaṃ phalaṃ.
Whether I am dwelling in a pavilion, at the foot of a tree, or in an empty place, a lamp always blazes: this is the fruit of the five lamps.
“Khi đang trú ngụ trong lều, dưới gốc cây, hoặc trong ngôi nhà trống, ngọn đèn luôn luôn cháy sáng. Đây là quả của năm ngọn đèn.”
80.
80.
80.
‘‘Dibbacakkhu visuddhaṃ me, samādhikusalā ahaṃ;
Abhiññāpāramippattā, pañcadīpānidaṃ phalaṃ.
My divine eye is purified, and I am skilled in concentration; I have reached the perfection of the direct knowledges: this is the fruit of the five lamps.
“Thiên nhãn của con đã được thanh tịnh, con thiện xảo về định. Con đã đạt đến sự toàn hảo của các thắng trí. Đây là quả của năm ngọn đèn.”
81.
81.
81.
‘‘Sabbavositavosānā, katakiccā anāsavā;
Pañcadīpā mahāvīra, pāde vandāmi cakkhuma.
My dwelling in the holy life is completely finished, I have done what was to be done and am free from taints. I, Pañcadīpā, venerate your feet, O Great Hero, O One with the Five Eyes.
“Con, Pañcadīpā, đã hoàn thành phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, không còn lậu hoặc, kính lạy dưới chân Ngài, bậc Đại Hùng, bậc có mắt (trí tuệ).”
82.
82.
82.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ dīpamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, pañcadīpānidaṃ phalaṃ.
One hundred thousand kappas ago, because of the lamps I gave then, I have not known an unhappy destination. This is the fruit of the five lamps.
“Cách đây một trăm ngàn kiếp, khi ấy con đã cúng dường ngọn đèn, (từ đó) con không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả của năm ngọn đèn.”
83.
83.
83.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
My defilements are burnt up… I dwell free from taints.
“Các phiền não của con đã được đốt cháy... (vân vân)... con sống không còn lậu hoặc.”
84.
84.
84.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Truly, my coming was a good one… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Thật vậy, sự đến của con là thiện lai... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
85.
85.
85.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges have been attained… the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Bốn Tuệ phân tích... (vân vân)... giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ pañcadīpadāyikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the bhikkhunī Pañcadīpadāyikā spoke these verses.
Như vậy, quả thật Tỳ-khưu-ni Pañcadīpadāyikā đã nói những câu kệ này.
Pañcadīpadāyikātheriyāpadānaṃ pañcamaṃ.
The Apadāna of the Therī Pañcadīpadāyikā, the fifth.
Trưởng lão ni kệ của ngài Pañcadīpadāyikā, phẩm thứ năm.