Bản dịch
THI -ap14 — Ký Sự về Ekāsanadāyikā
Ekāsanadāyikātherīapadāna
BJT 166Lúc bấy giờ, tôi đã là cô thiếu nữ ở tại thành phố Haṁsavatī. Mẹ và luôn cả cha của tôi, họ đều đã đi làm công việc.
BJT 167Vào lúc mặt trời ở chính ngọ, tôi đã nhìn thấy vị sa-môn đang đi dọc theo đường lộ nên tôi đã xếp đặt chỗ ngồi.
BJT 168Sau khi xếp đặt chỗ ngồi bằng nhiều loại lông cừu, v.v… rồi với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã nói lời nói này:
BJT 169“Mặt đất bị nóng bỏng, bị thiêu đốt, mặt trời đã đứng ở chính ngọ, và các cơn gió ngưng thổi, vậy là lúc ngài hãy nghỉ ở đây.
BJT 170Thưa bậc đại hiền trí, đây là chỗ ngồi đã được sắp xếp dành cho ngài. Vì lòng thương tưởng, xin ngài hãy ngồi xuống chỗ ngồi của con.”
BJT 171Với tâm ý thanh tịnh, vị sa-môn được rèn luyện chu đáo đã ngồi xuống ở tại nơi ấy. Tôi đã nhận lãnh bình bát của vị ấy và đã dâng cúng không chút sai sót.
BJT 172Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 173Tại nơi ấy, tôi có cung điện đã khéo được xây dựng, đã khéo được hóa hiện ra với chỗ ngồi, có chiều cao sáu mươi do-tuần, chiều rộng ba mươi do-tuần.
BJT 174Cũng vào khi ấy, tôi có các ghế dài nhiều kiểu làm bằng vàng, làm bằng ngọc ma-ni, làm bằng ngọc pha-lê, và làm bằng hồng ngọc nữa.
BJT 175Các ghế dài của tôi khéo được trải lót với các tấm nệm bằng len dệt, với nhiều loại tấm trải bằng tơ dệt có đính các viên ngọc, và với các tấm trải viền ren ở một bên.
BJT 176Khi nào tôi ước muốn sự ra đi với mục đích giải trí nô đùa, điều ước nguyện của tôi là tôi ra đi bằng chiếc ghế dài thù thắng của tôi.
BJT 177Tôi đã được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của tám mươi vị Thiên Vương. Tôi đã được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của bảy mươi đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 178Trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi đã đạt được tài sản lớn lao. Đối với tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của một chỗ ngồi.
BJT 179Tôi (đã) luân hồi ở hai cảnh giới, trong bản thể chư Thiên và nhân loại. Tôi không còn biết đến các cõi khác; điều này là quả báu của một chỗ ngồi.
BJT 180Tôi (đã) được sanh ra ở hai gia tộc, Sát-đế-lỵ và cả Bà-la-môn nữa. Ở mọi nơi, tôi đều thuộc gia đình thượng lưu; điều này là quả báu của một chỗ ngồi.
BJT 181Tôi không biết đến tâm sân hận và sự bực bội của tâm. Tôi không biết đến việc tàn tạ dung nhan; điều này là quả báu của một chỗ ngồi.
BJT 182Các nữ tỳ hầu hạ tôi, nhiều người bị gù lưng, bị chảy nước dãi. Tôi đã (được ẳm bồng) di chuyển từ hông này đến hông khác; điều này là quả báu của một chỗ ngồi.
BJT 183Luôn luôn có các cô này tắm (cho tôi), các cô kia chăm lo thức ăn, các cô khác làm cho tôi vui thích, các cô nọ thoa dầu thơm (cho tôi); điều này là quả báu của một chỗ ngồi.
BJT 184Trong lúc tôi sống ở mái che, ở gốc cây, hoặc ở ngôi nhà trống vắng, chiếc ghế dài biết được ý định của tôi hiện diện kề bên.
BJT 185Đây là kiếp sống cuối cùng của tôi, là lần hiện hữu cuối cùng trong sự luân chuyển. Hiện nay, tôi đã từ bỏ vương quốc và đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 186Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của một chỗ ngồi.
BJT 187Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 188Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 189Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Vị tỳ khưu ni Ekāsanadāyikā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Ekāsanadāyikā là phần thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Ekāsanadāyikātherīapadānaṃ
4. The Apadāna of the Therī Ekāsanadāyikā
4. Trưởng Lão Ni Kệ Sự của ni sư Ekāsanadāyikā
37.
37.
37.
‘‘Nagare haṃsavatiyā, ahosiṃ bālikā † tadā;
Mātā ca me pitā ceva, kammantaṃ agamaṃsu te.
In the city of Haṃsavatī, I was a young girl then; both my mother and my father had gone to their work.
Khi ấy ở tại thành phố Haṃsavatī, tôi đã là một bé gái. Cả mẹ của tôi và cha của tôi, cả hai vị ấy đã đi đến nơi làm việc.
38.
38.
38.
‘‘Majjhanhikamhi sūriye, addasaṃ samaṇaṃ ahaṃ;
Vīthiyā anugacchantaṃ, āsanaṃ paññapesahaṃ.
When the sun was at midday, I saw a recluse walking along the street; I prepared a seat.
Khi mặt trời đứng bóng, tôi đã nhìn thấy vị Sa-môn đang đi theo con đường. Tôi đã dọn sẵn chỗ ngồi.
39.
39.
39.
‘‘Gonakāvikatikāhi †, paññapetvā mamāsanaṃ;
Pasannacittā sumanā, idaṃ vacanamabraviṃ.
Having prepared my seat with a long-fleeced cover and an embroidered spread, with a confident mind and gladdened heart, I spoke this utterance:
Sau khi trải chỗ ngồi của tôi bằng những tấm thảm len có tua dài và những tấm trải có hình thù đa dạng, với tâm ý trong sạch và hoan hỷ, tôi đã nói lên lời này.
40.
40.
40.
‘‘‘Santattā kuthitā bhūmi, sūro majjhanhike ṭhito;
Mālutā ca na vāyanti, kālo cevettha mehiti †.
‘The earth is scorched and boiling, the sun stands at midday; the winds do not blow. It is the proper time; please come here to my place.’
‘Mặt đất nóng bỏng, sôi sục; mặt trời đang đứng bóng. Gió cũng không thổi, và đây là thời điểm thích hợp, xin Ngài hãy đến đây.’
41.
41.
41.
‘‘‘Paññattamāsanamidaṃ, tavatthāya mahāmuni;
Anukampaṃ upādāya, nisīda mama āsane’.
‘This seat is prepared for your benefit, O Great Sage; out of compassion, please sit upon my seat.’
‘Bạch bậc Đại-mâu-ni, chỗ ngồi này đã được dọn sẵn vì lợi ích của Ngài. Do lòng bi mẫn, xin Ngài hãy ngồi xuống trên chỗ ngồi của con.’
42.
42.
42.
‘‘Nisīdi tattha samaṇo, sudanto suddhamānaso;
Tassa pattaṃ gahetvāna, yathārandhaṃ adāsahaṃ.
The recluse sat there, well-tamed, with a pure mind. Taking his bowl, I gave according to what was prepared.
Vị Sa-môn, bậc khéo điều phục, có tâm ý thanh tịnh, đã ngồi xuống nơi ấy. Sau khi nhận lấy bình bát của Ngài, tôi đã dâng cúng vật thực đã được nấu nướng.
43.
43.
43.
‘‘Tena kammena sukatena, cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṃ dehaṃ, tāvatiṃsamagacchahaṃ.
By that well-done deed and by my volitions and aspirations, having abandoned the human body, I went to the Tāvatiṃsa heaven.
Do nghiệp lành đã được thực hiện ấy và do các tâm nguyện, sau khi từ bỏ thân người, tôi đã đi đến cõi trời Ba Mươi Ba.
44.
44.
44.
‘‘Tattha me sukataṃ byamhaṃ, āsanena sunimmitaṃ;
Saṭṭhiyojanamubbedhaṃ, tiṃsayojanavitthataṃ.
There, my well-made celestial mansion was well-created by that seat; it was sixty yojanas in height and thirty yojanas in breadth.
Tại nơi ấy, lâu đài của tôi, do phước lành tạo ra, đã được khéo kiến tạo bởi chỗ ngồi (đã cúng dường). Lâu đài ấy cao sáu mươi do-tuần và rộng ba mươi do-tuần.
45.
45.
45.
‘‘Soṇṇamayā maṇimayā, athopi phalikāmayā;
Lohitaṅgamayā ceva, pallaṅkā vividhā mama.
My various couches are made of gold, of gems, and also of crystal, and of ruby.
Những chiếc ngai tòa của tôi có nhiều loại khác nhau: làm bằng vàng, làm bằng ngọc, và cả làm bằng pha lê, cũng như làm bằng hồng ngọc.
46.
46.
46.
‘‘Tūlikā vikatikāhi, kaṭṭissacittakāhi ca;
Uddaekantalomī ca, pallaṅkā me susaṇṭhitā †.
My couches are well-appointed with cotton mattresses and figured coverlets, with embroidered silk spreads, and with fleeces having hair on both sides and on one side.
Những chiếc ngai tòa của tôi được trang hoàng lộng lẫy với những tấm nệm bông, những tấm trải có hình thù đa dạng, những tấm thảm lụa thêu kim tuyến, và những tấm thảm len có tua ở một bên hoặc cả hai bên.
47.
47.
47.
‘‘Yadā icchāmi gamanaṃ, hāsakhiḍḍasamappitā;
Saha pallaṅkaseṭṭhena, gacchāmi mama patthitaṃ.
Whenever I wish to go, devoted to laughter and play, I go to my desired destination together with the best of couches.
Bất cứ khi nào tôi muốn đi đâu, tràn đầy niềm vui và tiếng cười, tôi đi cùng với chiếc ngai tòa cao quý đến nơi tôi mong muốn.
48.
48.
48.
‘‘Asīti devarājūnaṃ, mahesittamakārayiṃ;
Sattati cakkavattīnaṃ, mahesittamakārayiṃ.
I was the chief consort of eighty deva kings; I was the chief consort of seventy wheel-turning monarchs.
Tôi đã làm hoàng hậu cho tám mươi vị thiên chủ. Tôi đã làm hoàng hậu cho bảy mươi vị chuyển luân vương.
49.
49.
49.
‘‘Bhavābhave saṃsarantī, mahābhogaṃ labhāmahaṃ;
Bhoge me ūnatā natthi, ekāsanassidaṃ phalaṃ †.
Wandering in existence after existence, I obtain great wealth; in my wealth, there is no deficiency. This is the fruit of offering a single seat.
Khi luân hồi trong các kiếp sống, tôi đã nhận được tài sản to lớn. Tài sản của tôi không hề bị thiếu hụt, đây là kết quả của việc cúng dường một chỗ ngồi.
50.
50.
50.
‘‘Duve bhave saṃsarāmi, devatte atha mānuse;
Aññe bhave na jānāmi, ekāsanassidaṃ phalaṃ.
I wander in two existences, in the divine state and in the human state; I know of no other existences. This is the fruit of offering a single seat.
Tôi chỉ luân hồi trong hai cảnh giới: cõi trời và cõi người. Tôi không biết đến các cảnh giới khác, đây là kết quả của việc cúng dường một chỗ ngồi.
51.
51.
51.
‘‘Duve kule pajāyāmi, khattiye cāpi brāhmaṇe;
Uccākulīnā † sabbattha, ekāsanassidaṃ phalaṃ.
I am born into two families, that of the khattiya and also that of the brahmin; everywhere I am of high birth. This is the fruit of offering a single seat.
Tôi được sinh ra trong hai dòng dõi: dòng dõi Sát-đế-lỵ và dòng dõi Bà-la-môn. Ở khắp mọi nơi, tôi đều thuộc dòng dõi cao quý, đây là kết quả của việc cúng dường một chỗ ngồi.
52.
52.
52.
‘‘Domanassaṃ na jānāmi, cittasantāpanaṃ mama;
Vevaṇṇiyaṃ na jānāmi, ekāsanassidaṃ phalaṃ.
I know no displeasure, nor torment of my mind; I know no change in complexion. This is the fruit of offering a single seat.
Tôi không biết đến sự ưu phiền, không biết đến sự nóng nảy trong tâm. Tôi không biết đến sự xấu xí, đây là kết quả của việc cúng dường một chỗ ngồi.
53.
53.
53.
‘‘Dhātiyo maṃ upaṭṭhanti, khujjā celāpikā † bahū;
Aṅkena aṅkaṃ gacchāmi, ekāsanassidaṃ phalaṃ.
Nurses attend upon me, and many hunchbacked women and attendants; I am passed from lap to lap. This is the fruit of offering a single seat.
Các vú nuôi hầu hạ tôi, có nhiều người hầu gái gù lưng và tỳ nữ. Tôi được chuyền từ vòng tay này sang vòng tay khác, đây là kết quả của việc cúng dường một chỗ ngồi.
54.
54.
54.
‘‘Aññā nhāpenti bhojenti, aññā ramenti maṃ sadā;
Aññā gandhaṃ vilimpanti, ekāsanassidaṃ phalaṃ †.
Some women bathe me and some feed me; others always entertain me; still others anoint me with perfume. This is the fruit of offering a single seat.
Những người khác tắm cho tôi, những người khác cho tôi ăn, những người khác luôn làm tôi vui thích. Những người khác xức hương thơm cho tôi, đây là kết quả của việc cúng dường một chỗ ngồi.
55.
55.
55.
‘‘Maṇḍape rukkhamūle vā, suññāgāre vasantiyā;
Mama saṅkappamaññāya, pallaṅko upatiṭṭhati.
Whether I am dwelling in a pavilion, at the foot of a tree, or in an empty abode, a couch appears, having known my intention.
Khi tôi đang ở trong đình tạ, hoặc dưới gốc cây, hoặc trong ngôi nhà trống, chiếc ngai tòa biết được ý định của tôi liền hiện ra.
56.
56.
56.
‘‘Ayaṃ pacchimako mayhaṃ, carimo vattate bhavo;
Ajjāpi rajjaṃ chaḍḍetvā, pabbajiṃ anagāriyaṃ.
This is my last existence; my final life is now occurring. Even in this life, having abandoned royalty, I have gone forth into the homeless state.
Đây là kiếp sống cuối cùng của tôi, kiếp chót đang diễn ra. Ngay cả trong kiếp này, sau khi từ bỏ vương vị, tôi đã xuất gia vào đời sống không nhà.
57.
57.
57.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ dānamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, ekāsanassidaṃ phalaṃ.
One hundred thousand kappas ago, because of the gift I gave then, I have not known an unhappy destination. This is the fruit of offering a single seat.
Cách đây một trăm ngàn kiếp, khi tôi đã thực hiện việc bố thí ấy, tôi không hề biết đến khổ cảnh. Đây là kết quả của việc cúng dường một chỗ ngồi.
58.
58.
58.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
My defilements are burnt up... I dwell free from taints.
Các phiền não của tôi đã được đốt sạch… (vân vân)… tôi sống không còn lậu hoặc.
59.
59.
59.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Indeed, my coming was a good coming... the Buddha’s teaching has been done.
Sự quang lâm của tôi thật là khéo đến… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
60.
60.
60.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha’s teaching has been done.
Bốn Tuệ phân tích… (vân vân)… giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ ekāsanadāyikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the bhikkhunī Ekāsanadāyikā spoke these verses.
Như vậy, Tỳ-khưu-ni Ekāsanadāyikā đã nói lên những câu kệ này.
Ekāsanadāyikātheriyāpadānaṃ catutthaṃ.
The Apadāna of the Therī Ekāsanadāyikā, the Fourth.
Trưởng Lão Ni Kệ của vị Thí Chủ Một Chỗ Ngồi, phẩm thứ tư.