Bản dịch
THI -ap12 — Ký Sự về Salalapupphikā
2 Saḷalapupphikātherīapadāna
BJT 151Khi ấy, tôi đã là loài kim-sỉ-điểu cái ở bờ sông Candabhāgā. Tôi đã nhìn thấy đấng Nhân Ngưu, vị Trời của chư Thiên, đang đi kinh hành.
BJT 152Sau khi hái xuống bông hoa salala, tôi đã dâng lên đức Phật tối thượng (nói rằng): “Bạch đấng Đại Hùng thỉnh ngài ngửi bông hoa salala có hương thơm của cõi trời.”
BJT 153Sau khi thọ nhận, đấng Toàn Giác Vipassī, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng đã ngửi (bông hoa ấy), trong khi ấy tôi đang chăm chú nhìn.
BJT 154Tôi đã chắp tay lên và đã đảnh lễ đấng Tối Thượng Nhân. Sau khi làm cho tâm của mình được tịnh tín, từ nơi ấy tôi đã đi lên ngọn núi.
BJT 155Kể từ khi tôi đã dâng cúng bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 156Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 157Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 158Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Salalapupphikā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Salalapupphikā là phần thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Itthaṃ sudaṃ ekūposathikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the bhikkhunī Ekūposathikā spoke these verses.
Như thế, quả thật tỳ-khưu-ni Ekūposathikā đã nói những câu kệ này.
2. Saḷalapupphikātherīapadānaṃ
2. The Apadāna of the Elder Nun Saḷalapupphikā
2. Trưởng Lão Ni Kệ Sự của ni sư Saḷalapupphikā
22.
22.
22.
‘‘Candabhāgānadītīre, ahosiṃ kinnarī tadā;
Addasāhaṃ devadevaṃ, caṅkamantaṃ narāsabhaṃ.
“On the bank of the Candabhāgā river, I was then a kinnarī. I saw the God of gods, the Bull among men, walking in meditation.
“Bên bờ sông Candabhāgā, khi ấy tôi là một vị khẩn-na-la; tôi đã nhìn thấy đấng Thiên Nhân Sư, bậc Ngưu Vương trong loài người, đang đi kinh hành.
23.
23.
23.
‘‘Ocinitvāna saḷalaṃ, buddhaseṭṭhassadāsahaṃ;
Upasiṅghi mahāvīro, saḷalaṃ devagandhikaṃ.
Having plucked a pine flower, I gave it to the Best of Buddhas. The Great Hero smelled the pine flower, which had a divine fragrance.
“Sau khi hái đóa hoa thông, tôi đã dâng lên đức Phật tối thắng; bậc Đại Hùng đã ngửi đóa hoa thông có hương thơm của chư Thiên.
24.
24.
24.
‘‘Paṭiggahetvā sambuddho, vipassī lokanāyako;
Upasiṅghi mahāvīro, pekkhamānāya me tadā.
Having accepted it, the Perfectly Enlightened One, Vipassī, the Leader of the World, the Great Hero, then smelled it while I was looking on.
“Đấng Chánh Đẳng Giác Vipassī, bậc Lãnh Đạo thế gian, sau khi thọ nhận, bậc Đại Hùng đã ngửi đóa hoa trong khi tôi đang nhìn xem vào lúc ấy.
25.
25.
25.
‘‘Añjaliṃ paggahetvāna, vanditvā dvipaduttamaṃ †;
Sakaṃ cittaṃ pasādetvā, tato pabbatamāruhiṃ.
Having raised my hands in respectful salutation and paid homage to the best of bipeds, I gladdened my own mind and then ascended the mountain.
“Sau khi chắp tay, đảnh lễ bậc Tối Thắng trong loài hai chân, sau khi làm cho tâm mình được tịnh tín, từ nơi ấy tôi đã đi lên núi.
26.
26.
26.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ pupphamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, buddhapūjāyidaṃ phalaṃ.
In the ninety-first aeon from this one, because of the flower that I gave then, I have not known a woeful destination. This is the fruit of worshipping the Buddha.
“Vào kiếp thứ chín mươi mốt tính từ đây, tôi đã dâng đóa hoa vào lúc bấy giờ; tôi không hề biết đến ác thú, đây là quả của việc cúng dường đức Phật.
27.
27.
27.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ…pe… viharāmi anāsavā.
My defilements are burned up … I dwell free of taints.
“Các phiền não của tôi đã được đốt sạch ... (dấu lửng) ... tôi sống không còn lậu hoặc.
28.
28.
28.
‘‘Svāgataṃ vata me āsi…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ.
Fortunate indeed was my coming … the Buddha’s teaching has been fulfilled.
“Sự đến của tôi thật là khéo đến ... (dấu lửng) ... tôi đã thực hành giáo pháp của đức Phật.
29.
29.
29.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges have been attained … the Buddha’s teaching has been fulfilled.”
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (dấu lửng) ... tôi đã thực hành giáo pháp của đức Phật.”
Itthaṃ sudaṃ saḷalapupphikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the bhikkhunī Saḷalapupphikā spoke these verses.
Như thế, quả thật tỳ-khưu-ni Saḷalapupphikā đã nói những câu kệ này.
Saḷalapupphikātheriyāpadānaṃ dutiyaṃ.
The second Apadāna of the Therī Saḷalapupphikā.
Trưởng Lão Ni Kệ Sự của ni sư Saḷalapupphikā, phẩm thứ hai.