- Theragāthā 8.3
- Aṭṭhakanipāta
- Paṭhamavagga
Mahāpanthakattheragāthā
“Yadā paṭhamamaddakkhiṁ, satthāramakutobhayaṁ; Tato me ahu saṁvego, passitvā purisuttamaṁ.
Siriṁ hatthehi pādehi, yo paṇāmeyya āgataṁ; Etādisaṁ so satthāraṁ, ārādhetvā virādhaye.
Bản dịch
Mahāpanthakattheragāthā
BJT 510“Vào lúc tôi đã nhìn thấy đấng Đạo Sư, bậc không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu lần đầu tiên, do đó đã có sự chấn động ở tôi sau khi nhìn thấy đấng Tối Thượng Nhân.
BJT 511Người nào cúi lạy vận may đã đi đến với các bàn tay và các bàn chân, sau khi làm hoan hỷ bậc Đạo Sư như thế này, người ấy sao có thể bỏ qua cơ hội?
BJT 512Khi ấy, tôi đã lìa bỏ con trai và người vợ, tài sản và lúa gạo. Sau khi nhờ người cắt tóc râu, tôi đã xuất gia sống đời không nhà.
BJT 513Được đầy đủ về việc học tập và sự nuôi mạng, đã khéo được thu thúc ở các giác quan, trong khi kính lễ đấng Toàn Giác, tôi đã sống, không bị đánh bại.
BJT 514Sau đó, tôi đã có ước nguyện, tôi đã mong mỏi ở trong tâm rằng: ‘Khi mũi tên tham ái chưa được lấy ra, ta không nên ngồi xuống cho dầu chỉ phút chốc.’
BJT 515Trong lúc tôi đây đang sống như vậy, hãy nhìn xem sự tinh tấn và ra sức của tôi. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
BJT 516Có Thiên nhãn được trong sạch, tôi biết được đời sống trong thời quá khứ. Tôi là vị A-la-hán, bậc xứng đáng cúng dường, đã được giải thoát, không còn mầm mống tái sanh.
BJT 517Sau đó, vào lúc tàn đêm cho đến khi mọc lên của mặt trời, sau khi làm khô héo tất cả tham ái, tôi đã ngồi xuống với thế ngồi kiết già.”
Đại đức trưởng lão Mahāpanthaka đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Mahāpanthaka.
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
“Trưởng lão Mahākaccāyana, vị Sirimitta, vị Mahāpanthaka. Ở nhóm tám này, có hai mươi bốn câu kệ.”
Nhóm Tám được chấm dứt.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Yadā paṭhamamaddakkhiṁ, satthāramakutobhayaṁ; Tato me ahu saṁvego, passitvā purisuttamaṁ.
Siriṁ hatthehi pādehi, yo paṇāmeyya āgataṁ; Etādisaṁ so satthāraṁ, ārādhetvā virādhaye.
When I first saw the Teacher who fears nothing from any quarter, I was struck with a sense of urgency, seeing the supreme among men.
Anyone who, having found such a Teacher, would lose them again, is like one who, when approached by Lady Luck, would ward her off with their hands and feet.
“Người nào dùng tay chân xua đuổi, phúc lộc đã đến với mình; Người ấy, dù đã phụng sự bậc Đạo Sư như thế, cũng có thể làm hỏng cơ duyên.
Tadāhaṁ puttadārañca, dhanadhaññañca chaḍḍayiṁ; Kesamassūni chedetvā, pabbajiṁ anagāriyaṁ.
Then I left behind my children and wives, my riches and my grain; I had my hair and beard cut off, and went forth to homelessness.
“Khi ấy, con từ bỏ vợ con, và cả tài sản, lúa gạo; Cạo bỏ râu tóc, con đã xuất gia, vào đời sống không gia đình.
Sikkhāsājīvasampanno, indriyesu susaṁvuto; Namassamāno sambuddhaṁ, vihāsiṁ aparājito.
Endowed with the monastic training and livelihood, my sense faculties well-restrained, paying homage to the Buddha, I meditated undefeated.
“Con đầy đủ giới hạnh và mạng sống trong sạch, khéo thu thúc trong các căn; Đảnh lễ bậc Chánh Đẳng Giác, con đã sống không bị khuất phục.
Tato me paṇidhī āsi, cetaso abhipatthito; Na nisīde muhuttampi, taṇhāsalle anūhate.
Then a wish occurred to me, my heart’s truest wish: I wouldn’t sit down, not even for a short while, until the dart of craving was plucked.
“Từ đó, lời nguyện của con đã khởi lên, điều mà tâm con mong mỏi; Con sẽ không ngồi dù chỉ một khoảnh khắc, khi mũi tên ái dục chưa được nhổ ra.
Tassa mevaṁ viharato, passa vīriyaparakkamaṁ; Tisso vijjā anuppattā, kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
As I meditate like this, see my energy and vigor! I’ve attained the three knowledges, and fulfilled the Buddha’s instructions.
“Hãy xem sự tinh tấn nỗ lực, của con, người đang sống như vậy; Ba minh đã được chứng đắc, giáo pháp của Đức Phật đã được thực hành.
Pubbenivāsaṁ jānāmi, dibbacakkhu visodhitaṁ; Arahā dakkhiṇeyyomhi, vippamutto nirūpadhi.
I know my past lives, my clairvoyance is clarified; I’m perfected, worthy of offerings, liberated, free of attachments.
“Con biết được các kiếp quá khứ, thiên nhãn đã được thanh tịnh; Con là bậc A-la-hán, xứng đáng được cúng dường, đã giải thoát, không còn sanh y.
Tato ratyā vivasāne, sūriyuggamanaṁ pati; Sabbaṁ taṇhaṁ visosetvā, pallaṅkena upāvisin”ti.
Then, at the end of the night, as the rising of the sun drew near, all craving was dried up, so I sat down cross-legged.
“Sau đó, vào lúc cuối đêm, khi mặt trời sắp mọc; Sau khi làm khô cạn mọi ái dục, con đã ngồi xuống trong thế kiết-già.”
… Mahāpanthako thero …
… Trưởng lão Đại Lộ Biện (Mahāpanthaka) …
Aṭṭhakanipāto niṭṭhito.
Tatruddānaṁ
Phẩm Tám Kệ đã kết thúc.
Mahākaccāyano thero, sirimitto mahāpanthako;
Trưởng lão Đại Ca-chiên-diên (Mahākaccāyana), trưởng lão Sirimitta, và trưởng lão Đại Lộ Biện (Mahāpanthaka);
Những vị này ở trong Phẩm Tám Kệ, có hai mươi bốn bài kệ.