- Theragāthā 6.9
- Chakkanipāta
- Paṭhamavagga
Purohitaputtajentattheragāthā
“Jātimadena mattohaṁ, bhogaissariyena ca; Saṇṭhānavaṇṇarūpena, madamatto acārihaṁ.
Bản dịch
Purohitaputtajentattheragāthā
BJT 423“Tôi bị đắm say với sự kiêu hãnh về dòng dõi, về của cải và về uy quyền. Tôi đã sống, bị đắm say với sự kiêu hãnh về màu da và dáng vóc của thân hình.
BJT 424Bị hủy hoại bởi sự ngã mạn quá lố, ngu dốt, bướng bỉnh, có ngọn cờ (ngã mạn) đã được dương lên, tôi đã nghĩ rằng không có cái gì bằng và hơn được bản thân tôi.
BJT 425Bướng bỉnh vì ngã mạn, không có sự tôn trọng, tôi đã không đảnh lễ bất cứ người nào, dầu là mẹ, và cha, luôn cả những người khác được xem là đáng tôn kính.
BJT 426Sau khi nhìn thấy đấng Hướng Đạo cao cả, bậc Điều Ngự cao quý tối thượng, tựa như mặt trời đang chói sáng, được Hội Chúng tỳ khưu tôn vinh.
BJT 427Sau khi quăng bỏ ngã mạn và kiêu hãnh, với tâm ý vô cùng tịnh tín, tôi đã đê đầu đảnh lễ bậc Tối Thượng của tất cả chúng sanh.
BJT 428Sự ngã mạn quá lố và sự khinh miệt đã được dứt bỏ, đã khéo được xóa sạch, bản ngã ‘tôi là’ đã được trừ tuyệt, tất cả ngã mạn các loại đã được tiêu diệt.”
Đại đức trưởng lão Jenta đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Jenta.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Jātimadena mattohaṁ, bhogaissariyena ca; Saṇṭhānavaṇṇarūpena, madamatto acārihaṁ.
I was drunk with the pride of birth and wealth and authority. I wandered about intoxicated with my own gorgeous body.
“Ta đã say sưa với ngã mạn dòng dõi, và với của cải, quyền lực; Với hình dáng, màu da, và sắc đẹp, ta đã đi lại trong cơn say ngã mạn.”
Nāttano samakaṁ kañci, atirekaṁ ca maññisaṁ; Atimānahato bālo, patthaddho ussitaddhajo.
No one was my equal or my better—or so I thought. I was such an arrogant fool, stuck up, waving my own flag.
“Ta đã không nghĩ rằng có ai bằng mình, hay hơn mình; Kẻ ngu bị ngã mạn quá mức tàn phá, cứng ngắc, dựng cờ ngã mạn.”
Mātaraṁ pitarañcāpi, aññepi garusammate; Na kañci abhivādesiṁ, mānatthaddho anādaro.
I never paid homage to anyone: not even my mother or father, nor others esteemed as respectable. I was stiff with pride, lacking regard for others.
“Ta, với tâm kiêu căng, cứng nhắc, và không tôn trọng, đã không đảnh lễ bất cứ ai, cả mẹ, cả cha, và những người khác được xem là bậc đáng kính.”
Disvā vināyakaṁ aggaṁ, sārathīnaṁ varuttamaṁ; Tapantamiva ādiccaṁ, bhikkhusaṅghapurakkhataṁ.
When I saw the foremost leader, the most excellent of charioteers, shining like the sun at the fore of the mendicant Saṅgha,
“Sau khi thấy bậc Đạo Sư, vị tối thượng, bậc điều ngự cao cả nhất, tỏa sáng như mặt trời, được Tăng chúng vây quanh.”
Mānaṁ madañca chaḍḍetvā, vippasannena cetasā; Sirasā abhivādesiṁ, sabbasattānamuttamaṁ.
I discarded conceit and vanity, and, with a clear and confident heart, I bowed down with my head to the supreme among all beings.
“Từ bỏ ngã mạn và sự say đắm, với tâm vô cùng trong sạch, ta đã cúi đầu đảnh lễ bậc tối thượng của tất cả chúng sanh.”
Atimāno ca omāno, pahīnā susamūhatā; Asmimāno samucchinno, sabbe mānavidhā hatā”ti.
The conceit of superiority <j>and the conceit of inferiority have been given up and eradicated. The conceit “I am” is cut off, and every kind of conceit is destroyed.
“Quá mạn và ty mạn đã được đoạn trừ, đã được nhổ bật gốc rễ. Ngã mạn ‘ta là’ đã được cắt đứt hoàn toàn, tất cả các loại mạn đã bị tiêu diệt.”
… Jento purohitaputto thero ….
… Trưởng lão Jenta, con trai của vị giáo sĩ….