- Theragāthā 4.2
- Catukkanipāta
- Paṭhamavagga
Bhaguttheragāthā
“Ahaṁ middhena pakato, vihārā upanikkhamiṁ; Caṅkamaṁ abhiruhanto, tattheva papatiṁ chamā.
Bản dịch
Bhaguttheragāthā
BJT 271“Bị tác động bởi cơn buồn ngủ, tôi đã đi ra khỏi trú xá. Trong khi đang bước lên đường kinh hành, ngay tại chỗ ấy, tôi đã bị ngã trên mặt đất.
BJT 272Sau khi phủi khắp tay chân, rồi lại bước lên đường kinh hành, tôi đã đi kinh hành ở đường kinh hành, tôi đây đã khéo được định tĩnh nội tâm.
BJT 273Do đó, sự tác ý theo đúng đường lối đã khởi lên ở tôi, điều bất lợi đã hiện rõ, sự nhàm chán đã được thiết lập.
BJT 274Do đó, tâm của tôi đã được giải thoát; hãy nhìn xem bản chất tốt đẹp của Giáo Pháp. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Đại đức trưởng lão Bhagu đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Bhagu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Ahaṁ middhena pakato, vihārā upanikkhamiṁ; Caṅkamaṁ abhiruhanto, tattheva papatiṁ chamā.
Overwhelmed by drowsiness, I left my dwelling. Stepping up to the path for walking meditation, I fell to the ground right there.
“Ta, bị hôn trầm tấn công, đã đi ra khỏi tịnh xá; khi đang bước lên đường kinh hành, ta đã ngã xuống đất ngay tại đó.”
Gattāni parimajjitvā, punapāruyha caṅkamaṁ; Caṅkame caṅkamiṁ sohaṁ, ajjhattaṁ susamāhito.
I rubbed my limbs, and again I stepped up on the path for walking meditation. I walked meditation up and down the path, serene inside myself.
“Sau khi phủi sạch thân mình, ta lại bước lên đường kinh hành; ta đã kinh hành trên đường kinh hành, với nội tâm được định tĩnh tốt đẹp.”
Tato me manasīkāro, yoniso udapajjatha; Ādīnavo pāturahu, nibbidā samatiṭṭhatha.
Then the realization came upon me—the danger became clear, and I grew firmly disillusioned.
“Do đó, sự tác ý như lý đã khởi lên trong ta; sự nguy hại đã hiện rõ, sự nhàm chán đã được thiết lập vững chắc.”
Tato cittaṁ vimucci me, passa dhammasudhammataṁ; Tisso vijjā anuppattā, kataṁ buddhassa sāsanan”ti.
… Bhagutthero ….
Then my mind was freed—behold the clear rightness of the teaching! I’ve attained the three knowledges, and fulfilled the Buddha’s instructions.
“Sau đó, tâm của ta được giải thoát. Hãy xem sự tốt đẹp của Chánh Pháp! Ba minh đã được ta chứng đắc, giáo huấn của Đức Phật đã được thực hành.”