- Theragāthā 4.11
- Catukkanipāta
- Paṭhamavagga
Sappakattheragāthā
“Yadā balākā sucipaṇḍaracchadā, Kāḷassa meghassa bhayena tajjitā; Palehiti ālayamālayesinī, Tadā nadī ajakaraṇī rameti maṁ.
Bản dịch
Sappakattheragāthā
BJT 307“Vào lúc con hạc có cặp cánh trắng trong sạch, bị hoảng hốt vì nỗi sợ hãi đối với đám mây đen, bay về tổ, có sự mong mỏi chỗ trú ngụ, khi ấy con sông Ajakaraṇī khiến tôi thích thú.
BJT 308Vào lúc con hạc màu trắng vô cùng sạch sẽ, bị hoảng hốt vì nỗi sợ hãi đối với đám mây đen, tìm kiếm chỗ ẩn náu, không nhìn thấy chỗ ẩn náu, khi ấy con sông Ajakaraṇī khiến tôi thích thú.
BJT 309Ở nơi ấy, những cây mận đỏ hai bên bờ sông khiến cho người nào mà không thích thú? Chúng làm rạng rỡ bờ sông ở phía sau chỗ ngụ của tôi.
BJT 310Khéo bỏ rơi được bầy rắn, những con ếch có giọng tốt kêu inh ỏi rằng: ‘Hôm nay, không phải là lúc sống xa các dòng sông của những ngọn núi. Sông Ajakaraṇī là an toàn, yên lành, vô cùng thích thú.’”
Đại đức trưởng lão Sappaka đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Sappaka.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Yadā balākā sucipaṇḍaracchadā, Kāḷassa meghassa bhayena tajjitā; Palehiti ālayamālayesinī, Tadā nadī ajakaraṇī rameti maṁ.
When the crane with its beautiful white wings, startled by fear of the dark cloud, flees, seeking shelter—then the River Ajakaraṇī delights me.
“Khi đàn diệc trắng, cánh trắng tinh khôi, bị mây đen dọa dẫm, kinh hoàng; tìm về tổ ấm, chúng bay lượn về, khi ấy sông Ajakaraṇī làm ta vui thích.”
Yadā balākā suvisuddhapaṇḍarā, Kāḷassa meghassa bhayena tajjitā; Pariyesati leṇamaleṇadassinī, Tadā nadī ajakaraṇī rameti maṁ.
When the crane, so very pure and white, startled by fear of the dark rcloud, seeks a cave to shelter in, but can’t see one—then the River Ajakaraṇī delights me.
“Khi đàn diệc trắng, trắng ngần tinh khôi, bị mây đen dọa dẫm, kinh hoàng; không thấy nơi trú, tìm nơi ẩn mình, khi ấy sông Ajakaraṇī làm ta vui thích.”
Kaṁ nu tattha na ramenti, jambuyo ubhato tahiṁ; Sobhenti āpagākūlaṁ, mama leṇassa pacchato.
Who wouldn’t be delighted by the black plum trees that grace both banks of the river, there, behind my cave?
“Ở nơi ấy, ai mà không vui thích? Những cây trâm ở cả hai bên bờ, làm đẹp cho bờ sông, ở phía sau hang động của ta.”
Tāmatamadasaṅghasuppahīnā, Bhekā mandavatī panādayanti; ‘Nājja girinadīhi vippavāsasamayo, Khemā ajakaraṇī sivā surammā’”ti.
Well rid of the pack of jackals, <j>mad for the dead, the lazy frogs croak: “Today is no time to stray from mountain streams; Ajakaraṇī is safe, pleasant, and delightful.”
“Những con ếch kia, đã thoát khỏi bầy rắn độc, cất lên tiếng kêu êm dịu. ‘Hôm nay không phải là lúc xa rời các dòng sông trên núi. Sông Ajakaraṇī an ổn, an lành, và rất đáng vui thích.’”
… Sappako thero ….
... Trưởng lão Sappako...