- Theragāthā 16.6
- Vīsatinipāta
- Paṭhamavagga
Selattheragāthā
“Paripuṇṇakāyo suruci, Sujāto cārudassano; Suvaṇṇavaṇṇosi bhagavā, Susukkadāṭhosi vīriyavā.
Bản dịch
Selattheragāthā
BJT 818“‘Bạch Thế Tôn, ngài có thân hình vẹn toàn, có ánh sáng rực rỡ, được thiện sanh, có vẻ đáng mến, có màu da như vàng, có răng trắng tinh, có sự tinh tấn.
BJT 819Bởi vì những đặc điểm nào hiện hữu ở người được thiện sanh, tất cả các đặc điểm ấy, những tướng trạng của bậc đại nhân, đều có ở thân thể của Ngài.
BJT 820Ngài có cặp mắt trong sáng, khuôn mặt đầy đặn, cao to, đứng ngay thẳng, oai vệ; ở giữa hội chúng Sa-môn, Ngài chói sáng tựa như mặt trời.
BJT 821Là vị tỳ khưu có vóc dáng đẹp đẽ, có làn da giống như vàng, có màu da tối thượng như vậy, Ngài cần gì với bản thể Sa-môn?
BJT 822Ngài xứng đáng để trở thành vị vua, đấng Chuyển Luân, người xa phu xuất sắc, bậc có sự chiến thắng khắp bốn phương, chúa tể của Jambusaṇḍa.
BJT 823Các vị Sát-đế-lỵ, các tộc trưởng, các vị vua đều phục tùng ngài; ngài là vị vua đứng đầu các vị vua, là chúa của loài người. Thưa ngài Gotama, xin ngài hãy cai trị vương quốc.’
(Đức Thế Tôn nói với Sela:)
BJT 824‘Này Sela, Ta là đức vua, đấng Pháp vương vô thượng. Ta chuyển vận bánh xe theo Giáo Pháp, là bánh xe không thể bị chuyển vận ngược lại.’
(Vị Bà-la-môn Sela nói rằng:)
BJT 825‘Ngài tự xưng là bậc Toàn Giác, đấng Pháp vương vô thượng. Thưa ngài Gotama, Ngài nói rằng:—Ngài chuyển vận bánh xe theo Giáo Pháp.
BJT 826Vậy vị nào là tướng quân của ngài, là đệ tử tiếp nối bậc Đạo Sư? Vị nào tiếp tục vận chuyển cho Ngài bánh xe Pháp đã được chuyển vận này?
(Đức Thế Tôn nói với Sela:)
BJT 827‘Bánh xe đã được Ta chuyển vận là bánh xe Pháp vô thượng, Sāriputta, kế thừa đức Như Lai, tiếp tục vận chuyển.
BJT 828Điều cần biết rõ đã được biết rõ, việc cần tu tập đã được tu tập, cái cần dứt bỏ đã được Ta dứt bỏ; này Bà-la-môn, vì thế Ta là đức Phật.
BJT 829Này Bà-la-môn, ngươi hãy dẹp bỏ sự hoài nghi về Ta, ngươi hãy xác quyết; việc gặp gỡ các bậc Toàn Giác thường xuyên là điều khó đạt được.
BJT 830Quả vậy, việc tái xuất hiện ở thế gian của những vị này là điều khó đạt được. Này Bà-la-môn, Ta đây là bậc Toàn Giác, phẫu thuật gia vô thượng.
BJT 831Ta có tư cách Phạm Thiên, không thể so sánh, người có sự tiêu diệt các đạo binh của Ma Vương, sau khi chế ngự tất cả đối thủ, Ta hân hoan, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.’
BJT 833Người nào, cho dầu là kẻ có dòng dõi thấp kém, sau khi nhìn thấy bậc có tư cách Phạm Thiên, không thể so sánh, người có sự tiêu diệt các đạo binh của Ma Vương, mà không tịnh tín?
BJT 834Ai là người muốn theo ta, hoặc ai không muốn thì hãy đi đi. Tại đây, ta sẽ xuất gia trong sự chứng minh của bậc có trí tuệ cao quý.’
BJT 835‘Nếu Giáo Pháp này của đấng Chánh Đẳng Giác được thích thú đối với ngài, chúng tôi cũng sẽ xuất gia trong sự chứng minh của bậc có trí tuệ cao quý.’
BJT 836Ba trăm vị Bà-la-môn này đã chắp tay thỉnh cầu: ‘Bạch đức Thế Tôn, chúng con sẽ sống Phạm hạnh trong sự hiện diện của Ngài.’
(Đức Thế Tôn nói với Sela:)
BJT 837‘Phạm hạnh đã khéo được thuyết giảng, hoàn toàn hiển nhiên, không bị chi phối bởi thời gian, việc xuất gia trong Giáo Pháp ấy không phải là vô ích đối với người đang (ra sức) học tập, không bị xao lãng.’
BJT 838‘Bạch đấng Hữu Nhãn, việc chúng con đi đến nương tựa vào Ngài đến hôm nay là ngày thứ tám. Bạch đức Thế Tôn, chúng con đã được huấn luyện trong Giáo Pháp của Ngài bảy đêm.
BJT 839Ngài là đức Phật, Ngài là bậc Đạo Sư, Ngài là bậc Hiền Trí có sự chế ngự Ma Vương, Ngài đã chặt đứt các pháp ngủ ngầm, đã được vượt qua, Ngài giúp cho loài người này vượt qua.
BJT 840Các mầm tái sanh đã được Ngài hoàn toàn vượt lên trên, các lậu hoặc đã được Ngài phá tan, tựa như con sư tử, không còn chấp thủ, sự sợ hãi và khiếp đảm đã được dứt bỏ.
BJT 841Ba trăm vị tỳ khưu này đứng yên, chắp tay. Bậc đấng Anh Hùng, xin Ngài hãy duỗi ra các bàn chân, hãy để cho các bậc long tượng đảnh lễ đấng Đạo Sư.”
Đại đức trưởng lão Sela đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Sela.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Paripuṇṇakāyo suruci, Sujāto cārudassano; Suvaṇṇavaṇṇosi bhagavā, Susukkadāṭhosi vīriyavā.
“O Blessed One, your body’s perfect, you’re radiant, handsome, lovely to behold; golden colored, with teeth so white; you’re strong.
“Thân Ngài viên mãn, quang sắc đẹp, khéo sanh, tướng mạo khả ái; Thế Tôn, Ngài có sắc da như vàng, răng nanh trắng ngần, đầy tinh tấn.
Narassa hi sujātassa, ye bhavanti viyañjanā; Sabbe te tava kāyasmiṁ, mahāpurisalakkhaṇā.
The characteristics of a handsome man, the marks of a great man, are all found on your body.
“Những tướng hảo nào có ở một người khéo sanh, tất cả những tướng đại nhân ấy đều có trên thân của Ngài.
Pasannanetto sumukho, brahā uju patāpavā; Majjhe samaṇasaṅghassa, ādiccova virocasi.
Your eyes are clear, your face is fair, you’re formidable, upright, majestic. In the midst of the Saṅgha of ascetics, you shine like the sun.
“Mắt Ngài trong sáng, mặt Ngài đẹp, thân hình to lớn, thẳng thắn, oai nghi; giữa chúng Sa-môn, Ngài tỏa sáng như mặt trời.
Kalyāṇadassano bhikkhu, kañcanasannibhattaco; Kiṁ te samaṇabhāvena, evaṁ uttamavaṇṇino.
You’re a mendicant fine to see, with skin that shines like lustrous gold. But with such excellent appearance, what do you want with the ascetic life?
“Này Tỳ-kheo có tướng mạo đẹp đẽ, da như vàng ròng; với sắc tướng tuyệt vời như vậy, thân phận Sa-môn có ích gì cho Ngài?
Rājā arahasi bhavituṁ, cakkavattī rathesabho; Cāturanto vijitāvī, jambusaṇḍassa issaro.
You’re fit to be a king, a wheel-turning monarch, chief of charioteers, victorious in the four quarters, lord of the Black Plum Tree Land.
“Ngài xứng đáng làm vua Chuyển Luân, bậc tối thượng trong các chiến sĩ xa, chinh phục bốn phương, làm chủ cõi Diêm-phù-đề.
Khattiyā bhogī rājāno, anuyantā bhavanti te; Rājābhirājā manujindo, rajjaṁ kārehi gotama”.
Aristocrats, nobles, and kings ought follow your rule. Gotama, may you reign as king of kings, lord of mankind!”
“Các vua chúa Sát-đế-lỵ, các vị vua chư hầu hãy trở thành tùy tùng của Ngài. Này Gotama, hãy trị vì vương quốc, là vua của các vua, là chúa tể của loài người.”
“Rājāhamasmi sela, (selāti bhagavā) Dhammarājā anuttaro; Dhammena cakkaṁ vattemi, Cakkaṁ appaṭivattiyaṁ”.
“I am a king, Sela”, said the Buddha to Sela, “the supreme king of the teaching. By the teaching I roll forth the wheel which cannot be rolled back.”
Này Sela, Ta là vua, (Thế Tôn phán) là Pháp vương vô thượng; Ta chuyển vận bánh xe bằng Chánh pháp, bánh xe không thể bị ai xoay chuyển ngược lại.
“Sambuddho paṭijānāsi, (iti selo brāhmaṇo) Dhammarājā anuttaro; ‘Dhammena cakkaṁ vattemi’, Iti bhāsatha gotama.
“You claim to be awakened,” said Sela the brahmin, “the supreme king of the teaching. ‘I roll forth the teaching’: so you say, Gotama.
Ngài tự nhận là bậc Chánh Đẳng Giác, (bà-la-môn Sela thưa) là Pháp vương vô thượng; 'Ta chuyển vận bánh xe bằng Chánh pháp', hỡi Gotama, Ngài đã nói như vậy.
Ko nu senāpati bhoto, sāvako satthuranvayo; Ko tetamanuvatteti, dhammacakkaṁ pavattitaṁ”.
Then who is your general, the disciple who follows the Teacher’s way? Who keeps rolling the wheel of the teaching you rolled forth?”
Ai là vị tướng quân của Ngài, vị đệ tử đi theo sau bậc Đạo Sư? Ai là người tiếp tục chuyển vận bánh xe Pháp đã được Ngài khởi động?
“Mayā pavattitaṁ cakkaṁ, (selāti bhagavā) Dhammacakkaṁ anuttaraṁ; Sāriputto anuvatteti, Anujāto tathāgataṁ.
“By me the wheel was rolled forth,” said the Buddha, “the supreme wheel of the teaching. Sāriputta, taking after the Realized One, keeps it rolling on.
Này Sela, bánh xe đã được Ta chuyển vận, (Thế Tôn phán) bánh xe Pháp vô thượng; Sāriputta tiếp tục chuyển vận, người con sinh ra sau Như Lai.
Abhiññeyyaṁ abhiññātaṁ, bhāvetabbañca bhāvitaṁ; Pahātabbaṁ pahīnaṁ me, tasmā buddhosmi brāhmaṇa.
I have known what should be known, and developed what should be developed, and given up what should be given up: and so, brahmin, I am a Buddha.
Điều cần thắng tri, Ta đã thắng tri; điều cần tu tập, Ta đã tu tập; điều cần đoạn tận, Ta đã đoạn tận. Vì thế, này Bà-la-môn, Ta là Phật.
Vinayassu mayi kaṅkhaṁ, adhimuccassu brāhmaṇa; Dullabhaṁ dassanaṁ hoti, sambuddhānaṁ abhiṇhaso.
Dispel your doubt in me—make up your mind, brahmin! The sight of a Buddha is hard to find again.
Hãy xua tan nghi ngờ nơi Ta, hãy tin tưởng, này Bà-la-môn; việc được diện kiến các bậc Chánh Đẳng Giác thường là điều hy hữu.
Yesaṁ ve dullabho loke, pātubhāvo abhiṇhaso; Sohaṁ brāhmaṇa buddhosmi, sallakatto anuttaro.
I am a Buddha, brahmin, the supreme surgeon, one of those whose appearance in the world is hard to find again.
Sự xuất hiện của những vị ấy ở thế gian thường là điều hy hữu; Ta chính là vị Chánh Đẳng Giác đó, này Bà-la-môn, người nhổ mũi tên, bậc vô thượng.
Brahmabhūto atitulo, mārasenappamaddano; Sabbāmitte vase katvā, modāmi akutobhayo”.
A manifestation of divinity, unequaled, crusher of Māra’s army; having subdued all my opponents, I rejoice, fearing nothing from any quarter.”
Trở thành Phạm thiên, không ai sánh bằng, người nhiếp phục quân ma; đã chế ngự tất cả kẻ thù, Ta hoan hỷ, không còn sợ hãi từ đâu.
“Idaṁ bhonto nisāmetha, yathā bhāsati cakkhumā; Sallakatto mahāvīro, sīhova nadatī vane.
“Pay heed, sirs, to what is spoken by the Clear-eyed One. The surgeon, the great hero, roars like a lion in the jungle.
Này các vị, hãy lắng nghe điều này, như bậc hữu nhãn đang nói; bậc nhổ mũi tên, bậc đại hùng, đang rống lên như sư tử trong rừng.
Brahmabhūtaṁ atitulaṁ, mārasenappamaddanaṁ; Ko disvā nappasīdeyya, api kaṇhābhijātiko.
A manifestation of divinity, unequaled, crusher of Māra’s army; who would not be inspired by him, even one born in a dark class?
Bậc đã trở thành Phạm thiên, không ai sánh bằng, người nhiếp phục quân ma; ai thấy Ngài mà không tịnh tín, dù cho người ấy thuộc dòng dõi thấp hèn?
Yo maṁ icchati anvetu, yo vā nicchati gacchatu; Idhāhaṁ pabbajissāmi, varapaññassa santike”.
Those who wish may follow me; those who don’t may go. Right here, I’ll go forth in his presence, the one of such outstanding wisdom.”
Ai muốn hãy theo ta, ai không muốn thì hãy đi; ở đây, ta sẽ xuất gia, dưới sự hiện diện của bậc trí tuệ tối thắng.
“Etañce ruccati bhoto, sammāsambuddhasāsanaṁ; Mayampi pabbajissāma, varapaññassa santike”.
“Sir, if you endorse the teaching of the Buddha, we’ll also go forth in his presence, the one of such outstanding wisdom.”
Nếu tâm của tôn giả hoan hỷ như vậy trong giáo pháp của bậc Chánh Đẳng Giác, chúng con cũng sẽ xuất gia, dưới sự hiện diện của bậc trí tuệ tối thắng.
“Brāhmaṇā tisatā ime, yācanti pañjalīkatā; ‘Brahmacariyaṁ carissāma, bhagavā tava santike’”.
“These three hundred brahmins with cupped palms held up, ask: ‘May we lead the spiritual life in your presence, Blessed One?’”
Bạch Thế Tôn, ba trăm vị Bà-la-môn này đang chắp tay thỉnh cầu; chúng con sẽ thực hành phạm hạnh dưới sự hiện diện của Ngài.
“Svākkhātaṁ brahmacariyaṁ, (selāti bhagavā) Sandiṭṭhikamakālikaṁ; Yattha amoghā pabbajjā, Appamattassa sikkhato”.
“The spiritual life is well explained,” said the Buddha, “apparent in the present life, immediately effective. Here the going forth isn’t in vain for one who trains with diligence.”
Phạm hạnh đã được khéo thuyết giảng, (Thế Tôn phán cùng Sela) thiết thực hiện tại, không có thời gian; nơi đó, sự xuất gia không luống uổng đối với người không dể duôi tu học.
“Yaṁ taṁ saraṇamāgamha, ito aṭṭhame cakkhuma; Sattarattena bhagavā, dantāmha tava sāsane.
“This is the eighth day since we went for refuge, O Clear-eyed One. In these seven days, Blessed One, we’ve become tamed in your teaching.
Bạch bậc hữu nhãn, chúng con đã quy y Ngài tám ngày trước; bạch Thế Tôn, trong bảy đêm, chúng con đã được điều phục trong giáo pháp của Ngài.
Tuvaṁ buddho tuvaṁ satthā, tuvaṁ mārābhibhū muni; Tuvaṁ anusaye chetvā, tiṇṇo tāresimaṁ pajaṁ.
You are the Buddha, you are the Teacher, you are the sage who has overcome Māra; you have cut off the underlying tendencies, you’ve crossed over, and you bring humanity across.
Ngài là Phật, Ngài là Đạo Sư, Ngài là bậc Mâu-ni chiến thắng Ma vương; Ngài đã cắt đứt các tùy miên, đã vượt qua và giúp chúng sanh này vượt qua.
Upadhī te samatikkantā, āsavā te padālitā; Sīhova anupādāno, pahīnabhayabheravo.
You have transcended attachments, your defilements are shattered; like a lion free of grasping, with fear and dread given up.
Ngài đã vượt qua các sanh y, các lậu hoặc của Ngài đã bị phá tan; Ngài như sư tử, không còn chấp thủ, đã đoạn trừ sợ hãi và kinh hoàng.
Bhikkhavo tisatā ime, tiṭṭhanti pañjalīkatā; Pāde vīra pasārehi, nāgā vandantu satthuno”ti.
… Selo thero ….
These three hundred mendicants stand with cupped palms raised. Stretch out your feet, great hero: let these giants bow to the Teacher.”
Ba trăm vị Tỳ-khưu này đang đứng chắp tay; xin bậc Đại hùng hãy duỗi chân ra, để các bậc Long tượng đảnh lễ Đạo Sư.