- Theragāthā 16.3
- Vīsatinipāta
- Paṭhamavagga
Telakānittheragāthā
“Cirarattaṁ vatātāpī, dhammaṁ anuvicintayaṁ; Samaṁ cittassa nālatthaṁ, pucchaṁ samaṇabrāhmaṇe.
‘Ko so pāraṅgato loke, ko patto amatogadhaṁ; Kassa dhammaṁ paṭicchāmi, paramatthavijānanaṁ’.
Bản dịch
Telakānittheragāthā
BJT 747“Quả thật, có sự tinh cần một thời gian dài, trong khi suy tư về Giáo Pháp, trong khi học hỏi các vị Sa-môn và Bà-la-môn, tôi đã không đạt được sự bình lặng của tâm.
BJT 748Ở thế gian, ai là người đã đi đến bờ kia? Ai đã đạt được sự thể nhập vào Bất Tử? Giáo Pháp tuyên bố về mục đích tối hậu của vị nào mà tôi chấp nhận?
BJT 749Tôi đã bị vướng lưỡi câu ở bên trong, tựa như con cá ăn miếng mồi, giống như A-tu-la Vepacitti bị vướng bẫy sập của vị thần Inda vĩ đại.
BJT 750Tôi kéo theo cái ấy, tôi không được thoát khỏi sự sầu muộn và than vãn này. Người nào, trong khi cởi ra sự trói buộc cho tôi, sẽ giúp cho tôi hiểu được sự giác ngộ ở thế gian?
BJT 751Vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào đang chỉ ra sự phá vỡ (các phiền não), Giáo Pháp có sự xua đi già và chết của vị nào mà tôi chấp nhận?
BJT 752Mũi tên tham ái, bị cột trói chung với sự phân vân và nghi hoặc, bị gắn liền với sức mạnh của sự tự cao, bị cố chấp khi tâm đạt đến sự phẫn nộ.
BJT 753Được phát xuất từ cây cung tham ái, và được kết nối với hai lần mười lăm (ba mươi tà kiến), ngươi hãy nhìn xem nó đã chẻ ra lồng ngực chắc chắn, rồi đứng yên.
BJT 754Việc không từ bỏ các tà kiến phụ thuộc đã được thúc đẩy bởi sự suy tư và ký ức. Bị xuyên thủng bởi nó (mũi tên tà kiến), tôi run rẩy, tựa như chiếc lá bị lay động bởi làn gió.
BJT 755Sau khi sanh khởi ở nội tâm của tôi, bản ngã tức thời được nung nấu. Cái thân thể với sáu xúc xứ là nơi (bản ngã) phát xuất vào mọi lúc.
BJT 756Tôi không nhìn thấy người thầy thuốc nào có thể nhổ lên mũi tên ấy cho tôi bằng vật dụng các loại, không có dao mổ và dụng cụ khác, là điều còn hoài nghi.
BJT 758Chính bậc Pháp Chủ hàng đầu ấy, người lấy đi sự tác hại của chất độc, có thể giúp cho tôi nhìn thấy mặt đất (Niết Bàn) và bàn tay (Thánh Đạo) khi tôi đã bị rơi vào vực sâu.
BJT 759Tôi bị chìm sâu trong hồ chứa bụi bặm và bùn lầy ứ đọng, bị bao trùm bởi sự xảo trá, ganh tỵ, tự cao, và dã dượi buồn ngủ.
BJT 760Sấm sét từ đám mây phóng dật, đám mây của (mười) sự ràng buộc, các suy tư phụ thuộc vào luyến ái là các dòng chảy cuốn trôi kẻ có tà kiến xấu xa.
BJT 761Các dòng nước chảy tràn khắp mọi nơi, loài dây leo đâm chồi và tồn tại, ai có thể ngăn chặn các dòng nước ấy, ai sẽ chặt đứt loài dây leo ấy?
BJT 762Thưa ngài đại đức, ngài hãy tạo ra vòng đai ngăn chặn các dòng nước, chớ để dòng nước do tâm tạo nhấn chìm ngài một cách tàn bạo, tựa như khúc cây.
BJT 763Tương tự như vậy, đối với tôi, kẻ đã khởi sanh nỗi sợ hãi, từ bờ bên này đang tìm kiếm bờ kia, thì bậc Đạo Sư, được tập thể các vị ẩn sĩ tháp tùng, có vũ khí trí tuệ, là chốn nương tựa của tôi.
BJT 764Trong lúc tôi đang bị cuốn trôi, Ngài đã trao cho tôi chiếc thang đã khéo được thực hiện, trong sạch, làm bằng chất tinh túy của Giáo Pháp, vững chắc, và đã nói rằng: ‘Chớ sợ hãi.’
BJT 765Sau khi leo lên tòa lâu đài của sự thiết lập niệm, tôi đã quán xét lại về điều mà tôi đã quan niệm trước đây, là loài người thích thú với bản thân của mình.
BJT 766Và từ khi tôi đã nhìn thấy Đạo Lộ có sự đưa lên con thuyền, tôi đã không chăm chú về bản thân, và tôi đã nhìn thấy bến tàu tối thượng.
BJT 767Mũi tên có nguồn phát xuất ở tự ngã, đã sản sanh ra lối dẫn đến hiện hữu; Ngài đã thuyết giảng Đạo Lộ tối thượng đưa đến sự ngưng vận hành của những việc này.
BJT 768Đức Phật, với việc lấy đi sự tác hại của chất độc, đã cởi bỏ cho tôi mối buộc thắt đã được tiềm ẩn thời gian dài, đã được tồn tại thời gian lâu.”
Đại đức trưởng lão Telakāni đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Telakāni.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Cirarattaṁ vatātāpī, dhammaṁ anuvicintayaṁ; Samaṁ cittassa nālatthaṁ, pucchaṁ samaṇabrāhmaṇe.
‘Ko so pāraṅgato loke, ko patto amatogadhaṁ; Kassa dhammaṁ paṭicchāmi, paramatthavijānanaṁ’.
For a long time, sadly, though I keenly contemplated the teaching, I gained no peace of mind. So I asked this of ascetics and brahmins:
“Who in the world have crossed over? Whose attainment has freedom from death <j>as its objective? Whose teaching do I accept to understand the ultimate goal?
“‘Ai là người đã đến bờ kia trong thế gian? Ai đã đạt đến sự chứng ngộ Bất Tử? Ta nên thọ nhận Pháp của ai, để biết được chân nghĩa tối thượng?’”
Antovaṅkagato āsi, macchova ghasamāmisaṁ; Baddho mahindapāsena, vepacityasuro yathā.
I was hooked inside, like a fish gulping bait; bound like the titan Vepaciti in Mahinda’s trap.
“Ta đã bị cong vẹo ở bên trong, như con cá nuốt phải mồi; bị trói buộc bởi vòng dây của Mahinda (Đế Thích), như vị A-tu-la Vepacitti.”
Añchāmi naṁ na muñcāmi, asmā sokapariddavā; Ko me bandhaṁ muñcaṁ loke, sambodhiṁ vedayissati.
Dragging it along, I’m not free from grief and lamentation. Who will free me from bonds in the world, so that I may know awakening?
“Ta kéo nó nhưng không thể thoát khỏi sầu bi này. Ai trong thế gian này, có thể cởi trói cho ta, và tuyên thuyết về sự giác ngộ hoàn toàn?”
Samaṇaṁ brāhmaṇaṁ vā kaṁ, ādisantaṁ pabhaṅgunaṁ; Kassa dhammaṁ paṭicchāmi, jarāmaccupavāhanaṁ.
What ascetic or brahmin points out what is frail? Whose teaching do I accept to rinse off old age and death?
“Vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, có thể chỉ dạy (pháp) hủy diệt (phiền não)? Ta nên thọ nhận Pháp của ai, pháp có thể loại trừ già và chết?”
Vicikicchākaṅkhāganthitaṁ, sārambhabalasaññutaṁ; Kodhappattamanatthaddhaṁ, abhijappappadāraṇaṁ.
Tied up with uncertainty and doubt, secured by the power of aggression, stiff as a mind beset by anger; the arrow of covetousness,
“(Mũi tên) bị thắt nút bởi nghi hoặc và do dự, kết hợp với sức mạnh của sự tranh cạnh; bị chi phối bởi sân hận, tâm trở nên cứng nhắc, bị xé nát bởi tham ái.”
Taṇhādhanusamuṭṭhānaṁ, dve ca pannarasāyutaṁ; Passa orasikaṁ bāḷhaṁ, bhetvāna yadi tiṭṭhati.
propelled by the bow of craving, is stuck in my twice-fifteen ribcage—see how it stands in my breast, breaking my strong heart.
“Phát sinh từ cây cung ái dục, gồm hai và mười lăm loại; hãy xem mũi tên mạnh mẽ ở trong ngực, nó đứng yên sau khi đã xuyên thủng.”
Anudiṭṭhīnaṁ appahānaṁ, saṅkappaparatejitaṁ; Tena viddho pavedhāmi, pattaṁva māluteritaṁ.
Theories are not abandoned, they are sharpened by memories and intentions; and pierced by this I tremble, like a leaf blowing in the gale.
“(Mũi tên) là sự không đoạn trừ các tà kiến phụ thuộc, được mài sắc bởi các tư duy (sai lầm) của người khác; bị nó đâm trúng, ta run rẩy, như chiếc lá bị gió thổi.”
Ajjhattaṁ me samuṭṭhāya, khippaṁ paccati māmakaṁ; Chaphassāyatanī kāyo, yattha sarati sabbadā.
Having arisen within, what belongs to me burns quickly, in that place where the body always heads with its six sense-fields of contact.
“Phát sinh từ bên trong ta, cái ‘của ta’ nhanh chóng bị thiêu đốt; thân này với sáu xứ xúc, nơi mà (ái dục) luôn luôn vận hành.”
Taṁ na passāmi tekicchaṁ, yo metaṁ sallamuddhare; Nānārajjena satthena, nāññena vicikicchitaṁ.
I don’t see a healer who can pull out my dart of doubt without a lance or some other blade.
“Ta không thấy vị thầy thuốc nào có thể nhổ mũi tên này ra cho ta; không phải bằng các loại dây, bằng dao, hay bằng phương cách nào khác đối với (mũi tên) nghi hoặc này.”
Ko me asattho avaṇo, Sallamabbhantarapassayaṁ; Ahiṁsaṁ sabbagattāni, Sallaṁ me uddharissati.
Without knife or wound, who will pull out this dart that’s stuck inside me, without harming any part of my body?
“Ai sẽ nhổ ra cho ta mũi tên này, mà không cần dao, không gây thương tích, không làm tổn hại đến toàn thân, mũi tên đang nằm sâu bên trong?”
Dhammappati hi so seṭṭho, visadosappavāhako; Gambhīre patitassa me, thalaṁ pāṇiñca dassaye.
He really would be the Lord of the Dhamma, the best one to cure the damage of poison; when I have fallen into deep waters, he would show me his hand and the shore.
“Vị ấy quả là bậc tối thắng, là chủ của Pháp, người có thể tẩy sạch nọc độc (phiền não). Đối với ta, người đã rơi vào vực sâu, xin Ngài hãy chỉ cho vùng đất khô và bàn tay (cứu vớt).”
Rahadehamasmi ogāḷho, ahāriyarajamattike; Māyāusūyasārambha, thinamiddhamapatthaṭe.
I’ve plunged into a lake, and I can’t wash off the mud and dirt. It’s full of deceit, jealousy, aggression, and dullness and drowsiness.
“Ta đã chìm sâu trong hồ nước, với bùn và bụi không thể tẩy sạch; bị bao phủ bởi xảo trá, ganh tỵ, tranh cạnh, hôn trầm và thụy miên.”
Uddhaccameghathanitaṁ, saṁyojanavalāhakaṁ; Vāhā vahanti kuddiṭṭhiṁ, saṅkappā rāganissitā.
Like a thundering cloud of restlessness, like a stormcloud of fetters; lustful thoughts are winds that sweep off a person with bad views.
“Với tiếng sấm của đám mây trạo cử, với đám mây mưa là các kiết sử; những dòng nước (tư duy) dựa vào tham ái cuốn trôi kẻ có tà kiến.”
Savanti sabbadhi sotā, latā ubbhijja tiṭṭhati; Te sote ko nivāreyya, taṁ lataṁ ko hi checchati.
The streams flow everywhere; a weed springs up and remains. Who will block the streams? Who will cut the weed?”
“Các dòng chảy tuôn khắp nơi, dây leo mọc lên và đứng vững. Ai có thể ngăn chặn những dòng chảy ấy? Ai sẽ chặt đứt dây leo ấy?”
Velaṁ karotha bhaddante, sotānaṁ sannivāraṇaṁ; Mā te manomayo soto, rukkhaṁva sahasā luve.
“Venerable sir, build a dam to block the streams. Don’t let your mind-made streams cut you down suddenly like a tree.”
“Thưa các ngài, xin hãy xây một con đê, để ngăn chặn các dòng chảy. Mong rằng dòng chảy từ tâm sinh ra, sẽ không bất ngờ đốn ngã các ngài như một cái cây.”
Evaṁ me bhayajātassa, apārā pāramesato; Tāṇo paññāvudho satthā, isisaṅghanisevito.
That is how, when I was full of fear, seeking the far shore from the near, my shelter was the Teacher whose weapon is wisdom, frequented by the Saṅgha of seers.
“Như vậy, đối với ta, người đang sợ hãi, đang tìm kiếm bờ kia từ bờ này, đã có một nơi nương tựa: Bậc Đạo Sư với vũ khí trí tuệ, được chúng Thánh Tăng phụng sự.”
Sopāṇaṁ sugataṁ suddhaṁ, dhammasāramayaṁ daḷhaṁ; Pādāsi vuyhamānassa, ‘mā bhāyī’ti ca mabravi.
As I was being swept away, he gave me a strong, simple ladder, made of the heartwood of Dhamma, and he said to me: “Do not fear.”
“Ngài đã ban cho ta, người đang bị cuốn trôi, một chiếc thang được làm khéo léo, trong sạch, vững chắc, làm bằng cốt tủy của Pháp, và Ngài nói với ta: ‘Đừng sợ hãi’.”
Satipaṭṭhānapāsādaṁ, āruyha paccavekkhisaṁ; Yaṁ taṁ pubbe amaññissaṁ, sakkāyābhirataṁ pajaṁ.
I climbed the tower of mindfulness meditation, and checked back down at people delighting in substantial reality, as I had obsessed over in the past.
“Sau khi trèo lên lâu đài của các nền tảng chánh niệm, ta đã quán xét chúng sanh, những kẻ vui thích trong thân kiến, điều mà trước đây ta đã từng quan niệm (là thật).”
Yadā ca maggamaddakkhiṁ, nāvāya abhirūhanaṁ; Anadhiṭṭhāya attānaṁ, titthamaddakkhimuttamaṁ.
When I saw the path, as I was embarking on the ship, without fixating on the self, I saw the supreme landing-place.
“Và khi ta thấy con đường để lên thuyền, không còn chấp thủ vào một tự ngã, ta đã thấy bến đỗ tối thượng.”
Sallaṁ attasamuṭṭhānaṁ, bhavanettippabhāvitaṁ; Etesaṁ appavattāya, desesi maggamuttamaṁ.
The dart that arises in oneself, and that which stems from the leash to existence: he taught the supreme path for the canceling of these.
“Mũi tên phát sinh từ tự ngã, được tạo ra bởi (ái dục) dẫn dắt đến hữu; để những thứ này không còn tiếp diễn, Ngài đã thuyết giảng con đường tối thượng.”
Dīgharattānusayitaṁ, cirarattamadhiṭṭhitaṁ; Buddho mepānudī ganthaṁ, visadosappavāhano”ti.
For a long time it had lain within me; for a long time it was fixed in me: the Buddha cast aside the knot, curing the damage of poison.
Đức Phật, bậc đã tẩy trừ nọc độc phiền não, đã khiến cho tôi từ bỏ các triền phược, vốn đã ngủ ngầm từ lâu, đã an trú từ lâu.
… Telakāni thero ….
… Trưởng lão Telakāni [đã nói những lời này].