- Theragāthā 16.2
- Vīsatinipāta
- Paṭhamavagga
Pārāpariyattheragāthā
“Samaṇassa ahu cintā, pārāpariyassa bhikkhuno; Ekakassa nisinnassa, pavivittassa jhāyino.
Bản dịch
Pārāpariyattheragāthā
BJT 726“Vị Sa-môn tỳ khưu Pārāsariya, ngồi đơn độc một mình, sống tách ly, chứng thiền, đã khởi suy nghĩ rằng:
BJT 727‘Theo tuần tự nào, phận sự nào, sự thọ trì nào, con người có thể trở thành người thực hành bổn phận của bản thân mà không gây hại bất cứ ai?
BJT 728Các giác quan của loài người đưa đến sự lợi ích và đưa đến sự không lợi ích; không được bảo vệ thì đưa đến sự không lợi ích, và được bảo vệ thì đưa đến sự lợi ích.
BJT 729Trong khi bảo vệ các giác quan và trong khi canh phòng các giác quan như vậy, người ấy có sự thực hành bổn phận của bản thân và không gây hại bất cứ ai.
BJT 730Nếu trong khi nhãn quyền đang đi đến các sắc, người ấy, trong khi không ngăn chặn, không nhìn thấy sự tai hại, hẳn nhiên không được thoát khỏi khổ đau.
BJT 731Nếu trong khi nhĩ quyền đang đi đến các thinh, người ấy, trong khi không ngăn chặn, không nhìn thấy sự tai hại, hẳn nhiên không được thoát khỏi khổ đau.
BJT 732Người không nhìn thấy sự thoát ra, nếu hưởng thụ các mùi hương, người ấy, bị say đắm ở các hương, không được thoát khỏi khổ đau.
BJT 733Trong khi nhớ lại vị chua, phần tinh túy của vị ngọt, và phần tinh túy của vị chát, người bị cột trói vào sự tham ái ở mùi vị không hiểu được tâm.
BJT 734Trong khi nhớ lại các xúc chạm tốt đẹp, không đáng ghét, người bị luyến ái nhận chịu khổ đau nhiều loại vì lý do luyến ái.
BJT 735Và người nào không có khả năng bảo vệ tâm ý đối với các pháp này, vì thế khổ đau theo đuổi người ấy bởi vì tất cả năm loại này.
BJT 736(Thân xác) được chứa đầy mủ máu và nhiều vật ghê tởm, tựa như cái hộp xinh xắn đã được tô màu, đã được làm bởi người thợ tài hoa.
BJT 737Kẻ không biết được sự khoái lạc ở mật ngọt là gay gắt, sự trói buộc với những người yêu dấu là khổ đau, tựa như con dao cạo được liếc xuống liếc lên với mật ngọt.
BJT 738Kẻ bị mê mẩn ở sắc của người nữ, ở âm thanh của người nữ, và luôn cả ở xúc của người nữ, ở các hương của người nữ, nhận chịu khổ đau nhiều loại.
BJT 739Tất cả các dòng chảy ở người nữ, năm (cảnh ngoại) chảy tràn ở năm (giác quan). Vị ấy, có sự tinh tấn, có khả năng thực hiện việc ngăn chặn đối với chúng.
BJT 740Vị ấy có mục đích, vị ấy đứng vững trong Giáo Pháp, vị ấy khôn khéo, vị ấy sáng suốt, ngay cả trong khi vui thú, có thể thực hành phận sự liên quan đến Giáo Pháp và mục đích.
BJT 741Khi bị chìm đắm trong việc thế sự, người không xao lãng, sáng suốt, sau khi suy nghĩ rằng: ‘Việc ấy không phải là việc cần làm,’ rồi nên xa lánh việc làm không liên quan đến mục đích.
BJT 742Việc nào gắn liền với mục đích và thú vui nào đưa đến Giáo Pháp, thì nên nắm lấy việc ấy và nên vận hành, bởi vì thú vui ấy là tối thượng.
BJT 743Kẻ mong muốn thâu gom vật thuộc về những người khác bằng nhiều phương cách khác nhau, là kẻ sau khi giết hại, đả thương, rồi gây nên sầu muộn, và cưỡng đoạt bằng bạo lực vật thuộc về những người khác.
BJT 744Giống như người có sức mạnh, trong khi đục đẽo, đánh bật cái nêm ra bằng cái nêm, tương tự như thế người thiện xảo đánh bật các giác quan bằng chính các giác quan.
BJT 745Trong khi tu tập tín, tấn, định, niệm, và tuệ, sau khi tiêu diệt năm bằng năm, vị Bà-la-môn ra đi, không bị khổ sở.’
BJT 746Vị ấy có mục đích, vị ấy đứng vững ở Giáo Pháp, sau khi thực hiện toàn bộ lời giáo huấn của đức Phật bằng mọi cách thức, người ấy thành tựu sự an lạc.”
Đại đức trưởng lão Pārāsariya đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Pārāsariya.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Samaṇassa ahu cintā, pārāpariyassa bhikkhuno; Ekakassa nisinnassa, pavivittassa jhāyino.
This thought came to the ascetic, the monk Pārāsariya, as he was seated alone meditating in seclusion:
“Sa-môn, Tỳ-kheo Pārāpariya, khi đang ngồi một mình, sống viễn ly, thiền định, một suy nghĩ đã khởi lên.”
Kimānupubbaṁ puriso, kiṁ vataṁ kiṁ samācāraṁ; Attano kiccakārīssa, na ca kañci viheṭhaye.
“Following what procedure, what observance, what conduct, may a person do what they need for themselves, without harming anyone else?
“Người nam nên theo thứ tự nào, giới hạnh nào, hạnh kiểm nào, để làm tròn phận sự của mình mà không làm hại bất cứ ai.”
Indriyāni manussānaṁ, hitāya ahitāya ca; Arakkhitāni ahitāya, rakkhitāni hitāya ca.
The faculties of human beings can lead to both welfare and harm. Unguarded they lead to harm; guarded they lead to welfare.
“Các căn của con người có thể đưa đến lợi ích hoặc bất lợi; Không được phòng hộ thì đưa đến bất lợi, được phòng hộ thì đưa đến lợi ích.”
Indriyāneva sārakkhaṁ, indriyāni ca gopayaṁ; Attano kiccakārīssa, na ca kañci viheṭhaye.
By protecting the faculties, taking care of the faculties, I can do what I need for myself without harming anyone else.
“Chính là phòng hộ các căn, bảo vệ các căn, người ấy sẽ làm tròn phận sự của mình và không làm hại bất cứ ai.”
Cakkhundriyañce rūpesu, gacchantaṁ anivārayaṁ; Anādīnavadassāvī, so dukkhā na hi muccati.
If your eye wanders among sights without check, not seeing the danger, you’re not freed from suffering.
“Nếu không ngăn cản nhãn căn đang chạy theo các sắc, không thấy được sự nguy hại, vị ấy chắc chắn không thoát khỏi khổ đau.”
Sotindriyañce saddesu, gacchantaṁ anivārayaṁ; Anādīnavadassāvī, so dukkhā na hi muccati.
If your ear wanders among sounds without check, not seeing the danger, you’re not freed from suffering.
“Nếu không ngăn cản nhĩ căn đang chạy theo các tiếng, không thấy được sự nguy hại, vị ấy chắc chắn không thoát khỏi khổ đau.”
Anissaraṇadassāvī, gandhe ce paṭisevati; Na so muccati dukkhamhā, gandhesu adhimucchito.
If, not seeing the escape, you indulge in a smell, you’re not freed from suffering, being besotted by smells.
“Không thấy được lối thoát, nếu thọ dụng các mùi hương; Vị ấy không thoát khỏi khổ đau, vì say đắm trong các mùi hương.”
Ambilaṁ madhuraggañca, tittakaggamanussaraṁ; Rasataṇhāya gadhito, hadayaṁ nāvabujjhati.
Recollecting the sour, the superbly sweet and the bitter, captivated by craving for taste, you don’t understand the heart.
“Tưởng nhớ đến vị chua, vị ngọt, vị đắng cay; Bị tham ái đối với vị trói buộc, vị ấy không thể giác ngộ được tâm.”
Subhānyappaṭikūlāni, phoṭṭhabbāni anussaraṁ; Ratto rāgādhikaraṇaṁ, vividhaṁ vindate dukhaṁ.
Recollecting lovely and pleasurable touches, full of desire, you experience many kinds of suffering because of lust.
“Tưởng nhớ đến các xúc chạm tốt đẹp, không đáng ghê tởm; Bị tham ái, do tham ái làm nhân, vị ấy gặp phải nhiều loại khổ đau.”
Manaṁ cetehi dhammehi, yo na sakkoti rakkhituṁ; Tato naṁ dukkhamanveti, sabbehetehi pañcahi.
Unable to protect the mind from such thoughts, suffering follows them because of all five.
“Người nào không thể phòng hộ ý khỏi những pháp này; Khổ đau sẽ theo sau người ấy, qua tất cả năm căn môn này.”
Pubbalohitasampuṇṇaṁ, bahussa kuṇapassa ca; Naravīrakataṁ vagguṁ, samuggamiva cittitaṁ.
This body is full of pus and blood, it’s home to many carcasses; but cunning people decorate it like a lovely painted casket.
“Thân này đầy mủ và máu, và nhiều thứ tử thi; Giống như chiếc hộp đẹp đẽ, được trang trí, do người thợ khéo làm ra.”
Kaṭukaṁ madhurassādaṁ, piyanibandhanaṁ dukhaṁ; Khuraṁva madhunā littaṁ, ullihaṁ nāvabujjhati.
You don’t understand that the sweetness of honey turns bitter, and the bonds to those we love cause pain, like a razor’s edge smeared with honey.
“Vốn đắng cay mà có vị ngọt, là khổ đau nhưng ràng buộc bởi cái thương; Giống như liếm lưỡi dao phết mật, người ta không nhận ra.”
Itthirūpe itthisare, phoṭṭhabbepi ca itthiyā; Itthigandhesu sāratto, vividhaṁ vindate dukhaṁ.
Full of lust for the sight of a woman, for the voice and the smells of a woman, for a woman’s touch, you experience many kinds of suffering.
“Say đắm trong sắc của người nữ, trong tiếng của người nữ, trong xúc chạm của người nữ, và trong hương thơm của người nữ, người ấy gặp phải nhiều loại khổ đau.”
Itthisotāni sabbāni, sandanti pañca pañcasu; Tesamāvaraṇaṁ kātuṁ, yo sakkoti vīriyavā.
All of a woman’s streams flow from five to five. Whoever, being energetic, is able to curb these,
“Tất cả năm dòng chảy từ người nữ tuôn chảy vào năm căn môn. Người nào có tinh tấn, có thể tạo ra sự ngăn chặn chúng.”
So atthavā so dhammaṭṭho, so dakkho so vicakkhaṇo; Kareyya ramamānopi, kiccaṁ dhammatthasaṁhitaṁ.
purposeful and firm in principle, is clever and clear-seeing. Though he might enjoy himself, his duty is connected with the teaching and its goal.
“Người ấy là bậc trí tuệ, người ấy an trú trong Pháp, người ấy khéo léo, người ấy sáng suốt. Dù đang vui hưởng, vẫn nên làm công việc liên quan đến Pháp và lợi ích.”
Atho sīdati saññuttaṁ, vajje kiccaṁ niratthakaṁ; ‘Na taṁ kiccan’ti maññitvā, appamatto vicakkhaṇo.
One who’s diligent and discerning, thinking, ‘This ought not be done’, would avoid a useless task that’s doomed to failure.
“Hơn nữa, nếu công việc liên quan (lợi ích) bị chìm đắm, người sáng suốt, không buông lung, nên tránh công việc vô ích, sau khi nghĩ rằng: ‘Đó không phải là việc nên làm’.”
Yañca atthena saññuttaṁ, yā ca dhammagatā rati; Taṁ samādāya vattetha, sā hi ve uttamā rati.
Whatever is meaningful, and whatever happiness is principled, let one proceed having undertaken that: this is the best happiness.
“Công việc nào liên quan đến lợi ích, và sự hoan hỷ nào đi theo Chánh Pháp, hãy thọ trì và thực hành điều ấy. Quả thật, đó là sự hoan hỷ tối thượng.”
Uccāvacehupāyehi, Paresamabhijigīsati; Hantvā vadhitvā atha socayitvā, Ālopati sāhasā yo paresaṁ.
They want to get hold of what belongs to others by any means, fair or foul. They kill, injure, and torment, violently plundering what belongs to others.
“Kẻ nào bằng nhiều phương cách khác nhau, mong muốn chiếm đoạt của người khác; sau khi giết, đánh đập, rồi làm cho sầu muộn, kẻ ấy cướp bóc của người khác một cách bạo tàn.”
Tacchanto āṇiyā āṇiṁ, nihanti balavā yathā; Indriyānindriyeheva, nihanti kusalo tathā.
Just as a strong person when building knocks out a peg with a peg, so the skillful person knocks out the faculties with the faculties.
“Như người thợ mộc khỏe mạnh, dùng cái nêm này để đánh bật cái nêm kia; cũng vậy, bậc thiện xảo dùng các căn (tín, tấn, v.v.) để chế ngự các căn (mắt, tai, v.v.).”
Saddhaṁ vīriyaṁ samādhiñca, satipaññañca bhāvayaṁ; Pañca pañcahi hantvāna, anīgho yāti brāhmaṇo.
Developing faith, energy, immersion, mindfulness, and wisdom; destroying the five with the five, the brahmin walks on untroubled.
“Tu tập tín, tấn, định, niệm và tuệ; dùng năm (căn) này diệt trừ năm (căn) kia, vị Bà-la-môn không còn phiền não, đi đến (Niết-bàn).”
So atthavā so dhammaṭṭho, katvā vākyānusāsaniṁ; Sabbena sabbaṁ buddhassa, so naro sukhamedhatī”ti.
Purposeful and firm in principle, having fulfilled in every respect the instructions spoken by the Buddha, that person prospers in happiness.”
“Người ấy là bậc trí tuệ, người ấy an trú trong Pháp. Sau khi thực hành trọn vẹn lời giáo huấn của Đức Phật, người ấy làm tăng trưởng hạnh phúc.”
… Pārāpariyo thero ….
… Trưởng lão Pārāpariya…