- Theragāthā 14.1
- Cuddasakanipāta
- Paṭhamavagga
Bản dịch
THAG 14.1 — Kệ ngôn của Trưởng lão Khadiravaniyarevata
Khadiravaniyarevatattheragāthā
BJT 645“Vào lúc tôi đã xuất gia, rời nhà sống không nhà, tôi không biết đến sự suy tư không thánh thiện, gắn liền với sân hận.
BJT 646‘Mong sao những sanh mạng này bị giết, bị hành hạ, bị gánh chịu khổ đau,’ tôi không biết đến suy tư (như vậy) trong khoảng thời gian dài này.
BJT 647Và tôi biết về tâm từ vô lượng, đã khéo được tu tập, đã được tích lũy theo thứ lớp, giống như điều đã được thuyết giảng bởi đức Phật.
BJT 648Là bạn bè của tất cả, là bằng hữu của tất cả, là người có lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sinh, và tôi tu tập về tâm từ, luôn luôn vui thích trong việc không hãm hại.
BJT 649Tôi vui thích với tâm không bị loạn động, không bị lay động, tôi tu tập sự an trú của Phạm Thiên, không được thực hành bởi kẻ thấp thỏi.
BJT 650Đã chứng đạt vô tầm (nhị thiền), vị đệ tử của đấng Chánh Đẳng Giác tức thời có được trạng thái im lặng của bậc Thánh.
BJT 651Cũng giống như ngọn núi đá, không bị lay động, đã khéo được thiết lập, tương tự như vậy vị tỳ khưu, do sự cạn kiệt của si mê, không rung chuyển tựa như ngọn núi.
BJT 652Đối với người không có (đầu óc) nhơ bẩn, luôn tầm cầu sự tinh khiết, phần nhỏ bằng đầu cọng tóc của sự xấu xa được xem như là kích thước của đám mây.
BJT 653Giống như thành trì ở biên thùy được canh phòng bên trong lẫn bên ngoài, quý vị hãy gìn giữ bản thân như vậy, chớ để thời khắc của quý vị trôi qua.
BJT 654Tôi không vui thích sự chết, tôi không vui thích sự sống, và tôi chờ đợi thời điểm, giống như người làm thuê chờ đợi tiền công.
BJT 655Tôi không vui thích sự chết, tôi không vui thích sự sống, và tôi chờ đợi thời điểm, có sự nhận biết rõ, có niệm.
BJT 656Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành, vật mang nặng đã được đặt xuống, lối dẫn đến hiện hữu đã được xóa sạch.
BJT 657Vì mục đích nào mà tôi đã xuất gia, rời nhà sống không nhà, mục đích ấy của tôi, sự cạn kiệt tất cả các điều trói buộc, đã được thành tựu.
BJT 658Quý vị hãy nỗ lực với sự không xao lãng, điều này là lời chỉ dạy của tôi. Tốt lắm, tôi sẽ viên tịch Niết Bàn, tôi đã được giải thoát về mọi mặt.”
Đại đức trưởng lão Khadiravaniya Revata đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão Khadiravaniyarevata.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Verses of the Senior Monks 14.1
- The Book of the Fourteens
- Chapter One
Revata of the Acacia Wood
1. Kệ của Trưởng lão Revata ở rừng Khadira
“Yadā ahaṁ pabbajito, agārasmānagāriyaṁ; Nābhijānāmi saṅkappaṁ, anariyaṁ dosasaṁhitaṁ.
Since I’ve gone forth from the lay life to homelessness, I’ve not been aware of any thought that is ignoble and hateful.
“Từ khi tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; tôi không hề biết đến một tư duy nào, bất thiện, đi liền với sân hận.
‘Ime haññantu vajjhantu, dukkhaṁ pappontu pāṇino’; Saṅkappaṁ nābhijānāmi, imasmiṁ dīghamantare.
“May these beings be killed! May they be slaughtered! May they suffer!”—I’ve not been aware of any such thought in all this long while.
“‘Mong rằng các chúng sanh này bị giết hại, bị trói buộc, mong rằng họ gặp phải đau khổ’; trong suốt khoảng thời gian dài này, tôi không hề biết đến một tư duy như vậy.
Mettañca abhijānāmi, appamāṇaṁ subhāvitaṁ; Anupubbaṁ paricitaṁ, yathā buddhena desitaṁ.
I have been aware of loving-kindness, limitless and well-developed; gradually consolidated as it was taught by the Buddha.
“Và tôi biết đến tâm từ, vô lượng, được khéo tu tập; được thực hành tuần tự, như đã được đức Phật thuyết giảng.
Sabbamitto sabbasakho, sabbabhūtānukampako; Mettacittañca bhāvemi, abyāpajjarato sadā.
I’m friend and comrade to all, sympathetic for all beings! I develop a mind of love, always delighting in harmlessness.
“Là bạn của tất cả, là thân hữu của tất cả, là người thương xót tất cả chúng sanh; tôi tu tập tâm từ, và luôn luôn hoan hỷ trong sự vô sân.
Asaṁhīraṁ asaṅkuppaṁ, cittaṁ āmodayāmahaṁ; Brahmavihāraṁ bhāvemi, akāpurisasevitaṁ.
The unfaltering, the unshakable: I gladden that mind. I develop a divine meditation, which reprobates do not cultivate.
“Tôi làm cho tâm được hoan hỷ, không bị co rút, không bị lay động; tôi tu tập Phạm trú, điều không được kẻ hạ liệt thực hành.
Avitakkaṁ samāpanno, sammāsambuddhasāvako; Ariyena tuṇhībhāvena, upeto hoti tāvade.
When in a meditation free of placing the mind, a disciple of the Buddha is at that moment blessed with noble silence.
“Vị đệ tử của bậc Chánh Đẳng Giác, khi đã chứng đạt trạng thái không tầm, liền được trang bị với sự im lặng bậc Thánh.
Yathāpi pabbato selo, acalo suppatiṭṭhito; Evaṁ mohakkhayā bhikkhu, pabbatova na vedhati.
As a rocky mountain is unwavering and well grounded, so when delusion ends, a monk, like a mountain, doesn’t tremble.
“Ví như ngọn núi đá, vững chắc, được an lập; cũng vậy, do si mê đã được đoạn tận, vị Tỳ khưu không bị lay động, giống như ngọn núi.
Anaṅgaṇassa posassa, niccaṁ sucigavesino; Vālaggamattaṁ pāpassa, abbhamattaṁva khāyati.
To the man who has not a blemish, who is always seeking purity, even a hair-tip of evil seems as big as a stormcloud.
“Đối với người không uế nhiễm, người luôn tìm cầu sự trong sạch; một điều ác nhỏ bằng đầu sợi lông, cũng hiện ra lớn như một đám mây.
Nagaraṁ yathā paccantaṁ, guttaṁ santarabāhiraṁ; Evaṁ gopetha attānaṁ, khaṇo vo mā upaccagā.
As a frontier city is guarded inside and out, so you should ward yourselves—don’t let the moment pass you by.
“Ví như thành trì ở biên giới, được phòng hộ cả trong lẫn ngoài; cũng vậy, hãy phòng hộ tự thân, chớ để cho thời khắc (tốt) trôi qua.
Nābhinandāmi maraṇaṁ, nābhinandāmi jīvitaṁ; Kālañca paṭikaṅkhāmi, nibbisaṁ bhatako yathā.
I don’t long for death; I don’t long for life; I await my time, like a worker waiting for their wages.
“Tôi không hoan hỷ cái chết, tôi không hoan hỷ sự sống; và tôi trông chờ thời điểm, như người làm thuê chờ đợi tiền công.
Nābhinandāmi maraṇaṁ, … pe … sampajāno patissato.
I don’t long for death; I don’t long for life; I await my time, aware and mindful.
“Tôi không hoan hỷ cái chết… v.v… với tỉnh giác và chánh niệm.
Pariciṇṇo mayā satthā, kataṁ buddhassa sāsanaṁ; Ohito garuko bhāro, bhavanetti samūhatā.
I’ve served the Teacher and fulfilled the Buddha’s instructions. The heavy burden is laid down, the leash to existence is eradicated.
“Bậc Đạo Sư đã được tôi phụng sự, giáo pháp của đức Phật đã được thực hành; gánh nặng đã được đặt xuống, dây dẫn đến tái sanh đã được nhổ lên.
Yassa catthāya pabbajito, agārasmānagāriyaṁ; So me attho anuppatto, sabbasaṁyojanakkhayo.
I’ve attained the goal for the sake of which I went forth from the lay life to homelessness—the ending of all fetters.
“Vì mục đích nào tôi đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; mục đích ấy đã được tôi chứng đạt, đó là sự đoạn tận tất cả các kiết sử.
Sampādethappamādena, esā me anusāsanī; Handāhaṁ parinibbissaṁ, vippamuttomhi sabbadhī”ti.
Persist with diligence: this is my instruction. Come, I’ll be fully quenched—I’m liberated in every way.
“Hãy nỗ lực với sự không dể duôi, đây là lời giáo huấn của tôi; này, tôi sẽ nhập Vô Dư Niết Bàn, tôi đã được giải thoát khỏi tất cả.”
… Khadiravaniyarevato thero ….
… Trưởng lão Revata ở rừng Khadira….