Bản dịch
THA -ap99 — Ký Sự về Trưởng Lão Madhupiṇḍika
Madhupiṇḍikattheraapadāna
BJT 1588Tôi đã nhìn thấy bậc Ẩn Sĩ Siddhattha tối thượng, vị thọ nhận các vật hiến cúng ở trong khu rừng rậm mênh mông, ít tiếng động, không bị náo loạn.
BJT 1589Ngài là loài Long Tượng có trạng thái Niết Bàn, như là loài bò mộng thuần chủng, tợ như vì sao osadhī đang chiếu sáng, được hội chúng chư Thiên tôn kính. Niềm hạnh phúc của tôi đã được dâng trào, ngay lập tức trí tuệ đã được sanh lên cho tôi .
BJT 1590Sau khi dâng cúng mật ong đến bậc Đạo Sư vừa xuất khỏi thiền định, tôi đã đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư rồi ra đi, mặt hướng phía đông.
BJT 1591(Trước đây) ba mươi bốn kiếp, tôi đã là đức vua Sudassana, và ở bữa ăn ngay lập tức có mật ong cùng với các củ sen chảy ra, có cơn mưa mật ong đã đổ xuống; điều này là quả báu của nghiệp quá khứ..
BJT 1592Kể từ khi tôi đã cúng dường mật ong trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường mật ong.
BJT 1593Trước đây ba mươi bốn kiếp, bốn vị Sudassana ấy đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1594Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Madhupiṇḍikađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Madhupiṇḍika là phần thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Madhupiṇḍikattheraapadānaṃ
7. The Apadāna of the Elder Madhupiṇḍika
7. Thiên sử về trưởng lão Madhupiṇḍika
37.
37.
37.
‘‘Vipine † kānane disvā, appasadde nirākule;
Siddhatthaṃ isinaṃ seṭṭhaṃ, āhutīnaṃ paṭiggahaṃ.
Having seen in the great forest, the wilderness, a place of little sound and free from disturbance, Siddhattha, the foremost of seers, the worthy recipient of offerings,
“Sau khi nhìn thấy ngài Siddhattha ở trong rừng lớn, trong chốn hoang dã ít tiếng động, không bị khuấy nhiễu, là bậc Tối Thắng trong các vị ẩn sĩ, là người tiếp nhận các vật phẩm cúng dường.
38.
38.
38.
‘‘Nibbutattaṃ † mahānāgaṃ, nisabhājāniyaṃ yathā;
Osadhiṃva virocantaṃ, devasaṅghanamassitaṃ.
Him whose self is cooled, a great Nāga, like a thoroughbred bull; shining like the morning star, venerated by the assembly of gods.
“Bậc có tự thân đã được dập tắt (phiền não), bậc Đại Long, giống như con ngưu vương thuần chủng, tỏa sáng như sao mai, được hội chúng chư Thiên đảnh lễ.
39.
39.
39.
‘‘Vitti mamāhu tāvade †, ñāṇaṃ uppajji tāvade;
Vuṭṭhitassa samādhimhā, madhuṃ datvāna satthuno.
At that moment, joy arose in me; at that moment, knowledge arose. Having given honey to the Teacher who had arisen from concentration,
“Khi ấy, niềm hoan hỷ đã là của tôi, khi ấy, trí tuệ đã sanh khởi. Sau khi dâng tặng mật ong đến bậc Đạo Sư vừa xuất khỏi định.
40.
40.
40.
‘‘Vanditvā satthuno pāde, pakkāmiṃ pācināmukho;
Catuttiṃsamhi kappamhi, rājā āsiṃ sudassano.
Having venerated the Teacher's feet, I departed facing east. In the thirty-fourth aeon from now, I was a king named Sudassana.
“Sau khi đảnh lễ đôi chân của bậc Đạo Sư, tôi đã ra đi, mặt hướng về phương đông. Vào kiếp thứ ba mươi tư, tôi đã là vị vua tên Sudassana.
41.
41.
41.
‘‘Madhu bhisehi savati, bhojanamhi ca tāvade;
Madhuvassaṃ pavassittha, pubbakammassidaṃ phalaṃ.
At that time, honey flowed from lotus stalks, and at mealtime, a rain of honey fell. This is the fruit of a past deed.
“Khi ấy, mật ong tuôn chảy từ các ngó sen, và trong bữa ăn, mưa mật ong đã rơi xuống. Đây là quả báu của nghiệp quá khứ.
42.
42.
42.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ madhuṃ adadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, madhudānassidaṃ phalaṃ.
Because I gave that honey ninety-four aeons ago, I have not known a woeful state. This is the fruit of the gift of honey.
“Kể từ kiếp thứ chín mươi bốn tính từ đây, khi tôi đã dâng tặng mật ong vào lúc ấy, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc bố thí mật ong.
43.
43.
43.
‘‘Catuttiṃse ito kappe, cattāro te sudassanā;
Sattaratanasampannā, cakkavattī mahabbalā.
In the thirty-fourth aeon from now, there were four of those kings named Sudassana. Endowed with the seven treasures, they were mighty, wheel-turning monarchs.
“Vào kiếp thứ ba mươi tư tính từ đây, đã có bốn vị Chuyển Luân Vương tên là Sudassanā, các vị ấy có đại oai lực, được thành tựu bảy báu vật.
44.
44.
44.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized; the teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā madhupiṇḍiko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Madhupiṇḍika spoke these verses.
Đại đức trưởng lão Madhupiṇḍika đã nói những câu kệ này như vầy.
Madhupiṇḍikattherassāpadānaṃ sattamaṃ.
The Seventh Apadāna, that of the Elder Madhupiṇḍika, is concluded.
Thiên sử về trưởng lão Madhupiṇḍika là phần thứ bảy.