Bản dịch
THA -ap98 — Ký Sự về Trưởng Lão Tipupphiya
Tipupphiyattheraapadāna
BJT 1582Trước đây, tôi đã là thợ săn thú rừng ở khu rừng hoang rậm. Sau khi nhìn thấy cội câypāṭali có màu lục, tôi đã đặt xuống ba bông hoa.
BJT 15831584. Khi ấy, tôi đã ngắt các lá cây héo úa rồi ném ra bên ngoài. Sau khi đảnh lễ cội cây pāṭali tợ như (đang đảnh lễ) bậc Toàn Giác đấng Lãnh Đạo Thế Gian Vipassī là bậc trong sạch bên trong, trong sạch bên ngoài, đã khéo được giải thoát, không còn lậu hoặc đang ở trước mặt, tôi đã mệnh chung ở tại nơi ấy.
BJT 1585(Kể từ khi) tôi đã cúng dường cội Bồ Đề trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường cội cây Bồ Đề.
BJT 1586Trước đây ba mươi ba kiếp, mười ba vị vua tên Samantapāsādika đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1587Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Tipupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Tipupphiya là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Tipupphiyattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Tipupphiya
6. Thiên sử về trưởng lão Tipupphiya
31.
31.
31.
‘‘Migaluddo pure āsiṃ, araññe kānane ahaṃ †;
Pāṭaliṃ haritaṃ disvā, tīṇi pupphāni okiriṃ.
Formerly, I was a deer-hunter in the forest wilderness. Seeing a green Pāṭali tree, I scattered three of its flowers as an offering.
“Thuở trước, tôi đã là người thợ săn trong khu rừng, trong chốn hoang dã. Sau khi nhìn thấy cây Pāṭali màu xanh, tôi đã rải ba đóa hoa.
32.
32.
32.
‘‘Patitapattāni † gaṇhitvā, bahi chaḍḍesahaṃ tadā;
Antosuddhaṃ bahisuddhaṃ, suvimuttaṃ anāsavaṃ.
Gathering the fallen leaves, I then cast them away outside. He is pure within and pure without, well-liberated and free from taints.
“Khi ấy, sau khi nhặt lấy các lá cây đã rụng, tôi đã vứt bỏ ra bên ngoài. (Vị ấy) thanh tịnh bên trong, thanh tịnh bên ngoài, được giải thoát hoàn toàn, không còn lậu hoặc.
33.
33.
33.
‘‘Sammukhā viya sambuddhaṃ, vipassiṃ lokanāyakaṃ;
Pāṭaliṃ abhivādetvā, tattha kālaṅkato ahaṃ.
As if venerating the Fully Enlightened One, the World-Leader Vipassī, face to face, I paid homage to the Pāṭali tree, and there I passed away.
“Sau khi đã đảnh lễ cây Pāṭali giống như (đảnh lễ) trực tiếp bậc Chánh Đẳng Giác, đấng Vipassī, vị Lãnh Đạo thế gian, tôi đã mệnh chung tại nơi ấy.
34.
34.
34.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ bodhimabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, bodhipūjāyidaṃ phalaṃ.
Because I venerated that Bodhi tree ninety-one aeons ago, I have not known a woeful state. This is the fruit of venerating the Bodhi tree.
“Kể từ kiếp thứ chín mươi mốt tính từ đây, khi tôi đã cúng dường cây Bồ-đề ấy, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của việc cúng dường cây Bồ-đề.
35.
35.
35.
‘‘Samantapāsādikā nāma, terasāsiṃsu rājino;
Ito tettiṃsakappamhi †, cakkavattī mahabbalā.
In the thirty-third aeon from now, there were thirteen kings named Samantapāsādika; they were mighty, wheel-turning monarchs.
“Vào kiếp thứ ba mươi ba tính từ đây, đã có mười ba vị vua tên là Samantapāsādika, là các đấng Chuyển Luân Vương có đại oai lực.
36.
36.
36.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized; the teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ Phân Tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā tipupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Tipupphiya spoke these verses.
Đại đức trưởng lão Tipupphiya đã nói những câu kệ này như vầy.
Tipupphiyattherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The Sixth Apadāna, that of the Elder Tipupphiya, is concluded.
Thiên sử về trưởng lão Tipupphiya là phần thứ sáu.