Bản dịch
THA -ap95 — Ký Sự về Trưởng Lão Aḍḍhacelaka
3 Aḍḍhaceḷakattheraapadāna
BJT 1566Tôi bị lâm vào cảnh vô cùng khốn khổ và bị xâm nhập bởi mùi hôi thối. Tôi đã dâng cúng một nửa mảnh vải đến đức Thế Tôn Tissa.
BJT 1567Sau khi dâng cúng một nửa mảnh vải, tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp. Trong những kiếp còn lại, việc tốt lành đã được tôi cho thực hiện.
BJT 1568Kể từ khi tôi đã dâng cúng mảnh vải trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng mảnh vải.
BJT 1569(Trước đây) bốn mươi chín kiếp, ba mươi hai vị thống lãnh dân chúng tên Samantacchadana đã là các đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 1570Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Aḍḍhacelakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Aḍḍhaceḷakattheraapadānaṃ
3. The Apadāna of Aḍḍhaceḷaka Thera
3. Phẩm Thí dụ về Trưởng lão Aḍḍhaceḷaka
14.
14.
14.
‘‘Tissassāhaṃ bhagavato, upaḍḍhadussamadāsahaṃ;
Paramakāpaññapattomhi †, duggatena † samappito.
“I gave half a cloth to the Blessed One Tissa, having reached the utmost wretchedness, afflicted by poverty.
Tôi đã dâng cúng nửa tấm vải đến đức Thế Tôn Tissa. Tôi đã lâm vào cảnh cùng khổ tột bậc, bị khốn cùng áp bức.
15.
15.
15.
‘‘Upaḍḍhadussaṃ datvāna, kappaṃ saggamhi modahaṃ;
Avasesesu kappesu, kusalaṃ kāritaṃ mayā.
“Having given half a cloth, I rejoiced in heaven for an aeon; in the remaining aeons, meritorious deeds were done by me.
Sau khi đã dâng cúng nửa tấm vải, tôi đã hoan hỷ ở cõi trời trong một kiếp. Trong các kiếp còn lại, việc thiện đã được tôi thực hiện.
16.
16.
16.
‘‘Dvenavute ito kappe, yaṃ dussamadadiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, dussadānassidaṃ phalaṃ.
“Ninety-two aeons ago from now, when I gave that cloth, I have not known a woeful state; this is the fruit of the gift of cloth.
Kể từ chín mươi hai kiếp về trước, vào lúc ấy tôi đã dâng cúng tấm vải; tôi không hề biết đến ác thú. Đây là quả báu của việc dâng cúng tấm vải.
17.
17.
17.
‘‘Ekūnapaññāsakappamhi †, rājāno cakkavattino;
Samantacchadanā nāma, bāttiṃsāsuṃ † janādhipā.
“Forty-nine aeons ago, there were thirty-two wheel-turning monarchs named Samantacchadana, lords of men.
Trong kiếp thứ bốn mươi chín, đã có ba mươi hai vị vua, là các bậc Chuyển Luân vương, những người cai trị dân chúng, có tên là Samantacchadanā.
18.
18.
18.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges… the teaching of the Buddha has been done.”
Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... tôi đã thực hành giáo huấn của đức Phật.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā aḍḍhaceḷako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed, the Venerable Aḍḍhaceḷaka Thera spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Aḍḍhaceḷaka đã nói những câu kệ này.
Aḍḍhaceḷakattherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The Third Apadāna of Aḍḍhaceḷaka Thera.
Phẩm Thí dụ về Trưởng lão Aḍḍhaceḷaka là phẩm thứ ba.