Bản dịch
THA -ap93 — Ký Sự về Trưởng Lão Sudhāpiṇḍiya
Sudhāpiṇḍiyattheraapadāna
BJT 15531554. Đối với người đang cúng dường đến đối tượng xứng đáng sự cúng dường như là đức Phật hoặc là vị Thinh Văn đang vượt qua chướng ngại, hoặc đã vượt qua sầu muộn và than vãn, đối với người đang cúng dường đến các vị đã đạt Niết Bàn không còn hãi sợ như thế ấy thì không thể nào ước định được phước báu (của người ấy) là thế này hay thế kia, bằng bất cứ cách thức gì.
BJT 1555Ở đây người nào có thể được làm chúa tể thậm chí của cả bốn châu lục, điều ấy không giá trị bằng một phần mười sáu của một phần nhỏ của sự cúng dường.
BJT 1556Với tâm ý trong sạch, tôi đã dâng cúng vữa vôi ở chỗ khe nứt tại ngôi bảo tháp của bậc Tối Thượng Nhân Siddhattha.
BJT 1557Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây 94 kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tu bổ.
BJT 1558Trước đây ba mươi kiếp, (đã có) mười ba vị tên Paṭisaṅkhāra là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật.
BJT 1559Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sudhāpiṇḍiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sudhāpiṇḍiya là phần thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Sudhāpiṇḍiyattheraapadānaṃ
1. The Apadāna of Sudhāpiṇḍiya Thera
1. Thánh nhân ký sự của Trưởng lão Sudhāpiṇḍiya
1.
1.
1.
‘‘Pūjārahe pūjayato, buddhe yadi va sāvake;
Papañcasamatikkante, tiṇṇasokapariddave.
“Of one who venerates those worthy of veneration—whether Buddhas or their disciples—who have transcended conceptual proliferation and crossed over sorrow and lamentation;
Đối với người cúng dường đến các bậc đáng cúng dường, là các đức Phật hoặc các vị Thinh văn, là các bậc đã vượt qua các pháp hý luận, đã vượt qua sầu muộn và bi ai.
2.
2.
2.
‘‘Te tādise pūjayato, nibbute akutobhaye;
Na sakkā puññaṃ saṅkhātuṃ, imettamapi † kenaci.
“Of one who venerates such as these, who are extinguished and free from all fear, it is not possible for anyone to calculate the merit as being ‘this much’.
Đối với người cúng dường đến các bậc như thế, là các vị đã tịch tịnh, không còn sợ hãi từ bất cứ đâu, không một ai có thể tính được phước báu (của người ấy) là chừng này.
3.
3.
3.
‘‘Catunnamapi dīpānaṃ, issaraṃ yodha kāraye;
Ekissā pūjanāyetaṃ, kalaṃ nāgghati soḷasiṃ.
“Whoever were to exercise sovereignty over the four continents, that would not be worth a sixteenth part of a single act of veneration.
Người nào ở đây có thể thực hiện được quyền tối thượng trên cả bốn châu; (quyền tối thượng) ấy không bằng một phần mười sáu của một lần cúng dường.
4.
4.
4.
‘‘Siddhatthassa naraggassa, cetiye phalitantare;
Sudhāpiṇḍo mayā dinno, vippasannena cetasā.
“At the shrine of Siddhattha, foremost among men, I, with a perfectly clear mind, placed a lump of plaster in a crack.
Tại một chỗ nứt trong bảo tháp của đức Siddhattha, bậc tối thượng giữa loài người, một nắm vữa đã được tôi dâng cúng với tâm ý trong sạch.
5.
5.
5.
‘‘Catunnavutito kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, paṭisaṅkhārassidaṃ phalaṃ.
“Ninety-four aeons ago, when I performed that kamma, I have not known a woeful state; this is the fruit of that restoration.
Cách đây chín mươi bốn kiếp, khi ấy tôi đã thực hiện nghiệp nào; (kể từ đó) tôi không còn biết đến đọa xứ. Đây là quả của (việc) sửa chữa.
6.
6.
6.
‘‘Ito tiṃsatikappamhi, paṭisaṅkhārasavhayā;
Sattaratanasampannā, terasa cakkavattino.
“Thirty aeons ago from now, there were thirteen wheel-turning monarchs named Paṭisaṅkhāra, endowed with the seven treasures.
Cách đây ba mươi kiếp, đã có mười ba vị Chuyển Luân vương tên là Paṭisaṅkhāra, là các vị được trang bị đầy đủ bảy báu vật.
7.
7.
7.
‘‘Paṭisambhidā catasso, vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, these eight liberations, and the six supernormal knowledges have been realized; the teaching of the Buddha has been done.”
Bốn Tuệ phân tích, và tám giải thoát này, sáu thắng trí đã được chứng ngộ, giáo pháp của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā sudhāpiṇḍiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed, the Venerable Sudhāpiṇḍiya Thera spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Sudhāpiṇḍiya đã nói những câu kệ này.
Sudhāpiṇḍiyattherassāpadānaṃ paṭhamaṃ.
The First Apadāna of Sudhāpiṇḍiya Thera.
Thánh nhân ký sự của Trưởng lão Sudhāpiṇḍiya, phần thứ nhất.