Bản dịch
THA -ap88 — Ký Sự về Trưởng Lão Dutiyaraṃsisaññaka
6 Dutiyaraṁsisaññakattheraapadāna
BJT 1531Tôi là vị mặc y phục bằng vỏ cây ở núi Hi-mã-lạp. Và sau khi bước lên đường kinh hành tôi đã ngồi xuống, mặt hướng phía đông.
BJT 1532Tôi đã nhìn thấy đấng Thiện Thệ Phussa ở ngọn núi, khi ấy Ngài đang thỏa thích ở trong thiền. Tôi đã chắp tay lên và đã làm cho tâm được tịnh tín ở ánh hào quang.
BJT 1533Kể từ khi tôi đã đạt được sự suy tưởng ấy trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về hào quang.
BJT 1534Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Raṁsisaññaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Raṁsisaññaka là phần thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Dutiyaraṃsisaññakattheraapadānaṃ
6. The Apadāna of the Elder Raṃsisaññaka the Second
6. Ký sự về Trưởng lão Raṃsisaññaka thứ nhì
35.
35.
35.
‘‘Pabbate himavantamhi, vākacīradharo ahaṃ;
Caṅkamañca samārūḷho, nisīdiṃ pācināmukho.
“On Mount Himavanta, I was a wearer of bark-cloth robes. Having ascended the walking path, I sat facing east.”
Ở núi Hy-mã-lạp, tôi là người mặc y vỏ cây. Sau khi đi lên đường kinh hành, tôi đã ngồi xuống hướng mặt về phía đông.
36.
36.
36.
‘‘Pabbate sugataṃ disvā, phussaṃ jhānarataṃ tadā;
Añjaliṃ paggahetvāna, raṃsyā cittaṃ pasādayiṃ.
“At that time, on the mountain, having seen the Sugata Phussa delighting in jhāna, I raised my hands in reverence and made my mind serene in his radiance.”
Khi ấy, sau khi nhìn thấy đấng Thiện Thệ Phussa đang an vui trong thiền định ở trên núi, tôi đã chắp tay và làm cho tâm tịnh tín nơi hào quang của ngài.
37.
37.
37.
‘‘Dvenavute ito kappe, yaṃ saññamalabhiṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, raṃsisaññāyidaṃ phalaṃ.
“Ninety-two aeons ago from this one, at the time I obtained that perception of radiance, I have not since known a woeful state. This is the fruit of the perception of radiance.”
Kể từ kiếp thứ chín mươi hai tính từ kiếp này, khi tôi đã có được tưởng niệm ấy, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là kết quả của tưởng niệm về hào quang.
38.
38.
38.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal powers have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.”
Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā raṃsisaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Raṃsisaññaka recited these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Raṃsisaññaka đã nói những câu kệ này.
Dutiyaraṃsisaññakattherassāpadānaṃ chaṭṭhaṃ.
The sixth Apadāna of the Elder Raṃsisaññaka the Second is finished.
Ký sự về Trưởng lão Raṃsisaññaka thứ nhì, phần thứ sáu.