Bản dịch
THA -ap87 — Ký Sự về Trưởng Lão Raṃsisaññaka
Raṁsisaññakattheraapadāna
BJT 1526Trước đây, tôi đã tạo lập chỗ cư ngụ ở núi Hi-mã-lạp. Có y choàng là tấm da dê, tôi sống ở trong vùng đồi núi.
BJT 1527Tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, tợ như mặt trời có trăm tia ánh sáng, tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa, đi vào bên trong khu rừng.
BJT 1528Sau khi làm cho tâm được tịnh tín đối với hào quang của bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī, tôi đã chắp tay lên, ngồi chồm hổm, rồi đê đầu đảnh lễ.
BJT 1529Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về hào quang.
BJT 1530Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Raṁsisaññakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Raṁsisaññaka là phần thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Raṃsisaññakattheraapadānaṃ
5. The Apadāna of the Elder Raṃsisaññaka
5. Phẩm truyện Trưởng lão Raṃsisaññaka
30.
30.
30.
‘‘Pabbate himavantamhi, vāsaṃ kappesahaṃ pure;
Ajinuttaravāsohaṃ, vasāmi pabbatantare.
Formerly, I made my dwelling on the Himālaya mountain. Wearing an upper garment of black deerskin, I lived in a mountain pass.
Thuở xưa, tôi đã sống ở núi Hy-mã-lạp. Tôi mặc tấm da đen làm áo ngoài, tôi sống ở trong khe núi.
31.
31.
31.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇaṃ sambuddhaṃ, sataraṃsiṃva bhāṇumaṃ;
Vanantaragataṃ disvā, sālarājaṃva pupphitaṃ.
“Seeing the Fully Enlightened One of golden complexion, who had gone into the forest interior, like the radiant sun and like a royal sāla tree in full bloom,”
Sau khi nhìn thấy đấng Chánh Đẳng Giác có màu sắc vàng ròng, đi vào trong rừng, giống như mặt trời có trăm tia sáng, giống như cây sala chúa đang trổ hoa.
32.
32.
32.
‘‘Raṃsyā † cittaṃ pasādetvā, vipassissa mahesino;
Paggayha añjaliṃ vandiṃ, sirasā ukkuṭī † ahaṃ.
“Having made my mind serene at the radiance of the great seer Vipassī, I, while squatting, raised my joined hands and paid homage with my head.”
Sau khi làm cho tâm tịnh tín nơi hào quang của bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī, tôi đã ngồi chồm hổm, chắp tay cúi đầu đảnh lễ.
33.
33.
33.
‘‘Ekanavutito kappe, yaṃ kammamakariṃ tadā;
Duggatiṃ nābhijānāmi, raṃsisaññāyidaṃ phalaṃ.
“Ninety-one aeons ago from this one, I performed that wholesome deed. Since then, I have not known a woeful state; this is the fruit of the perception of his radiance.”
Kể từ kiếp thứ chín mươi mốt tính từ kiếp này, khi tôi đã thực hiện nghiệp ấy, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là kết quả của tưởng niệm về hào quang.
34.
34.
34.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
“The four analytical knowledges, the eight liberations, and the six supernormal powers have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.”
Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā raṃsisaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Raṃsisaññika recited these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Raṃsisaññaka đã nói những câu kệ này.
Raṃsisaññakattherassāpadānaṃ pañcamaṃ.
The fifth Apadāna of the Elder Raṃsisaññika is finished.
Ký sự về Trưởng lão Raṃsisaññaka, phần thứ năm.