Bản dịch
THA -ap86 — Ký Sự về Trưởng Lão Adhopupphiya
Adhopupphiyattheraapadāna
BJT 1518Vị tỳ khưu tên Abhibhū ấy có đại thần lực, có tam minh, là vị Thinh Văn hàng đầu của (đức Thế Tôn) Sikhī. Vị ấy đã đi đến núi Hi-mã-lạp.
BJT 1519Tôi cũng là vị ẩn sĩ sống ở khu ẩn cư xinh xắn tại núi Hi-mã-lạp, khi ấy tôi có năng lực trong các pháp vô lượng (tâm) và các thần thông.
BJT 1520Tợ như loài có cánh ở trên bầu trời, tôi đã định cư ở ngọn núi. Sau khi cầm lấy bông hoa adha, tôi đã đi đến ngọn núi.
BJT 1521Sau khi cầm lấy bảy bông hoa, tôi đã rải rắc ở trên đỉnh đầu. Và khi được vị anh hùng nhìn thấy, tôi đã ra đi mặt hướng phía đông.
BJT 1522Sau khi trở về khu ẩn cư, tôi đã đi đến chỗ trú ngụ. Tôi đã cầm lấy túi vật dụng và đã đi vào trong vùng đồi núi.
BJT 1523Con trăn có bộ dạng ghê rợn có sức mạnh khủng khiếp đã hành hạ tôi. Tôi đã nhớ lại việc làm trước đây và đã mệnh chung tại nơi ấy.
BJT 1524(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường bông hoa.
BJT 1525Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Adhopupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Adhopupphiyattheraapadānaṃ
4. The Apadāna of the Elder Adhopupphiya
4. Phẩm truyện Trưởng lão Adhopupphiya
22.
22.
22.
‘‘Abhibhū nāma so bhikkhu, sikhino aggasāvako;
Mahānubhāvo tevijjo, himavantaṃ upāgami.
That monk named Abhibhū, the chief disciple of Sikhī, of great power and possessing the three knowledges, came to the Himālaya.
Vị Tỳ khưu tên là Abhibhū, là vị Thượng thủ Thinh văn của đức Phật Sikhī, vị ấy có đại thần lực, có tam minh, đã đi đến núi Hy-mã-lạp.
23.
23.
23.
‘‘Ahampi himavantamhi, ramaṇīyassame isi;
Vasāmi appamaññāsu, iddhīsu ca tadā vasī.
I too, being a seer, dwelt in a delightful hermitage in the Himālaya. At that time, I was a master of the boundless states and the psychic powers.
Tôi cũng là vị ẩn sĩ ở tại núi Hy-mã-lạp, trong am thất khả ái. Khi ấy, tôi sống thuần thục trong các Vô lượng tâm và trong các thần thông.
24.
24.
24.
‘‘Pakkhijāto viyākāse, pabbataṃ adhivattayiṃ †;
Adhopupphaṃ gahetvāna, āgacchiṃ † pabbataṃ ahaṃ.
Like a bird in the sky, I flew over the mountain. Having taken a flower from below, I came up to the mountain.
Giống như loài chim ở hư không, tôi đã bay lượn trên ngọn núi. Sau khi đã hái đóa hoa ở bên dưới, tôi đã đi đến ngọn núi.
25.
25.
25.
‘‘Satta pupphāni gaṇhitvā, matthake okiriṃ ahaṃ;
Ālokite † ca vīrena, pakkāmiṃ pācināmukho.
Having taken seven flowers, I scattered them upon his head. And when I was seen by the hero, I departed facing east.
Sau khi đã lấy bảy đóa hoa, tôi đã rải lên trên đầu. Và trong khi được bậc Dũng cảm nhìn đến, tôi đã ra đi, mặt hướng về phương đông.
26.
26.
26.
‘‘Āvāsaṃ abhisambhosiṃ, patvāna assamaṃ ahaṃ;
Khāribhāraṃ gahetvāna, pāyāsiṃ † pabbatantaraṃ.
I reached my dwelling. Having arrived at the hermitage, I took up the ascetic's carrying-pole and went into the mountain range.
Tôi đã đi đến nơi ở, sau khi đến am thất, tôi đã lấy gánh hành trang và đã đi vào khoảng giữa các ngọn núi.
27.
27.
27.
‘‘Ajagaro maṃ pīḷesi, ghorarūpo mahabbalo;
Pubbakammaṃ saritvāna, tattha kālaṅkato ahaṃ.
A python of fearsome form and great strength crushed me. Remembering my previous deed, I passed away there.
Con trăn có hình thù ghê rợn, có đại oai lực đã xiết chặt tôi. Sau khi đã tưởng nhớ đến nghiệp quá khứ, tôi đã mệnh chung tại nơi ấy.
28.
28.
28.
‘‘Ekattiṃse ito kappe, yaṃ pupphamabhiropayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, pupphapūjāyidaṃ phalaṃ.
Thirty-one aeons from now, when I offered up that flower, I have not known any woeful state; this is the fruit of that flower offering.
Cách đây ba mươi mốt kiếp, tôi đã dâng cúng đóa hoa ấy. Tôi không hề biết đến đọa xứ. Đây là quả báu của việc cúng dường hoa.
29.
29.
29.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges... the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā adhopupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Adhopupphiya spoke these verses.
Như vậy, Đại đức Trưởng lão Adhopupphiya đã nói lên những câu kệ này.
Adhopupphiyattherassāpadānaṃ catutthaṃ.
The fourth Apadāna of the Elder Adhopupphiya is finished.
Phẩm truyện về Trưởng lão Adhopupphiya là phần thứ tư.