Bản dịch
THA -ap85 — Ký Sự về Trưởng Lão Nipannañjaliya
3 Nipannañjalikattheraapadāna
BJT 1512Ở trong khu rừng hoang rậm tôi đã đạt được tâm bi mẫn tối cao. Tôi đã ngồi xuống ở gốc cây, và tôi đã bị bệnh trầm trọng.
BJT 1513Vì lòng thương tưởng, bậc Đạo Sư Tissa đã đi đến bên tôi. Đang ở trạng thái nằm, tôi đây đã chắp tay lại ở đầu.
BJT 1514Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã đảnh lễ bậc Toàn Giác tối thượng của tất cả chúng sanh, và tôi đã mệnh chung ở tại nơi ấy.
BJT 1515(Kể từ khi) tôi đã đảnh lễ bậc Tối Thượng Nhân trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc đảnh lễ.
BJT 1516Trước đây vào kiếp thứ năm, đã có đúng năm vị (cùng tên) Mahāsikha, là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1517Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Nipannañliya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Nipannañjalikattheraapadānaṃ
3. The Apadāna of the Elder Nipannañjalika
3. Phẩm truyện Trưởng lão Nipannañjalika
16.
16.
16.
‘‘Rukkhamūle nisinnohaṃ, byādhito paramena ca;
Paramakāruññapattomhi, araññe kānane ahaṃ.
I was seated at the foot of a tree, afflicted by a severe illness. I had reached a state of extreme pitiableness, in the wilderness, in the forest.
Tôi đang ngồi ở gốc cây, bị bệnh tật hành hạ một cách tột cùng. Ở trong khu rừng, trong chốn hoang dã, tôi đã rơi vào tình cảnh vô cùng đáng thương.
17.
17.
17.
‘‘Anukampaṃ upādāya, tisso satthā upesi maṃ;
Sohaṃ nipannako santo, sire katvāna añjaliṃ.
Out of compassion for me, the Teacher Tissa approached. Lying down as I was, I placed my hands together in reverence upon my head.
Do bởi lòng bi mẫn, bậc Đạo Sư Tissa đã đi đến gần tôi. Tôi ấy, trong khi đang nằm, đã thực hiện việc chắp tay ở trên đầu.
18.
18.
18.
‘‘Pasannacitto sumano, sabbasattānamuttamaṃ;
Sambuddhaṃ abhivādetvā, tattha kālaṅkato ahaṃ.
With a serene and gladdened mind, having paid homage to the Fully Enlightened One, supreme among all beings, I passed away there.
Với tâm ý trong sạch, với tâm trạng vui mừng, sau khi đã đảnh lễ đấng Chánh Đẳng Giác là bậc tối thượng của tất cả chúng sanh, tôi đã mệnh chung tại nơi ấy.
19.
19.
19.
‘‘Dvenavute ito kappe, yaṃ vandiṃ purisuttamaṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, vandanāya idaṃ phalaṃ.
Ninety-two aeons from now, when I paid homage to that supreme person, I have not known any woeful state; this is the fruit of that homage.
Cách đây chín mươi hai kiếp, tôi đã đảnh lễ bậc Tối Thượng nhân. Tôi không hề biết đến đọa xứ. Đây là quả báu của việc đảnh lễ.
20.
20.
20.
‘‘Ito pañcamake kappe, pañcevāsuṃ mahāsikhā;
Sattaratanasampannā, cakkavattī mahabbalā.
In the fifth aeon from now, there were five named Mahāsikhā, endowed with the seven treasures, wheel-turning monarchs of great strength.
Cách đây vào kiếp thứ năm, đã có năm vị Chuyển Luân vương tên là Mahāsikhā, các vị ấy được thành tựu bảy báu vật và có đại oai lực.
21.
21.
21.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, these eight liberations, and the six direct knowledges have been realized; the Buddha’s teaching has been fulfilled.
Bốn Tuệ phân tích ... (v.v.) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
Itthaṃ sudaṃ āyasmā nipannañjaliko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus indeed the Venerable Elder Nipannañjalika spoke these verses.
Như vậy, Đại đức Trưởng lão Nipannañjalika đã nói lên những câu kệ này.
Nipannañjalikattherassāpadānaṃ tatiyaṃ.
The third Apadāna of the Elder Nipannañjalika is finished.
Phẩm truyện về Trưởng lão Nipannañjalika là phần thứ ba.