Bản dịch
THA -ap82 — Ký Sự về Trưởng Lão Tipadumiya
10 Tipadumiyattheraapadāna
BJT 1470Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara là bậc thông suốt về tất cả các pháp. Là bậc đã (tự mình) rèn luyện được tháp tùng bởi các vị đã được rèn luyện, đấng Chiến Thắng đã rời khỏi thành phố.
BJT 1471Lúc bấy giờ, ở thành phố Haṁsavatī tôi đã là người làm tràng hoa. Tại nơi ấy bông hoa nào là tuyệt hảo, tôi đã cầm lấy ba bông hoa (ấy).
BJT 1472Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, ở lối đi ngược lại tại khu phố chợ. Sau khi nhìn thấy bậc Toàn Giác, vào lúc ấy tôi đây đã suy nghĩ như vầy:
BJT 1473“Ta được gì với những bông hoa này khi ta đem chúng dâng đến đức vua? Ta có thể đạt được ngôi làng, hoặc cánh đồng làng, hoặc ngàn đồng tiền?
BJT 1474Đấng Bảo Hộ Thế Gian là vị Điều Phục những ai chưa được điều phục, là bậc Trí Tuệ, là nguồn đem lại sự an lạc cho tất cả chúng sanh, sau khi cúng dường Ngài ta sẽ đạt được tài sản Bất Tử.”
BJT 1475Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín. Khi ấy, tôi đã cầm ba đóa (hoa sen) màu đỏ và đã ném lên không trung.
BJT 1476Ngay khi vừa được tôi ném lên không trung, các bông hoa ấy đã xòe ra. Chúng duy trì tại nơi ấy ở trên đầu, có cuống hoa ở phía trên, miệng hoa ở phía dưới.
BJT 1477Sau khi nhìn thấy, bất cứ những ai thuộc loài người thì đã thốt lên tiếng hoan hô, chư Thiên ở trên không trung thì đã thể hiện hành động tán thán:
BJT 1478“Điều kỳ diệu đã xuất hiện ở thế gian nhờ vào tác động của đức Phật tối thượng. Tất cả chúng ta sẽ lắng nghe Giáo Pháp nhờ vào tác động của những bông hoa.”
BJT 1479Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đứng ở ngay tại đường lộ, đã nói lên những lời kệ này:
BJT 1480“Người thanh niên nào đã cúng dường đức Phật bằng ba đóa sen hồng, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 1481(Người này) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong một trăm ngàn kiếp, và sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi kiếp.
BJT 1482Ngay lập tức sẽ hiện ra cung điện tên Mahāvitthārika, có chiều dài ba trăm do-tuần, chiều rộng một trăm năm mươi do-tuần.
BJT 1483Và có bốn trăm ngàn tháp nhọn sẽ được hóa hiện ra, có các nhà mái nhọn cao quý, được đầy đủ các giường nằm rộng lớn.
BJT 1484Hàng trăm ngàn koṭi nàng tiên thiện xảo về điệu vũ và lời ca, lại còn được thuần thục về trình tấu nhạc cụ nữa, sẽ quây quần xung quanh.
BJT 1485(Người này) sẽ sống ở tại cung điện cao quý như thế ấy trong sự chộn rộn của đám nữ nhân, thường xuyên có cơn mưa bông hoa thuộc về cõi trời có màu đỏ.
BJT 1486Đồng thời sẽ có những bông hoa màu đỏ có kích thước bằng bánh xe treo lơ lửng ở chốt gắn tường bằng ngà voi ở bên ngoài cánh cửa, ở cổng chào.
BJT 1487Tại nơi ấy, bên trong cung điện cao quý được lót toàn bằng cánh hoa, (và các cánh hoa) sau khi được trải ra và phủ lên thì sẽ nhập chung với nhau ngay lập tức.
BJT 1488Các bông hoa màu đỏ tinh khiết ấy bao bọc xung quanh nơi cư ngụ một trăm do-tuần và tỏa ngát hương thơm cõi trời.
BJT 1489Và (người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi lăm lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 1490Sau khi thọ hưởng hai sự thành tựu, không có tai họa, không có sự nguy khốn, khi kiếp sống cuối cùng được đạt đến (người này) sẽ chạm đến Niết Bàn.”
BJT 1491Quả nhiên đức Phật đã được tôi nhìn thấy rõ ràng, thương vụ đã được kinh doanh khéo léo; sau khi cúng dường ba đóa hoa sen hồng, tôi đã thọ hưởng ba sự thành tựu.
BJT 1492Hôm nay, tôi là người đã đạt được Giáo Pháp, đã được giải thoát một cách trọn vẹn. Có bông sen đỏ khéo nở rộ sẽ được duy trì ở trên đầu của tôi.
BJT 1493Trong lúc bậc Đạo Sư Padumuttara đang thuyết giảng về việc làm của tôi, đã có sự chứng ngộ Giáo Pháp của hàng ngàn chúng sanh và sinh mạng.
BJT 1494(Kể từ khi) tôi đã cúng dường đức Phật trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của ba đóa sen hồng.
BJT 1495Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 1496Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Tipadumiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Phần Tóm Lược:
Vị trưởng lão có tràng hoa, vị có sự suy tưởng về dấu chân, vị có sự suy tưởng (về đức Phật), vị dâng cúng củ sen, vị suy tưởng về một phần (vật thực), vị dâng cúng cỏ, (vị dâng cúng) kim khâu, vị có các bông hoa pāṭali, vị đứng chắp tay, vị có ba đóa sen hồng; (tổng cộng) có bảy mươi lăm câu kệ.
Phẩm Nāgasamāla là phẩm thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2008. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Tipadumiyattheraapadānaṃ
10. The Apadāna of the Elder Tipadumiya
10. Phẩm truyện Trưởng lão Tipadumiya
48.
48.
48.
‘‘Padumuttaro nāma jino, sabbadhammāna pāragū;
Danto dantaparivuto, nagarā nikkhamī tadā.
The Victor named Padumuttara, who had gone to the far shore of all dhammas, being tamed and surrounded by the tamed, then went forth from the city.
“Đấng Chiến Thắng tên là Padumuttara, bậc đã đến bờ kia của tất cả các pháp, tự thân đã được điều phục, được các vị đã được điều phục vây quanh, vào lúc ấy đã đi ra khỏi thành.”
49.
49.
49.
‘‘Nagare haṃsavatiyaṃ, ahosiṃ māliko tadā;
Yaṃ tattha uttamaṃ toṇi, padmapupphāni † aggahiṃ.
In the city of Haṃsavatī, I was a florist at that time. From there I took three lotus flowers, which were the most excellent.
“Vào lúc ấy, ở thành Haṃsavatī, tôi là người làm vòng hoa. Ở đó, tôi đã lấy ba đóa hoa sen, là loại hoa cao quý nhất.”
50.
50.
50.
‘‘Addasaṃ virajaṃ buddhaṃ, paṭimaggantarāpaṇe;
Saha † disvāna sambuddhaṃ, evaṃ cintesahaṃ tadā.
I saw the stainless Buddha on the path in the market street. As soon as I saw the Sambuddha, I then thought thus:
“Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc vô trần, trên con đường giữa khu chợ. Vừa khi nhìn thấy đức Chánh Đẳng Giác, vào lúc ấy tôi đã suy nghĩ như vầy.”
51.
51.
51.
‘‘Kiṃ me imehi pupphehi, rañño upanitehi me;
Gāmaṃ vā gāmakhettaṃ vā, sahassaṃ vā labheyyahaṃ.
What use to me are these flowers, which are to be presented to the king? I might obtain a village, or a village field, or a thousand.
“Ta có ích gì với những bông hoa này, những bông hoa ta mang đến cho đức vua? Ta có thể nhận được một ngôi làng, hoặc một mảnh ruộng trong làng, hoặc một ngàn (đồng tiền).”
52.
52.
52.
‘‘Adantadamanaṃ vīraṃ, sabbasattasukhāvahaṃ;
Lokanāthaṃ pūjayitvā, lacchāmi amataṃ dhanaṃ.
Having worshipped the Tamer of the untamed, the Hero, the Bringer of happiness to all beings, the Protector of the World, I shall obtain the deathless treasure.
“Sau khi cúng dường đến bậc Lãnh đạo của thế gian, bậc Anh hùng điều phục những ai chưa được điều phục, bậc mang lại hạnh phúc cho tất cả chúng sanh, ta sẽ nhận được tài sản bất tử.”
53.
53.
53.
‘‘Evāhaṃ cintayitvāna, sakaṃ cittaṃ pasādayiṃ;
Tīṇi lohitake gayha, ākāse ukkhipiṃ tadā.
Having thought thus, I made my own mind serene. Taking three red lotuses, I then tossed them up into the sky.
“Sau khi suy nghĩ như vậy, tôi đã làm cho tâm mình trong sạch. Lấy ba đóa hoa sen đỏ, vào lúc ấy tôi đã tung lên không trung.”
54.
54.
54.
‘‘Mayā ukkhittamattamhi, ākāse patthariṃsu te;
Dhāriṃsu matthake tattha, uddhaṃvaṇṭā adhomukhā.
As soon as they were tossed up by me, they spread out in the sky. There they remained above his head, with stalks pointing up and flowers facing down.
“Ngay khi vừa được tôi tung lên, chúng đã trải ra trên không trung. Tại đó, chúng đã che trên đầu ngài, cuống hướng lên trên, mặt hoa hướng xuống dưới.”
55.
55.
55.
‘‘Ye keci manujā disvā, ukkuṭṭhiṃ sampavattayuṃ;
Devatā antalikkhamhi, sādhukāraṃ pavattayuṃ.
Whichever humans saw this, they raised a shout of acclamation. The devas in the sky gave cries of approval.
“Bất cứ người nào nhìn thấy đều cất tiếng reo hò. Chư Thiên ở trên không trung cũng cất tiếng tán dương ‘Lành thay’.”
56.
56.
56.
‘‘Accheraṃ loke uppannaṃ, buddhaseṭṭhassa vāhasā;
Sabbe dhammaṃ suṇissāma, pupphānaṃ vāhasā mayaṃ.
A marvel has arisen in the world through the power of the supreme Buddha. Through the power of the flowers, we shall all hear the Dhamma.
“Điều kỳ diệu đã khởi sanh trong thế gian, nhờ vào năng lực của bậc Tối Thắng Giác Ngộ. Nhờ vào năng lực của những đóa hoa, tất cả chúng ta sẽ được nghe Pháp.”
57.
57.
57.
‘‘Padumuttaro lokavidū, āhutīnaṃ paṭiggaho;
Vīthiyañhi ṭhito santo, imā gāthā abhāsatha.
Padumuttara, the Knower of the World, the Recipient of offerings, standing peacefully on the street, spoke these verses:
“Đức Padumuttara, bậc Thế Gian Giải, bậc đáng nhận vật cúng dường, đang đứng trên đường phố, đã nói những câu kệ này.”
58.
58.
58.
‘‘‘Yo so buddhaṃ apūjesi, rattapadmehi † māṇavo;
Tamahaṃ kittayissāmi, suṇātha mama bhāsato.
‘That young man who worshipped the Buddha with red lotuses, him I shall praise. Listen to my words as I speak.
“‘Chàng thanh niên nào đã cúng dường đức Phật bằng những đóa sen đỏ, Ta sẽ tán thán người ấy, hãy lắng nghe lời Ta nói.’”
59.
59.
59.
‘‘‘Tiṃsakappasahassāni, devaloke ramissati;
Tiṃsakappāni † devindo, devarajjaṃ karissati.
‘For thirty thousand aeons, he will rejoice in the heavenly realm; for thirty aeons, having become the lord of gods, he will exercise the sovereignty of the devas.
“‘Trong ba mươi ngàn kiếp, vị ấy sẽ hưởng lạc ở cõi trời. Trong ba mươi kiếp, vị ấy sẽ làm vua trời, trị vì vương quốc của chư thiên.’”
60.
60.
60.
‘‘‘Mahāvitthārikaṃ nāma, byamhaṃ hessati tāvade;
Tiyojanasatubbiddhaṃ, diyaḍḍhasatavitthataṃ.
‘At that time, a celestial mansion named ‘The Greatly Spacious’ will come to be; three hundred yojanas in height and one hundred and fifty yojanas in width.
“‘Vào lúc ấy, sẽ có một lâu đài tên là Mahāvitthārika, cao ba trăm do-tuần và rộng một trăm năm mươi do-tuần.’”
61.
61.
61.
‘‘‘Cattārisatasahassāni, niyyūhā ca sumāpitā;
Kūṭāgāravarūpetā, mahāsayanamaṇḍitā.
‘Four hundred thousand pinnacles will be well-constructed, endowed with excellent peaked chambers, and resplendent with great couches.
“‘Bốn trăm ngàn tháp canh cũng được tạo tác khéo léo, được trang bị những gian phòng có mái nhọn tuyệt hảo, được trang hoàng với những giường nằm lộng lẫy.’”
62.
62.
62.
‘‘‘Koṭisatasahassiyo, parivāressanti accharā;
Kusalā naccagītassa, vāditepi padakkhiṇā.
‘One hundred thousand crores of celestial nymphs will attend him, skilled in dance and song, and also dextrous with musical instruments.
“‘Một trăm ngàn ức tiên nữ sẽ hầu hạ, những vị khéo léo trong ca vũ, và cũng thành thạo trong việc chơi nhạc cụ.’”
63.
63.
63.
‘‘‘Etādise byamhavare, nārīgaṇasamākule;
Vassissati pupphavasso, dibbo † lohitako sadā.
‘In such a supreme celestial mansion, thronged with hosts of celestial women, a rain of divine red lotus flowers will always fall.
‘Trong tòa lâu đài tuyệt vời như thế, đông đúc các nhóm thiên nữ; mưa hoa trời, màu đỏ thẫm, sẽ luôn luôn tuôn xuống.
64.
64.
64.
‘‘‘Bhittikhīle nāgadante, dvārabāhāya toraṇe;
Cakkamattā lohitakā, olambissanti tāvade.
‘On wall-pegs and elephant-tusk brackets, on door-posts and gateways, red lotuses the size of wheels will hang down at that time.
‘Khi ấy, ở trên các cọc tường, trên các ngà voi, trên các thanh cửa, trên các cổng chào, các hoa sen đỏ thẫm có kích thước bằng bánh xe sẽ treo lơ lửng.
65.
65.
65.
‘‘‘Pattena pattasañchanne, antobyamhavare imaṃ;
Attharitvā pārupitvā, tuvaṭṭissanti tāvade.
‘Within that supreme celestial mansion, those beings, lying in lotuses covered petal upon petal, will spread these flowers as a sheet and use them as a blanket, and thus they will lie down to rest.
‘Khi ấy, ở bên trong tòa lâu đài tuyệt vời, (các vị ấy) sẽ nằm nghỉ, sau khi đã trải ra và đắp lên (mình) đóa hoa này có cánh hoa được bao phủ bởi cánh hoa.
66.
66.
66.
‘‘‘Bhavanaṃ parivāretvā, samantā satayojane;
Tepi padmā † lohitakā, dibbagandhaṃ pavāyare.
‘Those red lotuses, surrounding the mansion for a hundred yojanas on every side, will also waft a divine fragrance.
‘Và những đóa hoa sen đỏ thẫm ấy, sau khi đã bao quanh tòa lâu đài, sẽ tỏa hương thơm của chư Thiên khắp bốn phía trong khoảng một trăm do-tuần.
67.
67.
67.
‘‘‘Pañcasattatikkhattuñca, cakkavattī bhavissati;
Padesarajjaṃ vipulaṃ, gaṇanāto asaṅkhiyaṃ.
‘Seventy-five times he will be a wheel-turning monarch; his regional kingship will be vast, incalculable by number.
‘Và bảy mươi lăm lần, (ngươi) sẽ là vị Chuyển Luân Vương; (còn) vương quyền ở các địa phương rộng lớn thì không thể đếm được về số lượng.
68.
68.
68.
‘‘‘Sampattiyo duve bhutvā, anīti anupaddavo;
Sampatte pariyosāne, nibbānaṃ pāpuṇissati’ †.
‘Having enjoyed the two kinds of success, free from calamity and disaster, when his final existence is reached, he will attain Nibbāna.’
‘Sau khi đã hưởng thụ hai loại tài sản, không có tai ương, không có hoạn nạn, khi đã đạt đến sự chấm dứt cuối cùng, (ngươi) sẽ chứng đạt Nibbāna.’
69.
69.
69.
‘‘Sudiṭṭho vata me buddho, vāṇijjaṃ supayojitaṃ;
Padmāni tīṇi pūjetvā, anubhosiṃ tisampadā †.
Truly, the Buddha was well seen by me; my commerce was well-employed. Having offered three lotuses, I have experienced the three successes.
“Quả thật, đức Phật đã được tôi nhìn thấy rõ ràng, việc kinh doanh đã được thực hiện tốt đẹp. Sau khi đã cúng dường ba đóa hoa sen, tôi đã hưởng thụ ba loại tài sản.”
70.
70.
70.
‘‘Ajja me dhammappattassa, vippamuttassa sabbaso;
Supupphitaṃ lohitakaṃ, dhārayissati matthake.
Today, for me who has attained the Dhamma and is completely liberated in every way, a fully bloomed red lotus will be held upon my head.
“Hôm nay, đối với tôi là người đã chứng đạt Giáo pháp, đã được giải thoát hoàn toàn, đóa hoa đỏ thẫm nở rộ sẽ được mang ở trên đầu.”
71.
71.
71.
‘‘Mama kammaṃ kathentassa, padumuttarasatthuno;
Satapāṇasahassānaṃ, dhammābhisamayo ahu.
While the Teacher Padumuttara was relating my kamma, there was an awakening to the Dhamma for a hundred thousand living beings.
“Trong khi bậc Đạo Sư Padumuttara đang nói về nghiệp của tôi, sự thấu triệt Giáo pháp đã xảy ra cho một trăm ngàn chúng sanh.”
72.
72.
72.
‘‘Satasahassito kappe, yaṃ buddhamabhipūjayiṃ;
Duggatiṃ nābhijānāmi, tipadumānidaṃ phalaṃ.
One hundred thousand aeons ago, I revered that Buddha; since then, I have not known a woeful state. This is the fruit of the three lotuses.
“Cách đây một trăm ngàn đại kiếp, khi tôi đã cúng dường đến đức Phật, tôi không còn biết đến khổ cảnh. Đây là quả báu của ba đóa hoa sen.”
73.
73.
73.
‘‘Kilesā jhāpitā mayhaṃ, bhavā sabbe samūhatā;
Sabbāsavā parikkhīṇā, natthi dāni punabbhavo.
My defilements are burned; all states of existence are uprooted. All the taints are destroyed; now there is no further becoming.
“Các phiền não của tôi đã được đốt sạch, tất cả các hữu đã được nhổ lên, tất cả các lậu hoặc đã được tận trừ, nay không còn tái sanh nữa.”
74.
74.
74.
‘‘Paṭisambhidā catasso…pe… kataṃ buddhassa sāsanaṃ’’.
The four analytical knowledges, and these eight liberations, and the six supernormal powers have been realized. The teaching of the Buddha has been fulfilled.
“Bốn Tuệ phân tích ... (v.v) ... lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
Itthaṃ sudaṃ āyasmā tipadumiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Thus, indeed, the Venerable Elder Tipadumiya spoke these verses.
Như vậy, quả thật Trưởng lão Tipadumiya đã nói những câu kệ này.
Tipadumiyattherassāpadānaṃ dasamaṃ.
The tenth Apadāna of the Elder Tipadumiya is concluded.
Thiên Thí dụ về Trưởng lão Tipadumiya là thứ mười.
The eighth chapter, the Nāgasamālavagga, is concluded.
Phẩm Nāgasamāla là thứ tám.
Tassuddānaṃ –
The summary thereof:
Phần tóm lược của phẩm ấy:
Nāgasamālo padasaññī, saññakāluvadāyako;
Ekasaññī tiṇasanthāro, sūcipāṭalipupphiyo;
Ṭhitañjalī tipadumī, gāthāyo pañcasattati.
Nāgasamāla, Padasaññī, Saññaka, Āluvadāyaka, Ekasaññī, Tiṇasanthāraka, Sūci, Pāṭalipupphiya, Ṭhitañjalī, and Tipadumī; the verses are seventy-five.
Nāgasamāla, Padasaññī, Saññaka, Āluvadāyaka, Ekasaññī, Tiṇasanthāra, Sūci, Pāṭalipupphiya, Ṭhitañjalī, Tipadumī. Các câu kệ là bảy mươi lăm.